Giải pháp ứng phó với đổi khí hậu trong Quy hoạch phát triển các Đô thị ven biển

Khu vực ven biển và hải đảo nước ta tập trung phần lớn các đô thị, điểm dân cư nong thôn. Đến năm 2009, tại 34/63 tỉnh ven biển và ĐBSCL có 405 đô thị, với dân số ước tính đến 20 triệu người, trong đó có khoảng 4,1 triệu người sống trong 45 đô thị có vị trí nằm kề sát biển và vùng cửa sông lớn. Tại đây hội tụ những tài nguyên quan trọng và có giá trị phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Bán đảo Lăng Cô
Trong thời gian qua, các đô thị khu vực ven biển và hải đảo đã phát triển mạnh mẽ về chất và lượng; hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế đang từng bước phát triển và hoàn thiện. Phát huy lợi thế về tài nguyên và vị thế của khu vực biển đảo, nhiều đô thị  trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại dịch vụ của vùng, của cả nước và khu vực, trở thành cầu nối  quan trọng giữa Việt Nam với thế giới trên con đường hội nhập kinh tế. Hệ thống đô thị khu vực ven biển đã đóng góp quan trọng trong tiến trình phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bên cạnh đó, nội dung quy hoạch xây dựng đô thị đang từng bước phù hợp với đặc thù của đô thị ven biển thông qua việc tổ chức phân khu chức năng, phát triển không gian, xây dựng các công trình hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, các khu giải trí, công trình dịch vụ  du lịch, khu cây xanh, bảo vệ cảnh quan tài nguyên môi trường đô thị và khu dân cư.
Hiện tượng biến đổi khí hậu và những thách thức đối với các đô thị ven biển
Biến đổi khí hậu với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, do  sự mất cân bằng của hệ sinh – khí quyển thế giới gây nên hiệu ứng nhà kính.
Hiệu ứng nhà kính hình thành chủ yếu là do lượng khí thải lớn vào khí quyển sản sinh ra từ các hoạt động kinh tế-xã hội của con người trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá (khí nhà kính). Trong đó, hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông đô thị và sinh hoạt của dân cư tạo lượng khí nhà kính lớn nhất. Đối với những nước có tốc độ và qui mô công nghiệp hoá, đô thị hoá lớn thì mức phát thải khí nhà kính càng cao.Trên thế giới hiện nay Trung Quốc và Mỹ là hai quốc gia dẫn đầu về mức phát thải khí nhà kính vào bầu khí quyển.
Theo nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và trong nước, Việt Nam là một trong những quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH và nước biển dâng.
Dãy nhà đường Bạch Đằng
Những tác động chủ yếu của BĐKH ở Việt Nam gồm: sự gia tăng  nhiệt độ; nước biển dâng, bão và áp thấp nhiệt đới; lũ lụt, lũ quét và sạt lở  đất; hạn hán và các hiện tượng khí hậu cực đoan  khác  gồm các đợt nắng nóng và số ngày nắng nóng, các đợt rét và số ngày rét đậm, rét hại, mưa cực lớn, giông, tố, lốc..
BĐKH sẽ tác động trực tiếp, hoặc gián tiếp đến toàn bộ môi trường vật chất và xã hội nước ta, tạo nên những thách thức to lớn đối với các đô thị, điểm dân cư nông thôn cả nước  nói chung, hệ thống đô thị ven biển nói riêng. Những thách thức đó là:
1. Gia tăng nguy cơ phát triển thiếu bền vững của hệ thống đô thị, điểm dân cư nông thôn đối với các vùng nhạy cảm với BĐKH) gồm: Vùng đồng bằng sông Hồng, ven biển Bắc Trung bộ, duyên hải Trung Bộ, Hải đảo và  đồng bằng sông Cửu Long bởi nước  biển dâng, bão, áp thấp nhiệt đới, xâm thực bờ biển, lũ quét…;Vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên chịu nguy cơ lũ lụt, lũ  quét và sạt lở đất  cao nhất; Vùng đất thuộc dải ven biển Trung Bộ, vùng núi và Trung du Bắc Bộ sẽ bị tác động mạnh nhất bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan.
Tác động của mực nước biển dâng sẽ là nguy cơ lớn nhất đang gia tăng theo thời gian đối với không gian phát triển khu dân cư. Theo dự báo, cả nước có nguy cơ mất khoảng 5% diện tích đất đai, 23% dân số thiếu đất và 11% người mất nhà cửa; quỹ đất thuận lợi cho phát triển điểm dân cư đô thị-nông thôn sẽ  bị ngập khi mực nước biển dâng đến 90cm vào giữa thế kỷ này, trong đó 10 tỉnh vùng ĐBSCL sẽ mất khoảng 38-39% diện tích đất; quỹ đất phát triển ở khu vực ven biển và hải đảo, nơi tập trung phần lớn các đô thị, điểm dân cư nông thôn, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật (cảng biển, sân bay, kho tàng, khu công nghiệp… ) của cả nước sẽ bị ngập hoặc tác động huỷ hoại khác.
