Một cách tiếp cận nghiên cứu kiến trúc

Đặt vấn đề

Câu hỏi thường trực là: Kiến trúc Việt Nam (KTVN) bắt nguồn từ đâu? Tiến hóa như thế nào? Để từ đó hiểu được kiến trúc đương đại cũng như mường tượng về tương lai.

Câu trả lời chắc phải bắt đầu từ quá khứ khoảng gần 1 triệu năm trước ở An Khê Gia lai, bến Rộc Tưng, bờ sông Ba – khi con người lần đầu chiếm cư trên vùng đất mà nay là Việt Nam. Cho đến nay, đây là di tích người vượn cổ nhất, nhưng lòng đất có thể vẫn còn ẩn chứa những quá khứ cổ xưa hơn.

Và cũng không thể không đối sánh các giai đoạn phát triển tiếp theo để hiểu quá trình tiến hóa của kiến trúc – Đó là các di chỉ Núi Đọ 500.000 năm trước; Thẩm Khuyên 475.000 năm, chạm với thế giới người đứng thẳng (Erectus); Thẩm Ồm 80.000 năm; Ngườm cách nay 50.000 năm – bắt đầu vào thế giới Homo Sapiens; Sơn Vi rìu cuội, 30.000 năm trước; Hòa Bình 11.000 năm trước với vỏ ốc lấp đầy trong hang động; Bắc Sơn rìu mài 9.000 năm; Phùng Nguyên 5.000 năm rìu vuông – gốm văn thừng cồn sò điệp Quỳnh Văn ven biển Nghệ An 5.000 năm; Nhà sàn trên Trống đồng Đông sơn 2.400 năm TCN; Loa thành Cung nỏ An Dương Vương 200 năm TCN; thời Lý 1010 và tiếp đến sau này.[6,10,12,15]

Như vậy, con đường về quá khứ để tìm thấy tương lai của KTVN là cần thiết. Và phải chăng cần cách tiếp cận kiến trúc từ bên ngoài với nhiều công cụ liên ngành – Bởi Kiến trúc do con người tạo ra, nên tìm về không gian cư trú trong quá khứ, dù nay chỉ còn hóa thạch, thì đó vẫn là thông điệp mà người xưa để lại. Việc còn lại là sử dụng công cụ của các chuyên ngành liên quan để giải mã.

Chứng minh KTVN (gồm không gian cư trú (KGCT) và không gian kiến trúc (KGKT)) có một trường tư duy riêng độc đáo, có xuất xứ cụ thể từ vùng rừng rậm nhiệt đới, có chủ thể nhân văn riêng biệt – những người tiền sử đã cư trú liên tục gần 1 triệu năm trên vùng đất của Việt Nam ngày nay.

Nền văn hóa cư trú, văn hóa kiến trúc Việt Nam trong quá khứ đã có ảnh hưởng và giao lưu mạnh mẽ với các nước trong khu vực Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. Nhưng dẫu thăng trầm, vẫn liên tục phát triển theo cách riêng, không phụ thuộc hoặc lai tạp. Như vậy có thể thấy, tư duy riêng độc đáo ấy, một khi đã xuất hiện và tiến hóa vững bền cho đến hôm nay thì sẽ tiếp tục phát triển độc lập và mạnh mẽ trong tương lai.

Kiến trúc Việt Nam cần theo hướng tiếp cận với phương pháp nghiên cứu đa ngành, đồng thời phải vượt qua những thói quen nghiên cứu cũ. Đó là, trước hết, phải bước ra ngoài Kiến trúc. Lúc đó, kiến trúc chỉ còn là một thực thể như vô vàn các đối tượng khác mà con người nhiều kỷ nguyên trước đã tạo ra như phương thức tìm kiếm thức ăn, phương thức sinh sản, diễn trình tích chiết trí tuệ và tư duy. Điều đó cho phép chọn được góc nhìn đa dạng, để từ đó có thể đánh giá tầm vóc thật sự của KGCT – phát minh vĩ đại của loài người từ thuở sơ khai.

Mặt khác, người nghiên cứu thường từ hiện tại để nhìn về quá khứ, vì vậy chỉ nhìn thấy mặt lạc hậu. Ví dụ, khi còn là loài vượn sống trên cây đã trả giá khi ngủ quên rơi xuống đất , sau hàng triệu năm tiến hóa đi bằng 2 chân và làm tổ ngủ đầu tiên trên mặt đất thì đó là bước tiến vĩ đại so với các loài khác còn ở lại trên cây.

