Phương thức tiếp cận Bản sắc (văn hoá dân tộc) trong kiến trúc hiện đại

Khi Bản sắc văn hoá dân tộc trong kiến trúc được đưa vào Luật, vấn đề này sẽ mang lại nhiều cơ hội và không ít thách thức, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn đó những nguy cơ, trong trường hợp địa phương có sự áp dụng máy móc, thiên lệch hoặc sai lệch. Vì bản sắc trong kiến trúc nói riêng và bản sắc văn hoá nói chung có đặc tính không thể nắm bắt chỉ bằng định nghĩa hay khái niệm.

Về bản sắc văn hoá trong kiến trúc

“Văn hoá là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó” (J. Derrida/)/ Người đưa tin UNESCO số 11/1988.

Bản sắc văn hoá luôn là một thể tài được bàn luận nhiều, lúc thăng lúc trầm nhưng chưa khi nào dứt. Đã có nhiều, rất nhiều những định nghĩa khái niệm văn hóa và nội hàm về bản sắc như những “áng mây xoay vần” vừa gần gũi, vừa xa xôi, vừa cụ thể nhưng cũng rất trừu tượng, khó nắm bắt.

Kiến trúc là một thực thể đặc biệt, một dạng lai (hybrid) điển hình, vừa là vật thể (khối vật liệu), vừa phi vật thể (khoảng không gian), vừa là nghệ thuật, vừa là kỹ thuật, vừa là tự nhiên vừa là công nghệ, vừa là tập quán vừa là khoa học, vừa là sao chép (kế thừa) vừa là sáng tạo; Quá trình phát triển vừa tuyến tính vừa chu kỳ. Cứ như vậy, “vô thuỷ, vô chung” (không có khởi đầu và không có kết thúc) và, có thể sẽ là bế tắc nếu chúng ta tiếp tục tìm hiểu theo hướng duy lý.

Nói về bản sắc, về sự tiếp biến văn hoá, tức về “cái đang là”, cái hiện hữu. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ không sa vào bàn luận về khái niệm mang tính hàn lâm, học thuật. Các bài học thực tiễn cần được coi là một lựa chọn thức thời với kỳ vọng khiêm tốn nhằm mang lại công cụ gợi mở cho cộng đồng cùng tham gia sáng tạo, thụ hưởng, hành nghề và quản lý bản sắc văn hoá trong kiến trúc theo hướng tích cực.

Về một số đặc trưng của bản sắc văn hoá trong kiến trúc

Nhận diện bản sắc văn hoá (dân tộc) trong kiến trúc có thể nghiên cứu bắt đầu từ Hình thái học gồm hình dáng, mô thức (tổng thể), kiểu thức (chi tiết); Công nghệ, kỹ thuật (trình độ văn minh); Khả năng thích ứng với các điều kiện tự nhiên; Thị hiếu thẩm mỹ (nhu cầu về phong cách, thể thức). Cũng có thể từ Tập quán, Phương thức tổ chức cộng đồng; Khế ước xã hội hay Thành tựu cá nhân (tác giả).
Việc hình thành, bảo tồn, bảo vệ bản sắc trong kiến trúc có thể theo các hướng tiếp cận dân gian, thị trường, môi trường, tinh hoa và sáng tạo, chính thể, hàn lâm hay đơn giản là để xã hội tự điều tiết.

Các phương thức tiếp cận bản sắc văn hoá trong kiến trúc

Trên thực tế mỗi phương thức dù với mục tiêu sáng tạo, hình thành, tiếp nhận, thụ hưởng hay quản lý bản sắc đều có thể mang lại những giá trị, kết quả đặc trưng, khác biệt và không thể so sánh.

Ngôi đền Nước  (Water Temple)
Nhà thờ Ánh sáng (Church of the Light)

1) Tiếp cận theo Phương thức Dân gian: Sáng tạo, thụ hưởng hay quản lý đều trên cơ sở tôn trọng, bảo tồn giá trị của bản sắc; kế thừa, chuyển dịch tiếp biến tự nhiên của văn hoá. Theo đó, nhu cầu bảo tồn tinh thần, tình cảm, tập quán, phong tục địa phương của cộng đồng xã hội tạo nên kết quả đặc trưng có tính tương đồng về hình thức (vật thể) và hình thái (phi vật thể). Phương thức này có xu hướng tự nhiên là hướng nội, chống ngoại lai nhưng rất nhạy cảm với nhu cầu của thị trường, môi trường (xã hội và tự nhiên).