2. Việc thực hiện chính sách phát triển đô thị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá sẽ đối mặt với nhiều khó khăn:
– Vấn đề giảm thiểu và thích nghi với BĐKH đặt ra yêu cầu phải có những đổi mới cấp bách và có căn cứ khoa học trong công tác quản lý quy hoạch phát triển đô thị, điểm dân cư nông thôn trong khi năng lực các chủ thể liên quan chưa đáp ứng. Phải có những phương pháp, nội dung, tiêu chuẩn, qui chuẩn thích hợp cho điều kiện BĐKH, ưu tiên cho các lĩnh vực: lựa chọn vị trí xây dựng và xác định tiền đề, động lực hình thành và phát triển; xác định giới hạn, ngưỡng phát triển không gian, môi trường đô thị, điểm dân cư nông thôn; xác định, lựa chọn các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật như dân cư, đất đai, kết cấu hạ tầng, kiến trúc, môi trường…; phân khu chức năng và tổ chức không gian phát triển; bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di sản kiến trúc cảnh quan đô thị; đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội và bảo vệ, phát triển môi trường bền vững; quản lý  cung cấp dịch vụ đô thị và chống thiên tai, sự cố  bảo đảm an ninh, an toàn xã hội…
– Đối với  phát triển các khu công nghiệp, đang được xây dựng nhiều ở vùng đồng bằng phải đối diện với nguy cơ ngập lụt, thách thức trong thoát nước do nước lũ từ sông và mực nước biển dâng. BĐKH đòi hỏi năng lực đánh giá, lượng đầu tư lớn, các tiêu chuẩn, qui chuẩn  để giảm thiểu, thích nghi trong quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, các hệ thống  hạ tầng kỹ thuật, áp dụng các biện pháp hạn chế rủi ro, sự cố môi trường; khó khăn trong việc cung cấp nước và nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp và xây dựng,..
– Hạn hán, lũ lụt, nước biển dâng cũng sẽ ảnh hưởng đến  việc cấp nước và làm gia tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt của dân cư đô thị, nông thôn; đe dọa hoạt động thoát nước thải, vệ sinh môi trường đô thị; gây khó khăn cho công tác xây dựng, phát triển hệ thống giao thông đô thị; gia tăng tính phức tạp, chi phí trong quản lý hoạt động giao thông đô thị nhằm giảm thiểu mức phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính (theo nghiên cứu, hoạt động giao thông đô thị đóng góp 14% -30% tổng  lượng khí nhà kính thải vào khí quyển).
3. Sự gia tăng của nguy cơ sự cố môi trường và công nghệ đối với các vùng đô thị hóa, tỉ lệ thuận với sự tập trung dân cư và rác thải đô thị gồm vùng Thủ đô và đồng bằng sông Hồng; vùng Đông Nam Bộ; vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng đô thị lớn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng – là những khu vực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tác động của BĐKH.
Phát triển đô thị và hiện tượng BĐKH
Tăng trưởng đô thị và đô thị hóa gây tác động, làm thay đổi và ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên, mối quan hệ  dân cư – môi trường do sự gia tăng lượng khí cacbon (gọi chung là khí nhà kính) thải vào tự nhiên.
Ở nước ta, các đô thị phát triển đang góp phần làm gia tăng hiện tượng BĐKH, bởi vì: Khai thác sử dụng quá mức và lãng phí tài nguyên đất đai vì mục tiêu tăng trưởng đô thị và công nghiệp, coi nhẹ yêu cầu phát triển cân đối hài hoà giữa đô thị – nông thôn.
Sự tăng trưởng nhanh chóng của  số lượng và mật độ phương tiện giao thông cơ giới ở các đô thị loại I trở lên; hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị quá tải, phát triển không theo kịp tốc độ đô thị hoá cao, chưa đủ năng lực đáp ứng nhu cầu hoạt động bình thường các đô thị,…, năng lực xử lý chất thải đô thị yếu kém, thiếu đồng bộ; các cơ sở công nghiệp vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép), năng lượng (nhiệt điện) hiệu suất sản xuất thấp vì công nghệ lạc hậu, mức tiêu thụ năng lượng cao, sử dụng tài nguyên  lãng phí góp phần tăng nhanh lượng khí nhà kính thải vào môi trường;
Vấn đề “xây dựng xanh”, “kiến trúc sinh thái” chưa được quan tâm trong xây dựng đô thị: nhiều loại vật liệu xây dựng ít thân thiện với môi trường (vật liệu xây dựng công nghiệp hoá, xi măng, sắt thép..) được sử dụng với khối lượng lớn; việc tuân thủ các nguyên tắc vi khí hậu, tiết kiệm năng lượng bị xem nhẹ,.. và nhiều bất cập khác đang dẫn đến sự xuống cấp, biến dạng hệ sinh thái đô thị, làm gia tăng các tác động đến môi trường.
