Tạo lập bản sắc từ bảo tồn – phát huy giá trị các làng nghề truyền thống nhìn từ thực tiễn Hà Nội

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, phát triển kinh tế – xã hội luôn gắn liền với công nghiệp hóa, đô thị hóa. Việt Nam là quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao song cũng đang đứng trước những thách thức lớn, đó là:
Tốc độ gia tăng quá nhanh đã phá hủy phần nào các hệ sinh thái tự nhiên và gây ô nhiễm môi trường sống của nhiều vùng, nhiều lưu vực.

Làng nghề Hà Nội - Ảnh KTS Nguyễn Phú Đức
Làng nghề Hà Nội – Ảnh KTS Nguyễn Phú Đức

Tốc độ gia tăng dân số nói chung, dân số đô thị nói riêng, sự chuyển hóa cơ cấu dân số với cơ cấu già hóa đòi hỏi phải có chiến lược toàn cầu với các giải pháp quyết liệt hơn về quản lý và phân bố dân cư. Hiện nay đang có 2 xu hướng chuyển dịch phổ biến là chuyển dịch theo chiều mở rộng: từ nông thôn vào đô thị, từ nội đô ra ven đô. Đồng thời là chuyển dịch theo chiều đứng với chuyển đổi cơ cấu, ngành nghề lao động tại chỗ “ly nông bất ly hương”.

Cần tạo lập mô hình cấu trúc thích hợp cho đô thị từ chính sách xây dựng các đô thị trung tâm, đô thi vệ tinh, các cực đối trọng, đô thị nén.

Trong xu thế hội nhập toàn diện như hiện nay thì công nghiệp hóa, đô thị hóa phải đồng thời xây dựng bản sắc, đặc trưng cho từng địa phương, vùng và từng quốc gia.

Giải quyết những vấn đề trên cần có chiến lược toàn diện cho quốc gia và cho từng đô thị mà trong đó vấn đề cần quan tâm là xây dựng mối quan hệ hài hòa – bền vững giữa đô thị với nông thôn. Từ những thập niên cuối thế kỷ XX, hệ thống đô thị Việt Nam được phát triển và mở rộng về quy mô. Năm 1990 cả nước mới có khoảng 500 đô thị với dân số 13,5 triệu (20,3% dân số cả nước) thì đến năm 2000 đã có tới 649 đô thị với dân số 19,2 triệu (24,5% dân số cả nước). Đến năm 2013 đã có tới 750 đô thị với 33% dân số cả nước sống trong đô thị và dự báo dân số đến năm 2025 sẽ có khoảng 1000 đô thị với dân số khoảng 52 triệu, chiếm 50% dân số cả nước, dự kiến đất xây dựng đô thị khoảng 450.000 ha (1,4% diện tích tự nhiên cả nước).

Trong 10 năm qua và xu thế phát triển đô thị những năm tới cho thấy đang có hướng gia tăng ngoại thành, ngoại thị (mở rộng vùng ngoại đô – làng trong đô thị). Bởi vậy, thách thức mới trong phát triển hệ thống đô thị không chỉ là tìm sự hài hòa, cân đối giữa đô thị với nông thôn nói chung mà còn là giữa nội đô với ngoại đô, nhất là trong các đô thị lớn.

Theo quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 diện tích đất xây dựng đô thị chỉ chiếm khoảng 28,3% diện tích với gần 95.000 ha tăng hơn 22.000 ha so với hiện nay và vẫn còn gần 65.000 ha đất xây dựng nông thôn. Trong tổng số dân Thủ đô 9,0 – 9,2 triệu thì chỉ khoảng 65 – 68% sống trong đô thì còn là sống trong các điểm dân cư nông thôn. Với Thành phố Hồ Chí Minh đến 2025 đất xây dựng đô thị là 50%, Thành phố Hải Phòng là 31% diện tích đất trong đô thị mới.

Thực tế này cho thấy để đô thị phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại, có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt, có kiến trúc tiên tiến giàu bản sắc, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, khu vực và quốc tế thì vấn đề cần được quan tâm không chỉ là nội đô mà cần nghiên cứu định hướng cho phát triển các điểm dân cư nông thôn trong mỗi đô thị.