2) Tiếp cận theo Phương thức Giao lưu (thị trường và môi trường): Tôn trọng nhu cầu du nhập văn hoá từ Nơi Khác, Người Khác từ các xu hướng, nhu cầu công nghệ (cá thể hoặc số đông), nhu cầu cuộc sống, tâm lý hướng ngoại, đa văn hoá. Đặc trưng của phương thức này là tạo nên những công trình kiến trúc thích ứng với biến đổi thị trường, môi trường, thời cuộc, có khả năng tuỳ biến và tính chất bản địa kép (đặc trưng sở tại chung sống với đặc trưng nơi khác).

3) Tiếp cận theo Phương thức Tinh hoa và Sáng tạo: Tạo nên những giá trị mới mang tính định hướng, dẫn dắt, độc đáo, duy nhất gắn với bảo vệ bản quyền tác giả (tổ chức và cá nhân). Thu hút tinh hoa thế giới thực hiện các dự án mang bản sắc địa phương hoặc sáng tạo nghệ thuật và công nghệ hình thành những sản phẩm duy nhất, chưa từng có (ở nơi khác). Đặc trưng của phương thức này chịu sự chi phối của tầm nhìn Chính giới, sự công bằng và sức hấp dẫn địa phương. Kết quả của phương thức này, theo đó, thường mang tới những bất ngờ.

4) Tiếp cận theo Phương thức Chính thể: Thông qua những quy định, quy chế bắt buộc của chính quyền, hội đoàn, công xã, tập thể. Đó có thể là các công trình đặt hàng dựa trên những yêu cầu học thuật hàn lâm hay đơn giản là những kế hoạch đầu tư xây dựng. Đặc trưng của phương thức này là tạo nên những công trình đáp ứng nhu cầu cấp thiết và thời sự, mang dấu ấn đương thời.

5) Tiếp cận theo Phương thức Cộng đồng xã hội: Lấy thời gian làm đồng minh, phương thức này cho phép quá trình chà xát, chọn lọc, tự điều chỉnh trong suốt quá trình hình thành, phát triển và bảo vệ bản sắc văn hoá trong kiến trúc. Kết quả nhận được thường là những công trình, nhóm kiến trúc có tính trung dung, dung hoà các khuynh hướng, xu hướng và phong cách khác nhau, tạo nên sự khác biệt mang tính tổng thể.

Bảo tàng nghệ thuật Baroque quốc tế, Mexico

Trên thực tế, rất hiếm trường hợp thuần khiết duy trì từ đầu đến cuối một phương thức tiếp cận trong quá trình hình thành, bảo tồn và thụ hưởng bản sắc văn hoá. Các công trình kiến trúc chủ yếu tồn tại dưới các dạng hỗn hợp các phương thức, sự pha trộn, giao thoa giữa các nền văn hoá, có thể phân tích các trường hợp cụ thể, dễ nhận biết ở một số quốc gia.

Kinh nghiệm thực tiễn về kiến trúc và bản sắc văn hóa

Khảo cứu các quốc gia về áp dụng các phương thức tiếp cận trong việc hình thành, bảo tồn, thụ hưởng và quản lý bản sắc văn hoá truyền thống trong kiến trúc:

Tại Nhật Bản: Khảo cứu Đền Ise (thành phố Ise, tỉnh Mie) là một trường hợp điển hình của phương thức tiếp cận dân gian và chính thể trong việc việc hình thành, tái tạo, bảo vệ bản sắc văn hoá được duy trì theo chu kỳ, bất biến từ kỹ thuật, công nghệ đến xuất xứ vật liệu. Tadao Ando, tác giả của những công trình bằng bê tông có đặc tính tối giản (minimalism), vật liệu tự nhiên mang phong cách đặc trưng về quan điểm thẩm mỹ Nhật Bản với Ngôi đền Nước (Water Temple) và Nhà thờ Ánh sáng (Church of the Light) là trường hợp điển hình của phương thức Tinh hoa và sáng tạo thuần khiết vì gu thẩm mỹ (aesthetic) là trừu tượng. Một tác giả khác cũng thành công và nổi tiếng không kém là Toyo Ito với hình thái kiến trúc phát triển công nghệ mới, đương đại (với Bảo tàng Kiến trúc Toyo Ito và Bảo tàng nghệ thuật Baroque quốc tế, Mexico) kết hợp giữa phương thức Dân gian (nghệ thuật gấp giấy Origami) với Tinh hoa và Sáng tạo.