Lũ lụt ở miền Trung
Ứng phó với biến đổi khí hậu trong quy hoạch phát triển đô thị
Tác động của BĐKH đối với đô thị không chỉ  trong 20-50 năm nữa mới xảy ra như dự báo của các tổ chức khoa học mà thực tế là đang hiện hữu, đặc biệt trong những ngày đầu năm 2010 với các hiện tượng thời tiết bất thường trên đất nước ta. Việc ứng phó với BĐKH  không chỉ  cho đô thị Việt Nam sau năm 2025 đến năm 2050 và tương lai xa hơn, mà còn hết sức cần thiết cho đô thị đương đại, bởi vì nếu đô thị hiện nay chịu rủi ro, thiệt hại bởi BĐKH thì việc ứng phó trong tương lai cũng không còn giá trị. Ứng phó với BĐKH trong hoạt động quy hoạch đô thị Việt Nam  gồm những nội dung sau:
1.Cần  nhận thức toàn diện về BĐKH và tác động của nó đối với mối quan hệ giữa các yếu tố tạo lập đô thị, gồm: yếu tố tự nhiên, công trình nhân tạo, hoạt động kinh tế – văn hoá, xã hội, mọi cá nhân, cộng đồng và xã hội ở đô thị. Nhận thức này không chỉ cần thiết trong giới khoa học, tư vấn về quy hoạch đô thị, trong cộng đồng mà còn trong cả hệ thống chính trị, trước tiên là trong bộ máy quản lý nhà nước về đô thị. Đó là cơ sở để nắm bắt chính xác, không bỏ sót các tác động của BĐKH đối với đời sống xã hội đô thị.
2. Từ nhận thức trên, đổi mới phương pháp quản lý phát triển đô thị mang tính đơn ngành, nặng về phát triển hình thái không gian vật chất, thiếu linh hoạt,..sang phương pháp tiếp cận phát triển đô thị bền vững, ứng phó với BĐKH.
Nhằm xây dựng và thực hiện chính sách, giải pháp xây dựng và phát triển đô thị theo hướng ” thân thiện với môi trường” phương pháp tiếp cận ở các nước trên thế giới, được khái quát như sau: mang tính chiến lược (Strategy) thay  cho tổng thể (Master plan);  động lực phát triển đô thị ứng phó với BĐKH là từ nguồn lực nội tại, từ các ngành liên quan và toàn thể cộng đồng dân cư; linh hoạt (Flexibility), từ  dưới lên, xuất phát từ nhu cầu cơ sở, đời sống cộng đồng, xã hội ở đô thị thay cho Định hướng, chỉ đạo (Orientation); bảo đảm sự  phối hợp hiệu quả giữa các ngành liên quan (phương pháp hợp nhất, đa ngành) và tham gia của cộng đồng; nâng cao tính hành động (action plan) và khả năng thực hiện, bảo đảm giải quyết hiệu quả các vấn đề của đời sống dân cư đô thị;
3. Đổi mới  phương pháp, nội dung lập, tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị: trên cơ sở cách tiếp cận nêu trên, xây dựng, phát triển các đô thị “xanh” hơn, thân thiện với môi trường với lượng phát thải thấp, khai thác và bảo tồn tài nguyên bền vững. Tích hợp yếu tố BĐKH, nội dung phát triển các ngành ứng phó với BĐKH, sự tham gia của cộng đồng theo phương pháp Chiến lược phát triển đô thị (CDS), đồng thời áp dụng công nghệ mới về hệ thống thông tin địa lý (GIS), các phương pháp, công cụ quản lý kinh tế đô thị trong nền kinh tế thị trường vào các quy hoạch và kế hoạch phát triển đô thị Việt Nam…
4. Đổi mới  thể chế quy hoạch đô thị: Các yêu cầu về phát triển bền vững đã được các Luật: Bảo vệ Môi trường, Đất đai, Xây dựng, Nhà ở, Kinh doanh Bất động sản, Qui hoạch đô thị, Xây dựng.. và các văn bản dưới Luật, qui chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn…qui định tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, vấn đề ứng phó với BĐKH trong qui hoạch đô thị vẫn chưa được qui định thực sự cụ thể và phù hợp. Cần điều chỉnh qui định của các luật pháp theo hướng lồng ghép nội dung phát triển và quản lý đầu tư xây dựng, quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên, khai thác sử dụng công trình đô thị, bảo vệ môi trường, cảnh quan, di sản đô thị,.., tích hợp yêu cầu ứng phó với BĐKH trong một loại Quy hoạch hợp nhất (và duy nhất) là quy hoạch đô thị theo Luật Qui hoạch đô thị năm 2009. Đồng thời ban hành các qui chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và các hướng dẫn lập qui hoạch, quản lý  qui hoạch, xây dựng, đầu tư xây dựng, bảo vệ môi trường,..thích hợp với mục tiêu ứng phó với BĐKH ở đô thị.