Vì vậy, hệ quy chiếu về sự vật, hiện tượng chỉ đặt tại không gian thời gian thực của thời điểm lịch sử mà sự vật, hiện tượng tồn tại mới hàm chứa giá trị khách quan.

Đồng thời cần tiếp cận nghiên cứu đa ngành với việc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Góc nhìn tâm lý học tiến hóa để quan sát quá trình tiến hóa bộ não từ Vượn đến Vượn người, đến Người Vượn, đến Sapiens thành chi Người duy nhất ngày nay. Góc nhìn ngôn ngữ học tiến hóa liên quan đến nhân học tiến hóa, ngôn ngữ học nhận thức và ngôn ngữ học sinh học, để thấy hình thành ngôn ngữ phi ngôn từ đã có vai trò chuyển tiếp thành ngôn ngữ hình tượng, tiền thân của ngôn ngữ không gian kiến trúc sau này…. [4,16]

Kết quả nghiên cứu sẽ chứng minh rằng kiến trúc được hình thành trước hết từ tư duy, sau đó mới là từ vật liệu; nghĩa là từ tư duy sinh tồn đến tư duy thẩm mỹ.

Vấn đề được rút ra là: Cùng một đối tượng nhưng góc nhìn khác thu được hình ảnh khác và với công cụ khác thu được giá trị khác.

Vai trò quan trọng của vị trí địa lý đối với hình thành KGCT mang đậm đặc trưng biển núi đồng bằng – nóng ẩm, mưa và gió bão.

Vị trí địa đới của Việt Nam ngày nay, gắn bố chặt chẽ với quá trình hình thành và tiến hóa của KTVN.

Tuyến thiên di lần thứ nhất (1,9 triệu năm) theo nguồn thức ăn.
Nguồn: Venturing out safely: The biogeography of Homo erectus dispersal out of Africa (F. Carotenuto and other 2016)
Tuyến thiên di lần thứ 2 (khoảng 80.000- 100.000 năm) theo nhiễm sắc thể dòng cha
Nguồn: Human migration, diversity and disease association: a convergent role of established and emerging DNA markers(Pokhraj Guha and other -2014)

Địa hình trải dài theo bờ biển phía Đông và Đông Nam với gió mùa chính cùng hướng Đông và Đông Nam quyết định trực tiếp đến không gian sinh tồn và cảnh quan nhân sinh trong suốt quá trình tiến hóa của các giống loài, trong đó có con người. Rõ ràng vị trí địa lý ảnh hưởng quyết định đến ý thức, tri thức và tư duy trong kiến tạo các KGCT với mang nét văn hóa đặc thù của cư dân suốt hàng triệu năm. Ở vị trí này, mối tương quan biển lục địa, như: Rừng – biển, Núi – Biển, đồng bằng – biển hoàn toàn khác biệt với các vùng khác. Tương tự là khí hậu, đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều và gió bão. Đồng thời trên tuyến đường của 2 cuộc thiên di quan trọng nhất của nhân loại tiền sử: Lần thứ nhất chủ yếu của Homo Erectus cách đây 1,9 tr năm và lần thứ 2 của Homo Sapiens cách đây gần 100. 000 năm. Đây là cơ sở lịch sử của việc hình thành một trong các quần cư nguyên thủy sớm nhất tại Việt nam, Đông Nam Á và châu Á. [2,3,9,11]

Cấu trúc và vai trò của địa chất, địa tầng, địa mạo, cảnh quan chi phối quá trình tiến hóa và đặc điểm không gian của các dạng quần cư đặc thù gắn liền với nước hàng trăm ngàn năm qua

Trong quá trình kiến tạo địa chất trái đất hàng tỉ năm, các cấu trúc địa chất đã tạo nên quần hệ nền địa hình với hệ sinh thái đơn bào, đa bào và thực vật phát triển, tạo cơ sở cho nguồn thức ăn, dinh dường của động vật, nguồn thức ăn của Homo Sapiens, tiền thân của con người không bị tuyệt chủng trong quá trình tiến hóa. [3,10]

Các hốc sinh thái của bộ linh trưởng, tiền thân của họ người, tạo nên nền sinh tồn và cư trú sau này cho con người trong quá trình tiến hóa từ chủ nhân của các nền văn hóa sơ khai… đến các tộc người, các ngữ hệ – chủ nhân của các KGCT và KGKT sau này. [1,6,20,23,32]

Các địa tầng khoáng sản cung cấp nguồn nguyên liệu vật liệu, cơ sở vật chất cho các nền văn minh trong lịch sử. Đối với kiến trúc, cấu trúc địa chất, địa tầng, địa mạo, cảnh quan đã tạo nên Hệ Nền địa hình đa bậc và Hệ Không gian cư trú đa tầng đặc thù, chi phối quá trình tiến hóa và các dạng quần cư đặc trưng gắn liền với nước với các mặt ưu việt (nguồn sống, cảnh quan, văn hóa…) xen lẫn nguy hiểm của nước (lún sụt, lũ lụt, ngập mặn, khô hạn…) [9,18,19]

Hệ sinh thái đặc thù khác biệt của rừng mưa nhiệt đới làm nền sinh cảnh cho KGKT thực vật và gắn liền với thiên nhiên.

Từ kỷ Pleitocene (khoảng 2,6 tr năm tương đương với thời điểm xuất hiện của Homo Erectus) sang tiền Holocen (khoảng 100.000 năm, tương đương với Sapiens) đến nay, cảnh quan khí hậu vùng Đông Nam Á ít có biến động lớn. Rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới, rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới là những hình thái thảm thực vật chủ đạo của vùng này.[13,22]

Một số nhà khoa học khi nghiên cứu so sánh hệ thống công cụ tiền sử tại khu vực, đã ngạc nhiên về số lượng ít hơn và niên đại muộn hơn đối với công cụ đá, nhưng đa số đồng thuận với phương thức thay thế bằng các công cụ có nguồn gốc thực vật (gỗ, tre, sợi thực vật…), vốn không bền vững trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, ngập nước. Thật vậy, tại các di tích thuộc các nền văn hóa muộn hơn trong khoảng 4-5000 năm, nhiều di vật về công cụ, phương tiện thực vật của KGCT đã được tìm thấy.

Trong khi tại các vùng thảo nguyên, thức ăn chủ yếu của người tiền sử là thịt động vật lớn, thì rừng mưa nhiệt đới lại cung cấp số lượng lớn động vật nhuyễn thể, chủ yếu là ốc, thủy sản, ở vùng trung du và điệp, cá ở vùng biển, cung cấp năng lượng vượt trội với chi phí thấp. Đó là sự tiến hóa của tri giác thích ứng và thích nghi, giúp bảo tồn nhân khẩu do nguồn thức ăn không phụ thuộc vào động vật lớn. [6,7,18]

Danh tính của chủ thể đã chiếm cư đồng thời đã để lại những thành quả sáng tạo bền bỉ góp phần vào tiến hóa tri giác không gian và tư duy KGKT mang tính riêng đặc sắc tại vùng đất Việt Nam ngày nay

Văn hóa Sơn vi, tiền nhân đã biết tận dụng đá cuội sông và đẽo 1 đầu làm cạnh sắc, đầu kia giữ nguyên làm công cụ tạo lực trong khai thác thức ăn… Nhưng về mặt tri giác hình dạng và công năng bề mặt sử dụng, đó là nhận thức sơ khai về tương phản giữa thô và nhẵn, giữa gồ ghề và êm ái .

Rìu đá Sơn Vi: Tương phản Thô – Nhẵn, Gồ ghề-Êm ái. Nguồn: Tác giả

Văn hóa Hòa Bình thuộc thời đại đồ đá cũ sang thời đại đồ đá mới cách ngày nay hơn 20.000 năm, kéo dài đến 7.000 năm (TCN) trên vùng đất xen núi đá vôi, thuộc phía Tây châu thổ ba con sông lớn vùng Bắc Bộ , đã có ảnh hưởng bao trùm cả một không gian rộng lớn – vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. KGCT nổi bật của văn hóa Hòa Bình là lựa chọn hang đá và mái đá. Tại Hang đá Xóm Trại lần đầu tiên có bằng chứng trong nhận thức về đường cong tự do.

Cư trú quanh các hang động bên bờ sông Đà dữ dội, tiền nhân đã để lại dấu tích về những quần cư liên thị tộc đầu tiên và khả năng chế ngự sông Đà bằng năng lực tư duy kỹ thuật sơ khai về quy luật nổi chìm, vặn xoắn của dòng nước, phát minh ra kỹ thuật liên kết dây buộc liên kết que gậy, tre gỗ thành bè mảng… [7,12]