Kinh nghiệm từ Anh: Khảo cứu Bảo tàng kiến trúc dân gian ngoài trời (Weald and Downland Living Museum)/, khu làng sinh thái BedZED (BedZED village in South London), các tác giả Richard George Rogers (với Tòa nhà LLoyd) và Norman Robert Foster (với The Gerkin – “Quả Dưa Chuột” và Tòa thị chính London), các công trình phong cách Công nghệ cao (High-tech) cho thấy đặc điểm chung, xuyên suốt lịch sử tại Anh luôn có phát minh công nghệ phục vụ bản chất cuộc sống, thực tế là chất Anh đậm nét mà không cần phải sao chép lại hình thức. Bản sắc ở đây là duy trì song hành nhiều phương thức cùng lúc (Dân gian, Giao lưu với Tinh hoa và Sáng tạo).

Kinh nghiệm từ Pháp: Khảo cứu Mái nhà lợp kẽm ở Paris (di sản kiến trúc Haussmann thời Napoleon Đệ Tam), tháp Eiffel, bảo tàng Louvre, Trung tâm Georges-Pompidou. Các công trình này dù có xuất xứ tác giả là người Pháp (Georges Eugène Haussmann, Gustave Eiffel), người Mỹ gốc Hoa (Ieoh Ming Pei), người Anh (Richard George Rogers) hay người Ý (Renzo Piano) đều có đặc tính chung về bản sắc Paris là duy mỹ, coi trọng sự hài hoà và tinh tế. Cũng giống như các “thủ đô của thế giới khác”, thành phố Paris kết hợp giữa các phương thức Chính thể, Tinh hoa và sáng tạo, Cộng đồng xã hội với Giao lưu (thị trường và môi trường) song phần nào đó lại vắng bóng phương thức Dân gian.

Kinh nghiệm từ Trung Quốc: Khảo cứu các khu phố cổ, phố mới, trung tâm phố Đông (Thượng Hải), thành phố Bắc Kinh với Nhà hát lớn quốc gia của Kiến trúc sư Paul Andreu (Pháp), sân vận động “Tổ Chim” với hãng thiết kế Herzog & de Meuron (Thuỵ Sĩ). Không giống với một số quốc gia Đông Á khác, Trung Quốc đã duy trì được sự kết nối liên tục giữa truyền thống và hiện đại bằng cách sẵn sàng làm mới lại các công trình kiến trúc truyền thống (không chỉ trùng tu). Đồng thời với mong muốn trở thành một trong những “thủ đô toàn cầu”, trên danh nghĩa, Thượng Hải, Bắc Kinh có chính sách (phương thức Chính thể) thu hút các KTS hàng đầu thế giới đến để tạo nên truyền thống mới, bản sắc mới. Tại 2 thành phố này đã duy trì cùng lúc cả 5 phương thức nêu trên (bao gồm cả phương thức Dân gian) có tính du nhập cao và nhận kết quả kép là lần đầu tiên Trung Quốc có tác giả được giải thưởng Pritzker (Wang Shu/ Giải thưởng Pritzker 2012) về những thành tựu kiến trúc bản địa.

Kinh nghiệm từ Mỹ: Khảo cứu từ thiết kế đô thị và các công trình trung tâm thành phố nhỏ như Cincinnatti, không chỉ nổi tiếng với biểu tượng con lợn bay (Cincinnati’s iconic flying pigs), mà còn với chiến lược mời những KTS nổi tiếng, “mỗi tác giả một công trình” thu hút các tác giả “ngôi sao thế giới” (starchitects) như Michael Graves, Peter Eisenman, Henry Cobb, Frank O. Gehry, Thom Mayne, Bernard Tschumi, Zaha Hadid và các kiến trúc sư độc đáo khác tạo nên diện mạo có một không hai.

