Nhà ở sinh viên – Không gian ở tương lai trong bối cảnh hậu Covid-19

TP.HCM là một đô thị đa chức năng, với số dân hơn 9,1 triệu người (số liệu thống kê năm 2021). Đây cũng là trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ, và giáo dục lớn nhất cả nước. Hiện nay, TP.HCM có trên 130 trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau, với số lượng lớn học sinh, sinh viên (SV). Trong đó, có tới 80% SV là người ngoại tỉnh, có nhu cầu rất lớn về chỗ ở trọ tại TP. Nếu như trước đây, người ta quan niệm khu nhà ở dành cho SV chỉ cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản về chỗ ăn, ngủ và học tập; thì ngày nay, quan niệm này đã thay đổi ít nhiều. Đặc biệt là sau dịch bệnh Covid-19, chúng ta đang dần thay đổi tư duy và bắt đầu xuất hiện những phong cách sống mới. Khi giới trẻ có thể làm việc và học tập online từ xa, không còn trở ngại về việc đi lại và khoảng cách địa lý thì không gian ở cũng sẽ trở thành một nơi học tập, làm việc tiện nghi và hiệu quả. Bài viết này giới thiệu một nghiên cứu thực tiễn của nhóm tác giả về nhà ở dành cho SV trong bối cảnh hậu Covid-19 và đề xuất mô hình Co-living vào nhà ở cho SV tại TP.HCM.

Các loại hình nhà ở hiện tại dành cho sinh viên: Nhà trọ thấp tầng, Nhà thuê nguyên căn, Ký túc xá và Căn hộ chung cư

Giới thiệu chung

TP.HCM là một đô thị đa chức năng, với số dân hơn 9,1 triệu người (số liệu thống kê năm 2021), chiếm 9,3% dân số Việt Nam, mật độ dân số trung bình cao nhất cả nước 4.375 người/km². Là Thành phố lớn nhất Việt Nam, TP Hồ Chí Minh cũng là trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ, và giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất cả nước, hiện có trên 130 trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp với số lượng rất lớn học sinh, sinh viên. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh với 6 trường đại học thành viên thuộc Chính phủ và nhiều đại học lớn khác của Thành phố… đòi hỏi nhu cầu chỗ ăn ở rất lớn. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của Thành phố, 40% đến từ các tỉnh thành khác trong cả nước. sinh viên là nhóm người trẻ tuổi, đang trong độ tuổi trưởng thành, có nhiệm vụ học tập, làm việc để hoàn thiện bản thân, chuẩn bị đóng góp sức lao động sáng tạo cho xã hội, cho đất nước. Do đó, nhóm đối tượng này cần có một không gian sinh sống, học tập đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và tái tạo tốt sức khoẻ, tinh thần và trí tuệ. Nhất là những Sinh viên theo học ngành nghề kỹ thuật, nghệ thuật, đòi hỏi sự say mê, sáng tạo và những không gian đặc thù.

Với số lượng sinh viên nhập học ngày càng lớn, mức sống ở đô thị ngày càng tăng cao, chỗ ở của sinh viên là một vấn đề cần nhận được sự quan tâm của các trường đại học, cao đẳng, chính quyền Thành phố, cũng như những chủ khu nhà trọ. Nếu như trước đây, người ta quan niệm khu nhà ở dành cho sinh viên chỉ cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản về chỗ ăn, ngủ và học tập; thì ngày nay, quan niệm này đã thay đổi ít nhiều. Đặc biệt là sau dịch bệnh Covid-19, chúng ta đang có xu hướng thay đổi tư duy và bắt đầu xuất hiện những phong cách sống mới. Khi giới trẻ có thể làm việc và học tập online từ xa, không còn trở ngại về việc đi lại và khoảng cách địa lý thì không gian ở cũng sẽ trở thành một nơi học tập, làm việc tiện nghi và hiệu quả. Vậy tương lai không gian ở dành cho sinh viên trong bối cảnh hậu Covid-19 sẽ như thế nào?

Các loại hình nhà ở hiện tại dành cho SV

Hiện nay, các loại hình nhà ở dành cho SV tại TP.HCM chủ yếu chia làm 4 loại chính:

a) Nhà trọ thấp tầng: Phổ biến nhất và xuất hiện tại các khu vực gần khu công nghiệp, khu chế xuất và trường học. Về bố trí công năng, nhà trọ thường được thiết kế các phòng sát nhau thành một hàng, một dãy dài gồm nhiều căn phòng, sử dụng lối đi chung, phòng có bếp ăn, toilet riêng, hoặc có khu vệ sinh chung cho cả dãy, phòng có gác lửng hoặc không gác,… Ưu điểm chính của loại hình nhà trọ này là mức đầu tư ban đầu thấp, quản lý linh hoạt, giá thuê rẻ và phù hợp với khả năng tài chính của học sinh-SV. Tuy nhiên, nhiều nhược điểm tồn tại là tính riêng tư không đảm bảo, điều kiện trật tự an ninh hạn chế, may rủi, không gian ở dễ bị ồn ào do vật liệu xây dựng kém chất lượng, không theo tiêu chuẩn,…Người thuê phải tự trang bị nội thất và đồ dùng khi đến thuê ở, dẫn tới rủi ro nguy cơ cháy nổ, mất an toàn hệ thống điện, và khí đốt.

b) Nhà thuê nguyên căn: Hình thức thuê nhà ở chung một vài người trong cùng một căn nhà phố, nhà liên kề, trong đó đã được bố trí sẵn nội thất cơ bản. Các tiện ích có sẵn được sử dụng chung như phòng khách, bếp nấu, nhà vệ sinh, chỗ giặt đồ,…. Ưu điểm của loại hình này là phí thuê nhà khá rẻ đối với SV, do chia đều phí cho các thành viên cùng thuê nhà, đồng thời không gian chung cũng tạo ra môi trường giao lưu học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, đối với một số người thì hình thức ở này khá bất tiện vì thiếu không gian riêng tư, các thành viên trong nhà sống chung phòng ngủ lớn, hoặc phòng ngủ chỉ được ngăn cách nhau đơn giản bằng những bức mành, rèm. Ngoài ra, còn vấn đề bất đồng trong lối sống, lịch sinh hoạt mỗi cá nhân khác biệt, và an ninh nội bộ trong căn nhà khi có nhiều người sống chung.

c) Căn hộ chung cư: Có thể coi đây là sự kết hợp giữa hai hình thức nhà trọ thấp tầng và nhà nguyên căn. Tùy theo số lượng người và khả năng chi phí mà người thuê có thể cân nhắc lựa chọn cho phù hợp. Ưu điểm của hình thức này là SV không bị quản lý về thời gian, có đầy đủ các tiện ích cơ bản của một hộ gia đình, cảm giác thoải mái vừa riêng tư vừa có thể giao lưu ở các khu vực sinh hoạt chung, an ninh được đảm bảo. Tuy nhiên, chi phí cho loại hình nhà ở này thường cao, bên cạnh đó, SV còn phải trả thêm các chi phí phát sinh như phí giữ xe, phí dịch vụ các loại,…

d) Ký túc xá: Là công trình qui mô vừa và lớn, gồm một hay nhiều tòa nhà trong một khuôn viên nhất định của trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, để phục vụ nhu cầu lưu trú của giáo viên và SV của mỗi trường. Đa số ký túc xá đều được thiết kế theo các căn phòng tiêu chuẩn, bên trong bố trí giường tầng, dành cho từ 2 – 8 người ở. Trong khu ký túc xá thường có một số tiện ích thêm như căng tin, cửa hàng tiện ích, dịch vụ giặt là, các một vài dịch vụ thiết yếu khác.

Ngoài ký túc xá của các trường đại học, cao đẳng, thì còn có loại ký túc xá tư nhân, do hộ gia đình tự xây dựng và quản lý với qui mô nhỏ, tùy thuộc vào nguồn lực của hộ gia đình. Nói chung, cả hai loại hình ký túc xá đều có điều kiện an ninh khá tốt, tiện ích và nội thất ngày càng hoàn thiện theo nhu cầu phát triển của xã hội và người thuê. Cùng có ưu điểm là nhà gần trường, không tốn thời gian di chuyển và chi phí tương đối thấp. Ngược lại, đa số ký túc xá không cho phép nấu săn trong phòng ở vì lý do an toàn phòng chống cháy nổ, người dùng phải sử dụng khu vực nấu ăn chung để đảm bảo việc quản lý.

Như vậy, hiện nay, các hình thức nhà ở cho SV chỉ đáp ứng từ 1 đến 2 tiêu chí so với những nhu cầu của SV trong thời kỳ hậu Covid-19. Vì thế, nhu cầu tìm hiểu và đề xuất một hình thức nhà ở mới phù hợp với nhóm đối tượng SV trong bối cảnh hậu Covid-19 là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trong thời gian tới.

Những ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và khó khăn về chỗ lưu trú của SV

Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đến cuộc sống của sinh viên

Dịch Covid là một tác nhân mang đến những ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến hầu hết mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội. Trên phương diện kinh tế, hậu quả của đại dịch Covid để lại từ cách thức vận hành của nền kinh tế, đến sự trì trệ trong các hoạt động giao thương, dẫn đến tình trạng suy thoái trầm trọng. Kể cả khi dịch bệnh được kiểm soát thì cũng rất khó có thể phục hồi trong thời gian ngắn. Về mặt xã hội, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm của người lao động gia tăng đáng kể, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của chính những người lao động và gia đình của họ. Học sinh SV cũng là một trong những nhóm đối tượng yếu thế, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những tác động của đại dịch Covid. Các vấn đề về học tập, lối sống sinh hoạt, nhận thức tâm lý, sức khỏe tâm thần đều có những biến động lớn, đòi hỏi nhóm đối tượng này cần có những biện pháp thay đổi kịp thời và phù hợp để thích nghi với tình hình chung của xã hội. Có thể thấy rõ nhất là sự thay đổi trong phương pháp học tập và tiếp cận kiến thức của SV. Học trực tuyến đã trở thành xu hướng phổ biến trong lúc dịch bệnh đang diễn ra và khi dịch đã được kiểm soát. Trong thời kỳ dịch bệnh, đa phần người học cho rằng việc học trực tuyến chỉ là phương pháp tạm thời và việc học sẽ trở về trạng thái ban đầu sau khi tình trạng dịch bệnh được giải quyết. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc học trực tuyến thật sự hữu ích trong nhiều khía cạnh. Phương pháp học mới này cho phép SV hạn chế di chuyển, giảm các chi phí phát sinh cho chính SV, giảm khả năng lây lan dịch bệnh khi không phải tiếp xúc với nhiều người khác. Hơn nữa, trong quá trình học trực tuyến, các bài giảng sẽ được ghi nhận lại giúp SV dễ dàng xem lại để hiểu sâu hơn. Học trực tuyến còn đòi hỏi SV phải nỗ lực tìm hiểu, đọc tài liệu phục vụ cho học tập, từ đó góp phần thúc đẩy ý thức tự học của nhiều SV [5].

Nhà trọ sinh viên tại phường Hiệp Bình Chánh, TP. Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh (Nguồn: Nhóm tác giả, 2021)

Về phương diện sức khỏe tinh thần của SV sau đại dịch Covid-19, theo nhiều số liệu thống kê thì có sự gia tăng tỷ lệ mắc trầm cảm, rối loạn lo âu, thậm chí là ý định tự tử. Tình trạng này có thể được ghi nhận trong thời điểm bùng phát dịch, hoặc cũng có thể kéo dài và thậm chí khởi phát một thời gian rất dài sau khi kết thúc dịch bệnh. Stress, mất ngủ, thay đổi tính cách, sao nhãng chuyện học… là những lý do dẫn đến rối loạn căng thẳng sau sang chấn ở SV. Đây là một phần trong kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM) [5] về những ảnh hưởng của hậu Covid-19 đến sức khỏe giới trẻ.

Về những khó khăn trong việc lưu trú của SV hậu Covid-19; qua kết quả phỏng vấn và khảo sát trong năm 2022 của hơn 80 SV từ Trường ĐH Tôn Đức Thắng và các trường ĐH khác ở TP.HCM, cho thấy mỗi mô hình nhà ở của SV đều có những hạn chế khác nhau. Hơn 45% SV làm khảo sát đã cho rằng diện tích của nơi ở bao gồm cả kí túc xá và nhà trọ là rất hạn chế, đặc biệt là nơi ở dành cho SV theo học ngành thiết kế sáng tạo cần nhiều không gian làm việc như kiến trúc, đồ họa, thời trang,… Việc chia sẻ không gian với các bạn cùng phòng để tiết kiệm chi phí cũng góp phần làm giảm thiểu không gian cá nhân của mỗi người. Xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, các SV nữ thường có lựa chọn nấu ăn ngay tại phòng ở nhằm tiết kiệm chi phí sinh hoạt. Do vậy, hạn chế phổ biến là các khu nhà trọ/ ký túc xá không bố trí bếp, hoặc không có gác xép (lửng) để ngăn không gian ngủ với không gian nấu nướng, và không có cửa sổ thoát mùi hôi. Ngoài ra, không gian dành cho chỗ để xe máy quá hạn chế, chật chội và gây nguy cơ cháy nổ cũng là một vấn đề đáng lưu ý. Vì diện tích nhỏ, ở trên gác lửng trần thấp, một số nơi trọ thậm chí không bố trí cửa sổ để thông gió và chiếu sáng tự nhiên, khiến cho không gian ở trở nên ngột ngạt và ẩm thấp. Thường những căn nhà đó sẽ phải mở quạt gió, máy lạnh để điều hòa nhiệt độ trong phòng, khiến chi phí cho điện nước tăng lên, mà không gian cũng không được thông thoáng tự nhiên, không có sự tiện nghi thoải mái. Vấn đề cách âm kém do làm tường mỏng cũng ảnh hưởng đến sự riêng tư của người sử dụng, đặc biệt là những phòng có nuôi thú cưng cũng thường bị than phiền từ các phòng bên cạnh do tiếng ồn.

Bên cạnh những hạn chế nói chung về nơi ở, kết quả khảo sát cũng cho thấy những khó khăn vào giai đoạn dịch bệnh Covid. Khi bắt buộc phải tham gia các lớp học trực tuyến, SV không tránh khỏi những trục trặc về đường truyền, về thiết bị nghe nhìn trên máy tính, hạn chế trong việc tương tác với giảng viên hoặc giữa người học với nhau. Tâm lý mệt mỏi, “bão hòa” khi học tập trước màn hình thiết bị điện tử quá lâu trong nhiều ngày gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng tiếp thu kiến thức, tác động đến sức khỏe tinh thần. Nhất là đối với SV kiến trúc khi phải làm các đồ án chuyên ngành, cần có sự trao đổi giữa SV và người hướng dẫn, thì việc sửa bài trực tuyến là một bất lợi lớn cho SV. Ngoài ra, các môn học thể chất đòi hỏi cần phải có sơ sở vật chất như bơi lội, bóng chuyền, … cũng bị hạn chế nên chất lượng học tập, rèn luyện không đảm bảo.