Từ Văn hóa Ngườm, Văn hóa Sơn vi nhận thức tương phản nhẵn- thô; đến văn hóa Bắc Sơn tương phản nhẵn-ráp, đường xiên và đường giao cắt… Ở giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên là bước tiến cao hơn về tư duy hình học, không gian với các khái niệm đường thẳng, vuông góc, hình tròn có tâm, đồng tâm, khái niệm đối xứng đa bậc, đặc biệt khái niệm tổ hợp với tổ hợp nhiều hình chữ S nổi tiếng (thực chất là đối xứng bậc 2 của nửa cung tròn), kết hợp với đối xưng tịnh tiến liên tục thành tổ hợp văn thừng nổi tiếng…

Tư duy hình học Phùng Nguyên (Nguồn: Hình ảnh[7]) Tất cả bình chú của tác giả

Thay lời kết

Nghiên cứu kiến trúc trong quá trình tiến hóa giúp mang đến cách nhìn khác về KTVN. Không còn chỉ là không gian sử dụng cho đời sống, cho vẻ đẹp chủ quan, mà KTVN mang một tầm vóc khác – Đó không phải là một nền kiến trúc dân gian mà là một quá trình tích luỹ tư duy có hệ thống:

Kiến trúc được sinh ra một cách tự nhiên trong suốt quá trình tiến hóa cùng với con người từ thuở sơ khai đến hôm nay và mãi mai sau.

Làm tổ là tập tính chung phục vụ quá trình sinh sản và bảo tồn gen của động vật, trong đó có động vật có vú và bộ Linh trưởng. Suốt 10 triệu năm qua, cơ thể cùng bộ não của các giống người liên tục tiến hóa năng lực tri giác và kiểm soát không gian để tìm ra phương tiện trú ẩn ngày một an toàn hơn, chống lại mọi nguy hiểm nhằm bảo vệ con cái từ buổi sơ khai đến một thế giới ngày càng đa diện.

Kiến trúc luôn sinh ra tự nhiên trên nẻo đường tiến hóa của con người, dù họ trên cây, xuống đất, lên núi, tới đồng bằng, qua biển đảo, tỏa ra liên lục địa… [2,11]

Kiến trúc là thông điệp về sự thích ứng tối ưu với môi trường, sự sáng tạo của con người mà kiến trúc có được là nhờ động lực không ngừng nghỉ của quá trình tiến hóa.

Tại vùng rừng mưa nhiệt đới Việt Nam với địa hình dốc về phía biển, phát sinh nhiều sông suối, lũ lụt và sụt lún điạ tầng… nên từ cách đây gần 1 triệu năm, với xã hội nguyên thủy sơ khai cùng chế độ quần hôn, chưa hình thành gia đình và thị tộc thì KGCT và KGKT đầu tiên là sàn chèn đá có thể là nền của những cụm lều que cọc đơn sơ phủ lá rừng. Dấu tích nằm bên thềm sông Ba được tìm thấy chứng tỏ mô hình quần cư ngoài trời đã tồn tại. Tư duy KGCT sông nước ấy còn hiện diện nhiều trăm ngàn năm sau.

Di chỉ Thẩm Khuyên (Lạng Sơn) 475.000 năm trước cho thấy tư duy cư trú hang đá đầu tiên của Người Đứng thẳng (Erectus). Trong khi di tích Thẩm Ồm (Nghệ An) 80.000-70.000 năm, Homo Sapiens (Người Thông minh) đã xuất hiện với mô hình quần cư thị tộc hang động. Di tích Hang Con Moong (Thanh Hóa), qua 23 lớp địa tầng (từ A đến V) của 5 niên đại khảo cổ học từ 74.000 năm đến ngày nay chỉ rõ 5 phương thức cư trú của 5 giai đoạn lịch sử từ sơ kỳ đã cũ đến hậu kỳ đá cũ. [10,16,17]

Kiến trúc tìm giải pháp cho quá trình tiến hoá của nhân loại.

Loài người từ khi xuất hiện hàng triệu năm trước luôn phải tìm và kiến tạo không gian cư trú. Đó là từ ổ (nest), tổ (niche), sàn ngủ (sleeping plafform), gường (bed), lều, chòi, gác, sàn, ngôi nhà, tòa nhà, đến những tổ hợp không gian làm việc dài ngày trong vũ trụ… ; từ bầy người nguyên thủy sống ngoài trời đến gia đình đối ngẫu, quần cư huyết tộc, thị tộc, bộ lạc liên bộ lạc, làng , siêu làng, thành phố, quần thể, đại đô thị, đến thành phố ngoài trái đất…tất cả chứng minh cho một quá trình kiến trúc tiến hóa không ngừng cùng quá trình tiến hóa của nhân loại. [7,8, 9,11,21,22]

