Làng Mộc Kim Bồng và Phong cách dựng Nhà Rường ở Quảng Nam

Ai đã từng đến thăm Khu phố cổ Hội An với những kiến trúc bằng gỗ: chùa, đình, miếu, hội quán, những ngôi nhà xưa… đậm linh hồn của phố cổ đã tồn tại hàng trăm năm. Đi về vùng nông thôn xứ Quảng, thỉnh thoảng bắt gặp những ngôi nhà rường, tất cả những kiến trúc ấy đã được góp dựng nên bởi hai làng thợ mộc nổi tiếng ngày xưa: làng Kim Bồng và Văn Hà. Trong bài viết này, xin được giới thiệu về làng mộc Kim Bồn và phong cách dựng nhà rường ở Quảng Nam.

Làng mộc Kim Bồng (tên cũ là Kim Bồng Châu) thuộc xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, nằm ở hữu ngạn – hạ lưu sông Thu Bồn chảy qua phố cổ  Hội An. Tổ tiên nghề mộc Kim Bồng vốn có gốc gác từ nhiều vùng quê thuộc đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh đã di cư đến Hội An sinh sống từ thế kỷ XV. Làng gồm 8 họ chính: Huỳnh, Nguyễn, Phan, Trương, Phạm, Trần, Lê, Đỗ. Với nghề mộc chính, làng chia ra Kim Bồng Đông làm đồ gia dụng, chạm trổ đồ gỗ và Kim Bồng Tây đóng ghe thuyền.
    Khi Hội An phát triển thành thương cảng quan trọng của xứ Đàng Trong, cùng với việc xây dựng cung điện của triều Nguyễn, các nghề thủ công, trong đó nghề mộc được phát triển nhờ sự giao lưu, tiếp thu, trao đổi, chắt lọc để hình thành phong cách riêng của nghề mộc Kim Bồng.