Xây dựng nông thôn mới ở ngoại đô không chỉ là tuân thủ mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới nói chung mà còn là thực hiện cả quy hoạch xây dựng kinh tế xã hội, xây dựng văn hóa mới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa. Dân tộc để tạo lập tổng thể đô thị phát triển bền vững. Đối với các đô thị đã có quá trình lịch sử phát triển, có vùng ngoại đô với nhiều di sản là làng cổ, làng nghề truyền thống thì bảo tồn, phát huy giá trị các điểm dân cư này là vấn đề cần quan tâm. Bảo tồn làng cổ đã có nhiều nghiên cứu và hội thảo, song với các làng nghề truyền thống cũng là đặc thù cần quan tâm. Đây là bài học từ thực tế Hà Nội. Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính có 401 xã, trong đó có gần 1350 làng nghề với gần 270 làng nghề truyền thống cũng là đặc thù cần quan tâm. Làng nghề là cấu trúc điển hình dân cổ nông thôn là thiết chế với 2 yếu tố cấu thành là “làng và nghề”. Theo một số nghiên cứu thì làng nghề có nghề phi nông nghiệp, nghề thủ công và có thể phân làm 9 nhóm: dệt, chế biến thực phẩm, đan lát, mộc, sản xuất vật liệu xây dựng, làm giấy, đồ vàng mã, rèn đúc chế tác kim loại, nghề sản xuất nông cụ, nghề gốm. Để xác định làng nghề truyền thống phải là làng có nghề hình thành từ lâu đời (khoảng 50 năm), nghề tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc và có hơn 30% số hộ trong làng làm nghề.

Tiếp cận từ quy hoạch, kiến trúc cho thấy làng nghề mang đặc trưng của nghề truyền thống song hòa quyện với cấu trúc cơ bản của làng – đơn vị xã hội dân cư cơ bản. Trong đó có cấu trúc đặc thù về nhà ở làm nghề, tổ hợp các công trình tín ngưỡng: chùa làng, đình làng thờ thành hoàng làng, nhà thờ tổ nghề, nhà thờ đạo, nhà thờ họ, và cả đền, phủ, miếu, chợ…. Mỗi kiến trúc, công trình thể hiện rõ không gian thích hợp với từng nghề. Để làm rõ hơn đặc thù về qui hoạch, kiến trúc văn hóa từng làng nghề có thể nêu vài ví dụ để làm minh chứng:
Làng Nghĩa Đô theo truyền thuyết hình thành từ thời Hùng Vương thứ 15 có nghề làm giấy chuyên dùng cho nhà vua: giấy sắc giấy lệnh, nghề làm kẹo nha và nhiều lễ hội có không gian cộng đồng đặc thù cần giữ gìn.

Làng Quảng An trước thuộc huyện Hoàn Long – Hà Đông đến năm 1942 thì nhập vào Hà Nội và từ 1996 là phường Quảng An. Quảng An là nơi có làng hoa nổi tiếng, nơi có các công trình mang đậm văn hóa truyền thống như phủ Tây Hồ (từ cuối thế kỉ XVI). Đình Quảng Bá, Nghi Tàm. Mỗi công trình mang nhiều yếu tố của kiến trúc xanh. Làng Bát Tràng hình thành từ đời Lý, Trần, có cấu trúc làng ven sông đặc thù với nghề làm gốm đặc trưng trải qua nhiều thế kỷ và đã tạo được chỗ đứng vững chắc không chỉ ở Việt Nam mà cả ở thế giới. Năm 1959, làng vinh dự đã được chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và dặn dò “Làng Bát Tràng mới phải làm sao để trở thành một trong những làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đã có quy hoạch chi tiết cho làng Bát Tràng nhưng cũng còn không ít tồn tại cần giải quyết tiếp. Thời phong kiến đã hình thành các làng với nghề dệt (Vạn Phúc), đúc đồng Ngũ Xã, thêu Quất Động, dát vàng Kiêu Kỵ, mây tre đan Phú Vinh, khảm trai Chuông Ngọ, sơn mài Hạ Thái, mộc Vân Hà…

Nghiên cứu về các làng nghề truyền thống để xác định đặc trưng về Quy hoạch – Kiến trúc, về phát triển kinh tế mà trên đây chỉ là thí dụ. Trong định hướng phát triển Hà Nội sẽ có không ít các làng trở thành vùng được đô thị hóa với thách thức cần giữ gìn bản sắc, mà trước hết là từ cơ cấu dân cư đến kiến trúc nhà ở công trình công cộng. Phải chăng đây là trách nhiệm trước hết của những người làm nghề Quy hoạch – Kiến trúc.

TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm