Kiến trúc Xanh trong Quy hoạch xây dựng Kiến trúc dân gian Việt Nam

 Các giải pháp về lựa chọn địa điểm

Tiêu chí về “Địa điểm bền vững” (Sustainable Sites) và “Hiệu quả nguồn nước” (Water Efficiency) sẽ được được cụ thể hóa trong các giải pháp về lựa chọn địa điểm. Đó là:

– Đối với công tác quy hoạch xây dựng, trước hết chọn lựa địa điểm xây dựng thích hợp về địa chất, tận dụng được địa hình tự nhiên và nguồn thủy sinh tại chỗ. Tại Việt Nam, đối với các vùng ngập lũ theo mùa phải chú ý cách sắp xếp nhà cửa, hệ thống giao thông ngăn chặn dòng chảy gây úng sau lũ, hoặc tốc độ dòng chảy tăng phá hủy công trình, nhiều khu đất bị xói lở.

– Hướng dẫn thiết kế tận dụng tối đa độ dốc địa hình; chống đào đắp, nên xây dựng công trình song song bình đồ. Tận dụng dòng chảy để cấp nước thô, xử lý để sử dụng cho đô thị.

– Chống lãng phí đất thông qua các giải pháp: điều tra, thống kê quỹ đất, diện tích mặt nước đang bị ô nhiễm, suy giảm chất lượng để tích cực ngăn chặn và có phương án phục hồi ; điều tra khoanh định các khu vực có nguy cơ sụt lở đất ở ven sông, có giải pháp xử lý khoa học và triệt để.

– Đẩy mạnh công tác đánh giá tác động môi trường trong đồ án quy hoạch, nhất là tại các khu công nghiệp, khu đô thị mới, sân golf, là nơi dễ gây ô nhiễm nước, đất, sông hồ kề cạnh và để lại hậu quả lâu dài.

– Thực tế là mật độ xây dựng tại các thành phố lớn ở Việt Nam rất cao nhưng hệ số sử dụng đất lại rất thấp. Vì chiếm dụng mặt bằng quá nhiều nên nhà ở chia lô manh mún, ngược lại khoảng không gian trên cao nơi có chất lượng không khí tốt hơn, tầm nhìn phóng khoáng hơn lại được sử dụng quá ít. Phải khuyến khích các địa phương, các chủ đầu tư lập quy hoạch chỉnh trang đô thị bằng cách giải phóng các khu ở thấp tầng, nhà lô phố để tổ hợp thành khu ở cao tầng với tiện nghi tốt hơn, vệ sinh và văn minh hơn. Đồng thời dành được thêm quỹ đất tạo lập công trình công cộng phục vụ cộng đồng, làm cho môi trường trở nên sinh động và thân thiện hơn.

Các giải pháp định hướng không gian kiến trúc đô thị

Tối ưu hóa mạng lưới giao thông, giảm thiểu nhu cầu sử dụng đất bằng giải pháp thiết kế đường tàu điện ngầm, đường nổi trong không gian, nghiên cứu xây dựng khu vực để xe, siêu thị trong lòng đất. Ngầm hóa hệ thống đường dẫn thông tin, cáp điện, dành không gian cho đi bộ và cây xanh, phục vụ nhu cầu sống và cải thiện môi sinh đô thị.

Phát triển các giải pháp tiết kiệm mới trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch, đặc biệt chú trọng các giải pháp năng lượng khép kín (như mô hình VAC của kiến trúc truyền thống) trên cơ sở ứng dụng các phát minh khoa học kỹ thuật tổng hợp trên mọi ngành nghề lĩnh vực, như: nguồn nước dùng cho sinh hoạt dân cư sẽ là nước mưa được xử lý thành nước sạch, còn nước thải trong khu đô thị sẽ được xử lý trở thành nước tưới cây; rác thải được tận dụng để sản xuất điện, phân bón…; vật liệu xây dựng được sản xuất theo công nghệ mới, chống nắng, chống cháy, chống động đất, tận dụng vật liệu địa phương thân thiện với môi trường…; các phương tiện giao thông tận dụng năng lượng mặt trời, quy hoạch xây dựng nơi làm việc gần với nơi ở để người dân có thể tự đi bộ hoặc đi xe đạp đến chỗ làm; lối vào ra của khu đất phải đảm bảo tận dụng được mạng lưới giao thông công cộng; khoảng cách đến điểm giao thông công cộng không nên quá 500m đi bộ; về kinh tế, đô thị xanh – sinh thái – tiết kiệm năng lượng sử dụng tập trung sức lao động thay vì tập trung sử dụng nguyên liệu, năng lượng và nước; cần chú trọng giữ gìn, phát triển nâng cao giá trị của các yếu tố đặc trưng của môi trường sinh thái tự nhiên; cần có rất nhiều khoảng “thở”, phải có những khoảng không gian cây xanh, cảnh quan nằm trong lõi nhà hay đan xen liên tục từng tiểu khu ở.