    A. Phong cách làm khung nhà (bộ giàn trò):
    Với nguyên lý “vật liệu thế nào thì kiến trúc thế ấy”, người thợ mộc Kim Bồng đã khéo phát huy tính ưu việt của chất liệu gỗ để thiết kế và chọn các giải pháp kỹ thuật liên kết các cấu kiện trong bộ khung nhà (giàn trò):
1. Cột: Ưu điểm của gỗ Lim, Kiền kiền, Sơn, Muông là có chiều dài lớn, nên nhà của thợ Kim Bồng có cột cao, kéo theo nhà có chiều cao lớn. Nếu so chiều cao nhà (từ nền nhà đến đòn đông) với đường kính của cột thì dáng cột thanh nhỏ).
2. Đế đá kê cột hay chân đá  tán /đá tảng: Nhiều kiểu dáng như hình vuông, hình cầu, bát giác, lục giác, quả bí có nhiều tầng… được chế tác từ hai loại đá: Cẩm thạch và Sa thạch.
3. Kèo luôn (kèo suốt): Để nối liên tục các cột theo hàng ngang từ nóc xuống cột cuối cùng (cột hàng ba, cột muốn) bằng cột thanh kèo dài và dĩ nhiên loại gỗ có đủ chiều dài, thường là Lim, Kiền kiền hoặc Sơn.
4. Kèo chồng (kẻ chuyền): với vật liệu gỗ là mít, không dài nên phải phân đoạn để nối các hàng ngang với kỹ thuật: đầu kèo nhì gối lên đuôi kèo nhất. Nếu trong lòng nhà được nối hai đoạn (tiền hoặc hậu) gọi là lưỡng đoạn; được nối ba đoạn gọi là tam đoạn.
5. Kèo nóc đơn giản: Trong ý nghĩa của không gian, vị trí làm nhà ở nông thôn (vùng hay bị lũ lụt), việc nâng khung đỡ nóc mái nhà của người thợ Kim Bồng đơn giản với hai kiểu thức:
– Giao nguyên không có cột chống (cây trỏng) hay trụ trốn – trụ tiêu.
    Ở vị trí đỡ đòn đông gồm có hai kèo Nóc (thượng tiền và thượng hậu) bắt chéo nhau, gọi là giao nguyên (nguyên: là đầu) – liên kết bằng mộng âm dương và chốt giữ bằng một con sẻ, con xỏ. Không có cây gỗ ngắn từ nơi lưng trính vươn lên đỡ ở vị trí giao nguyên này.
– Giao nguyên có trụ trốn – trụ tiêu: Trường hợp này, với khoảng cách giữa hai cột nhất tiền (cái tiền) và cột nhất hậu (cái hậu) lớn người ta tăng thêm một cây đỡ kèo nóc ở vị trí giao nguyên. Cột đỡ này có một đế đặt trên lưng trính/tránh nối tiếp: là một đoạn gỗ tiết diện hình cầu hoặc chữ nhật vươn đỡ nóc. Để tăng thêm phần đỡ kèo, người thợ thêm hai cánh ác (cánh dơi) ăn mộng ở đầu đoạn gỗ đỡ 2 lưng kèo tiền và hậu. Tại Hội An, một số nhà cổ, hội quán, nhà thờ tộc, chùa… bộ phận chống đỡ – trụ trốn – được chạm trổ công phu.
6. Vì nóc phức tạp:
Kiểu thức chồng trính con đội/trính chồng trụ đội/chồng rường con đội. Có nhiều cách gọi, nhưng có thể giải thích là giải pháp giảm khoảng cách hai cột cái tiền hậu và nâng cao mái nhà (nóc) bằng kỹ thuật trính chồng trính.
Việc liên kết bằng các con đội vừa có công năng đỡ hoành (đòn tay), vừa liên kết các trính với nhau (trính trường ở dưới trính thượng phía trên) không thấy xuất hiện ở nhà ở tư nhân vùng nông thôn Quảng Nam. Tuy nhiên lại xuất hiện thường xuyên ở mọi công trình trong phố cổ, đến cả ngôi chùa tại Cù lao Chàm (chùa Hải Tạng xã Tân Hiệp – Hội An ), những người thợ mộc đã dành nhiều thời gian sao cho các liên kết, lỗ mộng ăn khớp đến khít rịt giữa các thanh trính với con đội, đồng thời nâng cao thẩm mỹ bằng những nét chạm lấy đất (gờ nổi) mảnh  trên thân và bụng trính, thêm những tai, cánh gọi là bông tai tạo sự duyên dáng cho con đội (ảnh 8). Theo Nguyễn Bạt Tuỵ, đây là kiểu thức trính Nhật Bổn – còn gọi là vì thảo bạc (1) (ở hiên) (bản vẽ). Những nhà nghiên cứu cho rằng kiểu thức này có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc.
– Kiểu thức biến thể giá chiêng: Là kiểu thức đỡ nóc với mục đích như kiểu thức trên. Những thanh trính ngang và con đội đứng liên kết theo kiểu giá treo chiêng nên gọi là giá chiêng. Kiểu thức nầy cũng có nguồn gốc từ phía bắc vào và ít phổ biến ở Hội An (ảnh 9 – Bộ vì nóc tầng 2, nhà 117 Nguyễn Thái Học là kiểu thức biến thể giá chiêng với kỹ thuật “chồng rường con nhị” ), cũng chưa tìm thấy tại nhà ở nông thôn Quảng Nam.
Ngoài ra còn nhiều kiểu thức đỡ vì (vài) nóc ở công trình cộng đồng của người Hoa. Thí dụ kèo nóc cổng vào hội quán Quảng Triệu (176 đường Trần Phú) của người Triều Châu với nhiều thanh gỗ đứng có tiết diện hình chữ nhật đỡ mái – Tôi cho rằng chi tiết này mang đậm nét yếu tố kết cấu gỗ của người Hoa, nếu thợ Kim Bồng có thi công cũng chỉ theo “đơn đặt hàng” của chủ nhân.


