Hội Kiến trúc sư Việt Nam | Tạp chí Kiến trúc

Thursday
Jul 24th
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Trang chủ Chuyên mục KT & Nông thôn Sự biến đổi không gian kiến trúc nhà ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ dưới tác động đô thị hóa

Sự biến đổi không gian kiến trúc nhà ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ dưới tác động đô thị hóa

Email In PDF.
Sự biến đổi không gian trong ngôi nhà ở nông thôn (NONT) vùng đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) diễn ra theo quy luật tất yếu dưới tác động của đô thị hóa và quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Trước đây, làm nông nghiệp là nghề chính của người nông dân nên không gian NONT gồm nhà chính, nhà phụ có sân rộng để phơi nông sản cũng như làm các nghề phụ, xung quanh có vườn rau, vườn cây ăn quả, ao nuôi cá, chuồng trại chăn nuôi gia súc. Ngày nay, dân số nông thôn đã tăng lên nhiều, trong khi diện tích đất trồng trọt lại giảm do dành quỹ đất cho phát triển khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ, nông dân chuyển sang làm các nghề khác như dịch vụ công nghiệp, nghề thủ công, công nhân các khu công nghiệp... Do đó, không gian NONT truyền thống đã biến đổi để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của chủ nhà: NONT nhiều nơi bổ sung chỗ để xe ô tô, không gian kinh doanh buôn bán và giới thiệu sản phẩm, không gian sản xuất thủ công và kho tàng với quy mô lớn hơn. Không gian trước đây dành làm sân phơi, vườn cây, ao cá, chuồng trại chăn nuôi… nay đã chuyển đổi sang nhà xưởng sản xuất thủ công; cổng, hàng rào dâm bụt đã được thay thế bằng không gian dịch vụ bán hàng bám sát mép đường làng; ngôi nhà năm gian mái dốc truyền thống được chia cắt ra thành các nhà hộp bê tông cao 3 tầng giống như nhà đô thị… Tất cả đã mang lại cho bộ mặt kiến trúc NONT một diện mạo mới, hiện đại hơn nhưng lại thiếu nét bản sắc văn hóa kiến trúc nông thôn, không phù hợp với điều kiện khí hậu và phá vỡ môi trường thiên nhiên bền vững vốn có của vùng ĐBBB xưa. 
 
 Cơ sở khoa học của việc biến đổi không gian NONT
Tác động của đô thị hóa: Đô thị hóa - ngoài những ảnh hưởng tích cực như thúc đẩy nền kinh tế - xã hội, tạo đà cho CNH-HĐH đất nước... cũng đã xuất hiện những tác động tiêu cực đến đời sống nông thôn về văn hóa, lối sống, nhận thức, về nhà ở, việc làm và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của người dân. Với ảnh hưởng đô thị hóa, đường làng, ngõ xóm trở thành đường phố, người nông dân trở thành dân cư đô thị, trong khi họ chưa có kiến thức gì về lối sống và văn minh đô thị, người dân không còn đất nông nghiệp sẽ chuyển sang tìm kiếm các công việc khác như làm thuê trên thành phố, làm dịch vụ buôn bán, sản xuất thủ công nghiệp và một phần thất nghiệp. Do không có trình độ quản lý và kỹ thuật nên nông nghiệp vẫn lạc hậu, manh mún, nhỏ lẻ kiểu tiểu nông. Việc sao chép nhà ở chia lô, nhà hộp bê tông trên đô thị mang về xây dựng tại nông thôn đang tràn lan như một căn bệnh cố hữu của nông dân là thích cái lạ, cái mới nhưng không biết lựa chọn cho phù hợp với cơ cấu sản xuất kinh tế của gia đình cũng như môi trường ở nông thôn. Xu hướng xây nhà bám mặt đường làng đang được người dân và cả các cấp chính quyền địa phương tận dụng triệt để, bất kể những không gian NONT thế hệ mới đó có phù hợp với điều kiện sản xuất thuần nông hay không? Như vậy, cần phải nghiên cứu những ưu điểm của đô thị hóa để phát triển nông thôn, đồng thời giảm bớt tác động tiêu cực, nhằm góp phần gìn giữ kiến trúc truyền thống của nông thôn vùng ĐBBB. 
 
Phát triển công nghiệp hóa: Công nghiệp là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBBB, đồng thời còn “tạo thị” - làm cơ sở để hình thành nên các khu dân cư mới - khu dân cư công nghiệp. Theo quy định, việc lựa chọn vị trí xây dựng khu công nghiệp phải trên cơ sở phát triển kinh tế vùng; tận dụng các khu đất phong hóa, cằn cỗi, bán sơn địa để xây dựng khu công nghiệp. Nhưng thực tiễn cho thấy: hiện nay các khu công nghiệp đang sử dụng phần lớn đất sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, trước khi đền bù đất nông nghiệp, các doanh nghiệp đều cam đoan sẽ ưu tiên lao động là con em nông dân đã mất đất canh tác, được làm công nhân tại các khu công nghiệp nhưng thực chất thì con em nông dân lại thất nghiệp vì trình độ lao động của họ rất thấp.
 Những tác động bởi công nghiệp hóa đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến không gian NONT vùng ĐBBB. Vì thế, cần phải giải quyết vấn đề an sinh xã hội, nâng cao trình độ lao động công nghiệp cho người nông dân, cũng như xây dựng mô hình NONT mới phù hợp với tiến trình CNH - HĐH.
 
Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất: Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất xảy ra do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa làm thay đổi căn bản không gian NONT. Với nền sản xuất thuần nông, NONT truyền thống tự hình thành nên các chức năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp và phát triển kinh tế vườn - ao - chuồng. Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn làm xuất hiện nhiều loại hình phát triển kinh tế gia đình như: gia đình thuần nông, chuyên làm nông nghiệp; gia đình làm nghề thủ công, chuyên sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề, hay làm nghề phụ kết hợp với sản xuất nông nghiệp; gia đình làm kinh tế trang trại như chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản, trồng cây cảnh, cây ăn quả, trồng rừng...; gia đình làm dịch vụ buôn bán các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và kinh doanh khác và nhóm gia đình làm công nhân trong các khu công nghiệp. Như vậy, mặc dù nhóm gia đình chuyên canh nông nghiệp ở nông thôn vẫn chiếm đa số nhưng các loại hình kinh tế khác cũng đã xuất hiện theo quy luật phát triển trong nền kinh tế thị trường. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu cơ sở chuyển đổi cơ cấu sản xuất, điều tra thực tế tỷ lệ hộ gia đình tham gia các loại hình kinh tế và giải pháp tổ chức không gian của chúng để đề xuất các loại hình NONT, mới nhằm đáp ứng nhu cầu của các hộ gia đình nông thôn vùng ĐBBB.
 
Cơ sở về thay đổi cấu trúc gia đình: Nghiên cứu các đặc điểm về thay đổi cấu trúc gia đình nông thôn để từ đó đề ra các giải pháp tổ chức không gian NONT, thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu đa dạng của các loại gia đình khác nhau. Chúng ta cần quan tâm đến số lượng thành viên, lứa tuổi, mối quan hệ huyết thống, nghề nghiệp của từng thành viên và các thế hệ cùng sinh sống trong gia đình. Đặc biệt, cần quan tâm đến quá trình biến đổi cấu trúc gia đình truyền thống nhằm thiết kế không gian nhà ở cho phù hợp. 
 
Nhân khẩu gia đình nông thôn truyền thống thường có quy mô lớn, từ ba đến bốn thế hệ “tam đại, tứ đại đồng đường” cùng sinh sống trong ngôi nhà (bình quân từ 7-8 người). Ngày nay, những gia đình có số nhân khẩu lớn ngày càng giảm, số gia đình trung bình từ 4-6 người đang chiếm số đông và xu hướng số nhân khẩu trong gia đình nông thôn ngày càng nhỏ hơn nữa. Tương lai ở nông thôn cũng giống như mô hình gia đình thành thị, chủ yếu là loại gia đình có số nhân khẩu từ 3-4 người (gia đình hạt nhân hai thế hệ). Như vậy, sự thay đổi quy mô nhân khẩu gia đình vùng nông thôn ĐBBB, cho thấy việc đòi hỏi về quỹ đất đai dành cho xây dựng nhà ở ngày càng lớn, trong khi diện tích đất ở nông thôn ngày càng bị thu hẹp. Do đó, cần nghiên cứu cơ sở cấu trúc nhân khẩu gia đình để đề ra những giải pháp tổ chức không gian cũng như diện tích đất ở cho phù hợp với quy mô nhân khẩu mỗi loại gia đình nông thôn, tránh xây dựng thừa hoặc thiếu. 
 
Cơ sở về mức thu nhập: Mức sống bình quân hiện nay của nông dân đã cao hơn trước, thu nhập từ nhiều nghề như: trang trại gia đình; chăn nuôi; buôn bán dịch vụ nông nghiệp; làm nghề phụ; làm nghề thủ công; làm công nhân các khu công nghiệp hay họ mở các công ty kinh doanh buôn bán nông thổ sản. Ngoài ra, nhiều nông dân giàu lên nhờ vào việc bán bớt đi một phần đất trong diện tích đất ở của gia đình, hoặc do được đền bù đất nông nghiệp để mở đường giao thông, xây khu đô thị hoặc khu công nghiệp. Trong số các nghề nêu trên, người nông dân sống chuyên canh nông nghiệp, không làm thêm các nghề phụ là những người có thu nhập thấp nhất, họ là người nghèo nông thôn. Tuy nhiên, một số người sau khi tiêu hết nhanh chóng số tiền được đền bù đất đai một cách không có kế hoạch, lại trở thành người nghèo khó, vì họ không còn đất để canh tác nữa. 
 