TS.KTS Hoàng Ngọc Hoa
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 1-2024)


Tài liệu tham khảo: 

1. Bendik Hellem Aaby and Grant Ramsey (2013)-Three Kinds of Niche Construction / The British Journal for the Philosophy of Science;
2. Charles Higham (2013)- Hunter-Gatherers in Southeast Asia: From Prehistory to the Present (Department of Anthropology and Archaeology, University of Otago, Dunedin, New Zealand);
3. Conor McAdams, Mike W. Morley, Xiao Fu, Alexander V. Kandyba, Anatoly P. Derevianko, Dong Truong Nguyen, Nguyen Gia Doi and Richard G. Roberts (2022) Late Pleistocene shell midden microstratigraphy indicates a complex history of human–environment interactions in the uplands of northern Vietnam;
4. David M. Buss (1999) Evolutionary Psychology The New Science of the Mind- The University of Texas at Austin;
5. F. John Odling-Smee, Kevin N. Laland and Marcus W.Feldman (2013)-Niche Construction-The Neglected Process in Evolution/ Princeton University Press Princeton and Oxford
6. Hà Văn Tấn. GS (1998)-Khảo cổ học Viêt Nam – Tập 1: Thời đại Đá Việt Nam;
7. Hà Văn Tấn. GS (2003)-Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí minh- THEO DẤU VĂN HÓA CỔ- NXB KHXH HN /2003
8. Kimberly Ma (2011)- The Symmetrical Relationship Between Architecture, Human and Animal-/Part 1 Dissertation 2011/University of Brighton | UK;
9. Lê Bá Thảo(GS)(2023)-Lãnh Thổ Và Các Vùng Địa Lý / NXB DânTrí;
10. Lê Đức An (GS) (chủ biên), Uông Đình Khanh(2012)- ĐỊA MẠO VIỆT NAM/NXB KHKT;
11. Martin, Laura Jane(2016) “How Does Architecture Affect the Evolution of Other Species?” In: “Molding the Planet: Human Niche Construction at Work,” edited by Maurits W. Ertsen, Christof Mauch, and Edmund Russell, RCC Perspectives: Transformations in Environment and Society 2016, no. 5, 49–54. doi.org/10.5282/rcc/7730;
12. Nguyễn Khắc Sử. PGS.TS (2013): Khảo cổ học Tiền sử và sơ sử Sơn la -KHXH HN;
13. Nguyễn Khắc Sử. PGS.TS (2015): Khảo cổ học Thờì đại Đá cũ Bắc Việt Nam- KHXH HN;
14. Nguyễn Khắc Sử. PGS.TS (2016): Khảo cổ học Tiền sử Miền Trung Vệt Nam -KHXH HN;
15. Nguyễn Khắc Sử. PGS.TS (2020): Khảo cổ học Tiền sử nghệ an -KHXH HN;
16. Phạm Huy Thông, Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Khắc Sử (2022)- HANG CON MOONG/ NXB ĐH SƯ PHẠM;
17. Phan Văn Quỳnh, Đoàn Hữu Hiệp (2005)- VAI TRÒ KIẾN TẠO HYMALAYA TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC KHỐI TRỒI TRƯỢT ĐÔNG DƯƠNG- Trường Đại học KHTN/ ĐHQG HN;
18. Ran Barkai (TS), Miki Ben-Dor,Avi Gopher (GS) (2011) Disappearance of the elephant caused rise of modern humans: Dietary change led to modern humans in Middle East 400,000 years ago/American Friends of Tel Aviv University;
19. Richard Leakey (1994)- THE ORIGIN OF HUMANKIND Copyright© 1994 by Richard Leakey e Orion Publishing Group Ltd;
20. STEVEN L. LIMA, NIELS C. RATTENBORG, JOHN A. LESKU & CHARLES J. AMLANER Sleeping under the risk of predation- Department of Ecology & Organismal Biology, Indiana State University, Terre Haute yDepartment of Psychiatry, University of Wisconsin, Madison, U.S.A;
21. Thái Văn Trừng (1998)- NHỮNG HỆ SINH THÁI RỪNG NHIỆT ĐỚI Ở VIỆT NAM- NXB KHKT HN;
22. Thomas C. Scott-Phillips, Kevin N. Laland, David M. Shuker, Thomas E. Dickins,and Stuart A. West (2013)- THE NICHE CONSTRUCTION PERSPECTIVE: A CRITICAL APPRAISAL/ Eolution 68 (5). pp. 1231-1243. ISSN 1558-5646;