5. Xác định các giải pháp về quy hoạch đô thị ứng phó với BĐKH:
– Đánh giá mức độ và tác động của BĐKH ở Việt Nam: Nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện là nhận diện được thách thức phải vượt qua trong ngắn hạn và dài hạn; triển khai đánh giá mức độ, tính chất và xu thế biến đổi của các yếu tố tác động của BĐKH đến tiến trình đô thị hoá, phát triển đô thị, điểm dân cư nông thôn trên địa bàn cả nước. Trên cơ sở các kịch bản BĐKH, lập bản đồ phân vùng, khu vực bị tác động của BĐKH, vùng sinh thái, vùng kinh tế, vùng đô thị hoá và từng đô thị, điểm dân cư trên địa bàn cả nước.
– Căn cứ Công ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008), xác định các giải pháp ứng phó ưu tiên về: thích ứng (để giảm thiểu rủi ro do BĐKH); giảm thiểu việc phát thải khí nhà kính do các hoạt động kinh tế-kỹ thuật -xã hội tại đô thị; nâng cao năng lực kỹ thuật; huy động nguồn lực thực hiện để lồng ghép vào nội dung của chính sách, quy hoạch và quản lý đô thị.
– Xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện quy trình, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng các đô thị, điểm dân cư nông thôn phù hợp với điều kiện BĐKH về: nội dung, phương pháp lập qui hoạch, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu; chỉ tiêu quy hoạch phát triển, nguồn lực, tài nguyên  đặc biệt về đất đai, môi trường; phương pháp, nguyên tắc, yêu cầu về thiết kế kiến trúc, đô thị sinh thái, xây dựng xanh, tiết kiệm năng lượng trong QH đô thị; quản lý cung cấp dịch vụ công cộng, quản lý đô thị trong điều kiện sự cố thiên nhiên,..;
– Tích hợp giải pháp ứng phó với BĐKH trong “Điều chỉnh Định hướng Qui hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”, làm cơ sở thực hiện rà soát điều chỉnh quy hoạch các đô thị, điểm dân cư nông thôn, khu kinh tế đặc thù và các khu  chức năng khác có nguy cơ ảnh hưởng bởi BĐKH theo nguyên tắc phát triển đô thị phải đảm bảo ổn định, bền vững và trường tồn, trên cơ sở tổ chức hợp lý môi sinh, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái.
– Củng cố và tăng cường năng lực thể chế, chính sách hoạch định và phát triển đô thị ứng phó với BĐKH: năng lực cụ thể hoá và năng lực tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến phát triển sản xuất – kinh doanh, dịch vụ và các hoạt  động văn hoá -xã hội diễn ra trên địa bàn đô thị; năng lực tổ chức cung ứng và quản lý các dịch vụ công; năng lực hoạch định và thực thi chiến lược, quy hoạch phát triển đô thị; năng lực huy động toàn xã hội, cộng đồng trong việc thực thi các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu trong phát triển đô thị, cụ thể: sớm tổ chức thực hiện các khoá bồi dưỡng, nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với các chủ thể tham  gia quản lý, phát triển trên địa bàn đô thị  về công tác QHXD, ĐTXD trong điều kiện BĐKH.
–  Nâng cao nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng: ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó có cộng đồng dân cư đô thị, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các đoàn thể quần chúng. Do đó cần ưu tiên nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH, các tác động sẽ gặp để chuẩn bị ứng phó. Đồng thời khuyến khích tính tích cực và sáng tạo của người dân, từ cơ sở chủ động tham gia vào các hoạt động ứng phó với BĐKH.
– Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của quốc tế trong ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực quy hoạch đô thị;
Cuối cùng, giải pháp ứng phó với BĐKH cần được mọi ngành, mọi cấp kịp thời xác định và tổ chức triển khai  bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững và trường tồn của các đô thị nước ta trong đó có các đô thị ven biển trong thế kỷ XXI.
TS.KTS. Lê Trọng Bình
Tài liệu tham khảo:
1. Một số nghiên cứu của các tổ chức khoa học quốc tế về BĐKH;
2. Tác động của BĐKH và ứng phó ở các siêu đô thị châu Á-WB 2010
3. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu: Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ);
4. Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/04/2009 về Điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2050;
5. Báo cáo  đánh giá về tình hình quản lý phát triển đô thị ( Cục PTĐT-Bộ XD-2009);