Nhìn chung, đại bộ phận dân cư nông thôn đã tự vươn lên làm giàu từ chính mảnh đất quê hương của họ. Nhà nước đã có nhiều chính sách giúp cho  người nông dân thoát nghèo bằng cách cho vay vốn ưu đãi thông qua Hội Phụ nữ, Hội Nông dân tập thể, tín dụng tại các địa phương... nhằm giúp cho nông dân có vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi và làm nghề phụ. Do mức sống của nông thôn đã cao hơn trước đây, nên nhu cầu về xây dựng nhà ở, đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ cho cuộc sống cũng được người dân quan tâm hơn. Việc phá bỏ các ngôi nhà truyền thống được cho là không hiện đại để xây dựng các ngôi nhà hộp bê tông giống thành thị đang là mong muốn của người dân nông thôn vùng ĐBBB.
 
Nhu cầu sử dụng trang thiết bị hiện đại: Nhu cầu của con người bao giờ cũng phát triển theo xu hướng tiến bộ của xã hội. Do đó, việc người dân nông thôn vùng ĐBBB muốn có cuộc sống tiện nghi, hiện đại hơn là điều dễ hiểu. Trước đây, khi chưa phát triển hệ thống tưới tiêu, hệ thống điện lưới, nông cụ sản xuất hiện đại, cuộc sống của nông dân phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên và sức lực của họ. Họ thường dùng sức người để lao động sản xuất, làm ra của cải vật chất và sử dụng thiên nhiên một cách sáng tạo để phục vụ con người. Họ sáng tạo trong xây dựng nhà ở, sử dụng các loại vật liệu, cây xanh, mặt nước, các giải pháp kiến trúc để tận dụng năng lượng gió làm mát cho không gian ở, sử dụng năng lượng nước để giúp cho sản xuất và làm các công việc khác thay cho sức lao động. 
 
Ngày nay, người nông dân cần có ngôi nhà với các không gian ở tiện nghi, khép kín, tăng tính tự do cá nhân. Đường giao thông trước đây chỉ dành cho đi bộ và xe thô sơ, nay không thể đáp ứng được các loại phương tiện vận chuyển như xe con, xe tải. Vì thế việc mở rộng đường hoặc mua nhà ở ra nơi có các đường làng to rộng hơn là nhu cầu cần thiết. Khi thiết kế NONT, phải quan tâm đến tổ chức không gian nội thất cho phù hợp với các trang thiết bị hiện đại như bàn ghế, gường tủ, thiết bị nghe nhìn, dàn âm thanh, ti vi, điều hòa, không gian thư giãn, thiết bị bếp nấu, trang thiết bị vệ sinh, bồn tắm..., đồng thời cũng phải lưu ý đến không gian và hình thức kiến trúc phù hợp với phong tục tập quán, lối sống, văn hóa nông thôn, và nhất thiết là phù hợp với trình độ sản xuất của mỗi loại hình phát triển kinh tế hộ gia đình. 
 
Nhu cầu về xây dựng nhà ở: Nhu cầu xây dựng NONT vùng ĐBBB được thể hiện thông qua các yếu tố sau: xây nhà ở mới do dựng vợ gả chồng cho con lớn ra lập gia đình riêng; do điều kiện làm kinh tế gia đình như buôn bán, kinh doanh, làm nghề thủ công cần ra mặt đường làng để thuận lợi cho giao dịch và vận chuyển hàng hóa; cũng có gia đình vẫn giữ ngôi nhà truyền thống ở trong làng nhưng mua thêm đất để xây dựng nhà ở kết hợp với kinh doanh buôn bán tại các trung tâm thị tứ…
 
Nhìn chung, nhu cầu xây dựng phát triển NONT là tất yếu, cần phải chấp nhận và định hướng cho phù hợp, tránh hiện tượng để NONT phát triển tự phát như hiện nay. Cần phải có hoạch định chính sách đất đai, quy hoạch định hướng tổng thể không gian kiến trúc làng xã lâu dài. Do đó, việc xây dựng phát triển NONT nên được quan tâm từ bước quy hoạch, thiết kế kiến trúc và lựa chọn giải pháp vật liệu, giải pháp thi công sao cho NONT vừa hiện đại vừa tiện nghi lại không quá xa rời không gian truyền thống là cần thiết và có ý nghĩa.
 
Kết luận 
Việc nghiên cứu xây dựng NONT vùng ĐBBB theo hướng phát triển lâu dài là việc làm cần thiết, nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa kiến trúc NONT truyền thống, tránh việc xây dựng tùy tiện như hiện nay, phá vỡ cấu trúc bền vững của môi trường sống nông thôn. 
Các cấp, các ngành cần phải đi trước một bước trong việc thiết kế quy hoạch, tổ chức không gian kiến trúc và xây dựng các loại hình NONT mới sao cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội nông dân, nông thôn, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong tiến trình CNH - HĐH nông thôn. 
 
Cần quan tâm nghiên cứu các cơ sở khoa học nội tại có liên quan đến quá trình biến đổi không gian NONT nhằm giúp cho việc xây dựng NONT đạt được hiệu quả cao, tránh hiện tượng buông lỏng làm cho việc xây dựng NONT méo mó, sao chép tùy tiện, ảnh hưởng đến thẩm mỹ cảnh quan nông thôn và đánh mất đi hình ảnh kiến trúc ngôi NONT truyền thống vùng ĐBBB có từ ngàn đời nay. 
 
TS.KTS Nguyễn Đình Thi
Trường Đại học Xây dựng