Mặc dù đa số SV đều về quê trước khi dịch đạt đỉnh, nhưng vẫn có một số SV cố bám trụ ở lại TP. Sự bất tiện lớn nhất là không được ra khỏi KTX trường, chỉ hạn chế di chuyển và sử dụng các tiện ích được giới hạn trong khuôn viên trường. Đối với những SV ở nhà trọ, phòng ở nhỏ, ngột ngạt, thiếu khoảng cách, thiếu dưỡng khí, thậm chí thiếu điện nước, thiếu thực phẩm, nguy cơ lây chéo bệnh tật,… là những trải nghiệm đáng sợ mà không ai muốn chứng kiến lần thứ hai trong đời.

Mô hình nhà ở Co-living & khả năng vận dụng tại Việt Nam

Co-living là một hình thức chung sống tập thể, có mục đích chia sẻ xã hội và được coi là một cách tiếp cận hiện đại đối với nhà ở. Mô hình được xem là một giải pháp thay thế phù hợp với lối sống hiện đại và tập trung vào các mối quan hệ xã hội [McCamant,1994]. Co-living bao gồm những không gian riêng (phòng ở) và những không gian chung được chia sẻ bởi nhóm người trẻ tuổi có cùng sở thích hay công việc giống nhau. Khi sống chung, họ sẽ cùng nhau chia sẻ một số không gian như bếp, phòng sinh hoạt, vệ sinh, thiết bị hoặc dịch vụ cho các hoạt động giải trí, thư giãn, tập thể thao,…. Những không gian riêng là những không gian nghỉ ngơi với nhiều diện tích khác nhau nhằm đáp ứng số lượng người ở khác nhau và được bố trí xung quanh những không gian chung [Tummers, L., 2016]. Co-living chú trọng đến tính cộng đồng và sự tương tác giữa những người ở với nhau. Họ có thể gặp gỡ, trò chuyện thân mật, trao đổi kinh nghiệm và kiến thức hay chia sẻ nguồn lực, để mở rộng kết nối và có những trải nghiệm sống, giúp họ giải tỏa căng thẳng do dịch bệnh gây ra. Xu thế sống chung Co-living được coi là một trong những mô hình nhà ở giúp cải thiện tình hình gia tăng dân số tại thành thị, và đặc biệt rất phổ biến với những người độc thân và giới trẻ.

Nhà trọ phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9, Tp. HCM (Nguồn: Nhóm tác giả, 2021)

Trong bối cảnh nhu cầu về nhà ở tại các TP lớn tăng cao thì chi phí thuê nhà, mua nhà cũng theo đó ngày càng cao. Người trẻ tuổi mới đi làm luôn gặp khó khăn để sở hữu một căn nhà riêng, họ có xu hướng tìm kiếm nhà cho thuê để có một cuộc sống độc lập và linh hoạt khi chuyển đổi công việc. Ngoài ra, sự bùng nổ về công nghệ, mạng xã hội thúc đẩy con người ngày càng tương tác nhiều với nhau kể cả trực tuyến hay trực tiếp. Họ muốn tìm kiếm những giá trị tinh thần cộng đồng [Durett, C. 2211]. Những người trẻ tuổi bị thu hút bởi những hoạt động mang tính tương tác xã hội cao và các không gian sinh hoạt chung, nơi tổ chức các hoạt động xã hội, sự kiện ngoài trời. Nói tóm lại, giới trẻ luôn tìm kiếm sự trải nghiệm mới và vui vẻ khi được hòa nhập vào cộng đồng.

Vì vậy, nhà ở dạng Co-living sẽ có tiềm năng thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng giữa những người trẻ tuổi có cùng sở thích. Ngoài ra, sinh sống và làm trong một không gian như Co-living sẽ giải quyết những nỗi lo về chi phí thuê nhà cao, giúp những người trẻ giảm bớt gánh nặng về các khoản chi tiêu hàng tháng của mình [Sanguinetti, A, 2014]. Theo đó, xu hướng này mang đến nhiều cơ hội mới cho các nhà đầu tư tại Việt Nam, những người hướng tới đối tượng là những người trẻ tuổi mong muốn ra ở riêng.