7. Kèo hiên, góc Hồi:
– Kiểu thức vỏ cua: là một tấm gỗ mái dùng từ 7cm – 10cm, có hình cong phỏng như mai cua, chúng ta dễ dàng bắt gặp kiểu đỡ mái hiên (trước nhà), phía sau nhà là một mái giả trang trí, trên là mái hiên tại những ngôi nhà ở phố cổ Hội An. Ở Huế gọi là vì thừa lưu, dùng đặt dưới vị trí nối hai mái, trên là máng xối, được sử dụng một số công trình thuộc cung điện, không thấy xuất hiện ở các ngôi nhà ở dân gian Quảng Nam, nhưng lại xuất hiện ở Quảng Trị. Hình cong như vỏ cua được nhiều người nhìn thấy nên đa số được chạm trổ cả hai mặt với nhiều kỹ thuật khó như chạm lộng, chạm thủng gồm các đề tài: Song ngư, song kiếm, hoa lá vần mây cách điệu, các hình kỷ hà gãy góc hoặc các đề tài mang ý nghĩa cát tường, phúc…
– Chồng trính con đội: hình thức như chồng trính con đội ở kèo nóc nhưng ở vị trí đỡ mái hiên và mái đầu hồi (phần tiền, hậu). Và chỉ đỡ một chiều của mái xuôi xuống nên là một nửa của kèo nóc, xem như những thanh trính ngắn (trính đoản), trính nách ăn mộng từ một bên cột. Kiểu thức nầy chúng ta có thể thấy tại tư gia ông Huỳnh Ri, người thợ mộc nổi tiếng của Kim Bồng hôm  nay hoặc nhà ông Ngô Giáo ở Duy Trung, Duy Xuyên nhưng không thấy xuất hiện ở phía Nam Quảng Nam.
8. Trính: là thanh gỗ nối hai cột nhất tiền – cột cái tiền, cột nhất hậu – cột cái hậu ở vị trí thấp hơn đầu cột từ 30 đến 70cm. Thợ Kim Bồng sử dụng hai dáng trính thẳng (ngay /ngang) và trính lận (uốn cong hai đầu). Phổ biến là loại trính thẳng có khoảng cách hai cột lớn và dĩ nhiên chất liệu gỗ là Lim hoặc Kiền kiền.
9. Rầm thượng 3: Để tận dụng không gian bên trên trính làm nơi chứa đồ, nhất là ở các vùng thường bị ngập lụt, người ta xếp các tấm ván khít vào nhau, đặt trên lưng trính và nối các gian với nhau. Xung quanh được vây bọc bằng những tấm ván, là một cái hộc hoặc khuôn cụi, dùng để cất lúa gạo, hạt, củ phòng tránh nước ngập làm hỏng. Đây cũng là cái gác xép, để ẩn tạm trong những ngày nước lụt vào nhà. Vì có công năng trên nên khoảng cách từ trính đến đòn đông lớn để có đủ không gian chứa đồ.

Phong cách trang trí, chạm trổ.
Các đề tài kỹ thuật chạm trổ của thợ Kim Bồng phong phú và mở rộng hơn khi tiếp xúc, giao lưu và tiếp thu trong quá trình thi công các công trình của người Nhật, người Hoa, người phương Tây đến lưu trú ở Hội An và cả các phường thợ mộc bạn khi thi công cung điện ở Huế (thợ Mỹ Xuyên – Huế, Văn hà – Quảng Nam). Đây là điều kiện tốt để thợ Kim Bồng phát huy kỹ năng chạm khắc. Những đề tài, mô típ, họa tiết ít nhiều gắn với nghệ thuật cung đình và các tuồng tích mang dấu ấn tín ngưỡng của người Hoa. Ví dụ, trong đề tài thú linh như Long, Lân, Quy, Phụng, với nghệ thuật điêu khắc gỗ hoặc nề ngoã (đắp với tô tượng) thì chi tiết rõ nét gần gũi với cách khắc, đắp tô của cung điện Huế và kiến trúc của người Hoa.
Với nét khắc trau chuốt, sơn thếp tỉ mỉ trên các bức hoành, liễn đối đến các đồ gỗ trang trí nội thất… hiện đang còn lưu giữ tại một số gia đình tại Đại Lộc, Điện Bàn, Quế Sơn. Có thể thấy sự tài hoa của người thợ mộc Kim Bồng ở nhà của cụ Nguyễn Nho Phán, anh Nguyễn Nho Lĩnh (Điện Minh, Điện Bàn) – với các đồ trang trí nội thất và đầu kèo đuôi kèo. Nhiều chi tiết chạm trổ tỉ mỉ công phu tại nhà anh Ngô Văn Sĩ thôn Phù Sa – Quế Xuân: đầu đuôi kèo, các ô xuyên bông thượng hạ (liên ba) và tấm hoành phi có khắc bài thơ theo bút pháp chữ thảo (thảo thi) tác phẩm thư họa đẹp nhất được chủ nhân đời sau lưu giữ.

Bài và ảnh: Nguyễn Thượng Hỷ