Để đạt được các tiêu chí trên, cần có những nghiên cứu sâu sắc về điều kiện tự nhiên và xã hội của khu vực hay vùng quy hoạch để đưa ra các giải pháp và quyết định phù hợp. Trong quá trình vận hành, để duy trì và đạt được mục tiêu sinh thái, cần có những biện pháp phối hợp liên ngành như tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, nâng cao nhận thức cộng đồng, áp dụng công nghệ sạch, sử dụng các vật liệu xây dựng sinh học, sử dụng các nguồn thiên nhiên có thể tái tạo được (mặt trời, gió), giảm tiêu thụ năng lượng, tránh lãng phí và tái sinh phế thải.

Các công trình kiến trúc trong đô thị chịu tác động trực tiếp từ hướng gió chủ đạo theo mùa, hình thành vùng áp lực đẩy, vùng gió xoáy trên bề mặt đón gió của công trình (vùng áp lực dương) và vùng quẩn gió ở các bề mặt của công trình bị khuất gió (vùng áp lực âm), tùy theo đặc điểm của hướng gió thổi đến, độ lớn hình khối của công trình theo các phương. Do đặc trưng này, trong thiết kế quy hoạch tổng thể cần nghiên cứu bố cục đảm bảo hiệu quả thông gió, với khoảng cách giữa các công trình hợp lý, hạn chế bố trí công trình nằm trong vùng gió quẩn của công trình kế cận.

Xét trên tổng thể, các công trình kiến trúc trong đô thị không thể bố trí theo một hướng nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu thông gió tự nhiên và tránh bức xạ mặt trời trong toàn bộ thời gian. Mặt khác, tùy theo vị trí tương quan với hướng gió thổi theo từng thời điểm, không phải công trình nào cũng có phương vị bố trí thuận lợi với hướng gió chủ đạo theo mùa. Việc nghiên cứu hình khối và phương hướng tối ưu của công trình cần được xem xét trong quy hoạch tổng thể đô thị, với sự tương quan của địa hình và các nhóm nhà với nhau, giữa công trình cũ và công trình xây mới.

Kết luận
Trong những năm qua, tình hình xây dựng tại các đô thị Việt Nam phát triển mạnh mẽ theo đà tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, như các nước đang phát triển, một vấn đề đặt ra là quá trình xây dựng có những tác động tiêu cực đến văn hóa và môi trường. Công nghệ và vật liệu truyền thống thường bị chối bỏ bằng việc ưa chuộng các sản phẩm và vật liệu nhập ngoại đắt tiền, đôi khi không hề tiết kiệm năng lượng, lợi nhuận thì lại rơi vào tay các nhà sản xuất tại các nền kinh tế phát triển.

Do đó, môi trường khí hậu tại Việt Nam đã có những thay đổi đáng báo động: bão lụt triền miên, ô nhiễm môi trường nước, môi trường khí, hiệu ứng nhà kính… Với tất cả những tác động gần, xa, những trách nhiệm cùng quyền lợi khái quát trên, việc nhận thức và áp dụng một mô hình kiến trúc tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường là một công việc mang tính cấp thiết để đảm bảo phát triển bền vững tại các đô thị Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, quy hoạch theo hướng kiến trúc xanh là hướng đi tất yếu của kiến trúc thế giới và Việt Nam, bởi vì nó đáp ứng được các yêu cầu giá trị của kinh tế, văn hóa, công nghệ – các yêu cầu về chất lượng cuộc sống hiện tại, quá khứ và tương lai – đó cũng là thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của các KTS, các nhà quy hoạch đối với các thế hệ tương lai của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.

TS.KTS lê bích thuận

 Tài liệu tham khảo

1. Đề tài NCKH khoa học “Nghiên cứu mô hình Kiến trúc xanh tại Việt Nam nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” – TS.KTS. Lê Thị Bích Thuận

2. USGBC. LEED. Green Building Rating System for New Construction & Major Renovations. Version 2.2. For Public Use and Display. 2005.

3. Architecture & Building Reseach Institute, Ministry of the Interior, Taiwan, “Good to be Green- Green Building Promotion Policy in Taiwan”, 2006.

9. PGS.TS. Phạm Đức Nguyên, TS. Nguyễn Thu Hòa, Phạm Quốc Bảo, “Các Giải Pháp Kiến Trúc Khí Hậu Việt Nam”, Nhà Xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2006.

10. PGS.TS.Ngô Thám, ThS.Nguyễn Văn Điền “Kiến trúc năng lượng & môi trường”, Nhà xuất bản Xây dựng, 2007.

13. Nguyên Vũ (dịch) “BREEAM, GBC và LEED, các hệ thống đánh giá kiến trúc xanh trên thế giới”- Báo Xây dựng 2008.