Sau đại dịch Covid-19, xu hướng làm việc từ xa ngày càng được áp dụng một cách linh hoạt. Một số trường đại học và các doanh nghiệp sử dụng lao động đang có xu hướng đưa ra nhiều lựa chọn để người học và nhân viên có thể dễ dàng chủ động trong công việc và học tập thông qua các nền tảng công nghệ. Người lao động – người học có thể lựa chọn làm việc, học tập từ xa mà không nhất thiết phải tới văn phòng hay giảng đường. Do đó, nhu cầu về một không gian sống rộng rãi hơn, nhiều tiện ích hơn đang là xu hướng phổ biến được nhiều người trẻ lựa chọn để có thể cân bằng giữa công việc và cuộc sống.

Trên cơ sở thực tiễn tại Việt Nam và phân tích xu hướng phát triển mô hình lưu trú trên thế giới, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã đề xuất ban đầu về ý tưởng và giải pháp thiết kế nhà ở cho nhóm đối tượng SV. Đây có thể coi như những dự đoán và mong muốn về tương lai không gian ở dành cho SV trong bối cảnh hậu Covid-19.

Với nhận định rằng: Phần lớn người ngoại tỉnh nói chung, và SV nói riêng khi đến TP.HCM học tập và làm việc đều lựa chọn một trong số hình thức lưu trú là: Nhà trọ thấp tầng, nhà thuê nguyên căn, nhà chung cư hay Ký túc xá.
Học sinh – SV về TP tìm nơi trọ học thường có xu hướng tự do đi lại, thỏa mãn thói quen sinh hoạt tự do của tuổi trẻ, ít chịu được gò bó theo khuôn phép. Ngoài ra, họ cũng có đặc điểm dễ dàng di chuyển chỗ ở, một phần vì bản thân không vướng bận gia đình (người trẻ tuổi, độc thân). Tuy nhiên, việc di chuyển cũng chỉ diễn ra trong vòng bán kính nhất định, xoay quanh vị trí của trường học nơi họ đang theo học. Vì thế hình thức, qui mô nhà ở cũng phải linh động phù hợp với nhiều nhóm đối tượng độc thân. Và nhu cầu ở của đối tượng này cũng khá đơn giản, chủ yếu cần chỗ ngủ, ăn uống, WC và góc nhỏ phục vụ học tập (Hình 10-11-12).

Không gian chung trong mô hình Co-living (Nguồn: https://kienviet.net/2021/coliving)

Trong thời gian qua, đã có một số hoạt động mang tính nghề nghiệp như các cuộc thi thiết kế, trại hè, workshop về đề tài nhà ở cho SV. Với ý nghĩa cao đẹp là thông qua hoạt động của giới kiến trúc để tác động tích cực đến cộng đồng xã hội, nhằm tạo dựng những không gian ở linh hoạt, đáp ứng các yêu cầu về công năng, thẩm mỹ, cá tính, và bản sắc. Những đề xuất ý tưởng và kiến trúc không gian ở cho SV dưới đây được thực hiện bởi các SV ngành kiến trúc, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của tác giả trong năm 2021-2022. Đó là những ý tưởng mới và thể hiện tính sáng tạo, linh hoạt cho những không gian ở (ngoại thất và nội thất), thể hiện mối quan tâm đến đặc điểm và nhu cầu cá nhân của nhóm đối tượng thanh niên. Không chỉ có thế, các không gian ở còn có khả năng tích hợp một số chức năng, cũng như có tính thích ứng cao trong bối cảnh kinh tế – xã hội tiềm ẩn nhiều biến đổi.

Sơ đồ về không gian chung và riêng trong nhà ở Co-living
(Nguồn: Nhóm tác giả, 2021)
Tương lai không gian ở dành cho sinh viên hậu Covid-19

Thay lời kết

  • Co-living là mô hình sống hiện đại với những không gian chung được chia sẻ cho những người trẻ có cùng niềm đam mê, sở thích hay công việc giống nhau, cùng sống chung trong một tòa nhà, căn hộ hoặc chung cư. Với đối tượng sử dụng là SV, mô hình này đáp ứng đầy đủ tính kết nối, tiết kiệm, sự tiện nghi và phù hợp với việc phát triển kỹ năng cá nhân của từng SV;
  • Mô hình lưu trú mới này kết hợp không gian sống riêng tư với nhiều khu vực chung như: Không gian học tập và làm việc, khu giải trí, thư giãn, phòng tập thể dục, bể bơi,… Vì vậy, ở co-living có chỗ cho cả sự riêng tư, độc lập và cả cuộc sống cộng đồng. Khi học tập, làm việc online từ xa trở thành một lựa chọn, thì sẽ có nhiều người thích khám phá lối sống riêng tư, dần tránh xa các khu trung tâm ồn ào náo nhiệt và chứa nhiều ô nhiễm. Lối sống này có xu hướng phát triển trong bối cảnh hậu Covid-19;
  • Chính những ý tưởng mới mẻ, sáng tạo này khi được xã hội biết đến sẽ góp tiếng nói và thúc đẩy chính quyền TP và các cơ sở giáo dục đại học quan tâm và tạo điều kiện hơn nữa về nơi ăn và chốn ở cho nhóm đối tượng học sinh và SV, giúp họ có thể làm việc, học tập từ xa mà không nhất thiết phải tới văn phòng hay giảng đường;
  • Nhìn từ góc độ xã hội, trong bối cảnh cuộc sống chúng ta đang phải đối diện với thiên tai, dịch bệnh, điều kiện sống còn nhiều khó khăn, việc tiêm vaccine cho nhóm đối tượng SV cũng chậm hơn các nhóm ưu tiên khác, thì những nghiên cứu và đề xuất sáng tạo cho không gian nhà ở SV, hay của người lao động nói chung, theo hướng mô hình nhà ở hợp tác là rất cần thiết và có ý nghĩa.
Đề xuất ý tưởng không gian ở và sinh hoạt dành cho sinh viên (Nguồn: Nhóm tác giả, 2021)
Đồ án thiết kế nhà ở dành cho sinh viên tại Khu KTX A Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh
(Nguồn: Nhóm tác giả, 2021)

PGS.TS.KTS Ngô Lê Minh
Dương Quang Đạt
Nguyễn Thị Kim Thoa
Trường Đại học Tôn Đức Thắng
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2023)


Tài liệu tham khảo
[1] Durrett, Charles (2009). Senior Cohousing: Phương pháp tiếp cận cộng đồng để sống độc lập. Nhà xuất bản Xã hội Mới.
[2] Durett, C.; McCamant, K. (2011). Creating Cohousing: Building Sustainable Communities; New Society Publishers: Gabriola Island, BC, Canada
[3] Hương Lan, (2021). Co-Living: Xu hướng sống mới, Kienviet.net. Link: https://kienviet.net/2021/05/23/co-living-xu-huong-song-moi
[4] McCamant, Kathryn; Durrett, Charles (1994). Cohousing: Phương pháp tiếp cận đương đại đối với nhà ở của chính chúng ta. Berkeley, Ca: Ten Speed Press
[5] Nhân Dân Điện Tử. Ảnh hưởng hậu Covid-19 đến giới trẻ. Link: https://nhandan.vn/anh-huong-hau-covid-19-den-gioi-tre-post719493.html
[6] Sanguinetti, A. (2014). Transformational practices in cohousing: Enhancing residents’ connection to community and nature. J. Environ. Psychol. 2014, 40, 86–96
[7] Tummers, L.( 2016). The re-emergence of self-managed co-housing in Europe: A critical review of co-housing research. Urban Stud. 2016, 53, 2023–2040
[8] Tổng cục thống kê, 2019. Tổng điều tra dân số và nhà ở tháng 4/2019. Link: https://www.gso.gov.vn
[9] Trường Đại học Tôn Đức Thắng, (2021). Tài liệu giảng dạy môn Chuyên đề kiến trúc nhà ở và môn Họa thất 8.