Washington DC, thành phố thủ đô của Hoa Kỳ với quy hoạch chung được đặt hàng bởi chính George Washington, được thiết kế ban đầu bởi Charles L’Enfant thấm nhuần phong cách đô thị Pháp. Nơi này còn có Công viên quốc gia (National Mall) với Đài tưởng niệm tổng thống George Washington, Nhà khai quốc Hoa Kỳ. Tháp “bút chì”, một biểu tượng gắn với nước Mỹ tại nơi đây, lại vốn được phát triển từ cây Cột đá Obélisque tại trung tâm Quảng trường Concorde (Paris, Pháp), là một trong hai chiếc cột đá Ai Cập từ đền Luxor đã được vị phó vương Ai Cập Muhammad Ali tặng cho nước Pháp vào năm 1831.

Trung tâm Pompidou

Cũng như vậy, là trường hợp New York, với Tượng Nữ thần Tự do, một biểu tượng khác của nước Mỹ là món quà được người Pháp trao tặng năm 1886. Nhưng ngày nay, đối với du khách, bức tượng Nữ thần Tự do trên sông Xen lại cho cảm xúc liên tưởng ngược lại. Với Quảng trường Thời Đại (xưa và nay), giá trị của bản sắc không gian đô thị lại không gắn với một hình ảnh công trình cố định, duy nhất nào, mà luôn thay đổi, thích ứng với thời cuộc đúng theo tên gọi của nó. Những trường hợp này là những nghịch lý thú vị của bản sắc văn hoá trong kiến trúc.

Phố cổ Thượng Hải được làm mới

Với sự tích hợp giá trị tinh hoa theo chủ đích trở thành “thủ đô thế giới mới” không chỉ trên danh nghĩa, phương thức áp dụng ở các thành phố điển hình “đậm chất Mỹ” rất toàn diện, bao gồm tất cả các phương thức Chính thể, Tinh hoa và sáng tạo, Cộng đồng xã hội, Dân gian với Giao lưu (thị trường và môi trường).

Kinh nghiệm từ Tây Ban Nha: khảo cứu thành tựu về thiết kế đô thị các thành phố Barcelona với các khối phố đặc trưng góc chéo lớn, cùng các công trình của tác giả Antoni Gaudí đậm chất bản địa Catalan (Vương cung thánh đường Sagrada Família) và thành phố Bilbao với Bảo tàng Guggeheim Bilbao của tác giả Frank O. Gehry (Hoa Kỳ). Bản sắc được hình thành ở đây là một quá trình liên tục, kế thừa, không đứt đoạn, tập trung chủ yếu bởi Chính thể, Tinh hoa và Sáng tạo, Cộng đồng xã hội và Dân gian thông qua các tác giả, cá nhân cụ thể. Tính chất nghệ thuật trong kiến trúc luôn được đẩy lên cao trào, đỉnh điểm. Kết quả là 2 thành phố này luôn ở trong top những điểm đến được yêu thích nhất của du khách toàn cầu.

Kinh nghiệm từ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE): khảo cứu thành phố Abu Dhabi, nơi tích hợp các giá trị sáng tạo toàn cầu với các công trình Bảo tàng Louvre Abu Dhabi, Bảo tàng Guggenheim, Trung tâm nghệ thuật trình diễn (Abu Dhabi Performing Arts Centre) của các tác giả Jean Nouvel (Pháp), Frank O. Gehry (Hoa Kỳ), Zaha Hadid (Anh). Thành phố đã tạo nên các đặc trưng văn hoá (mới) của riêng mình bởi các phương thức bao gồm Chính thể, Tinh hoa và Sáng tạo với Thị trường và môi trường. Trong đó, phương thức Chính thể (đặt hàng của nhà nước đóng vai trò chủ đạo và bao trùm).

Kinh nghiệm từ Việt Nam: khảo cứu các đô thị phố cổ, phố Tây ở Hà Nội, Chợ Lớn và Hội An cho thấy bản sắc có thể hình thành trong quá trình lịch sử rất đa dạng. Từ sự áp đặt thực dân như kiến trúc phố Tây ở Hà Nội (du nhập từ các địa phương của nước Pháp theo chân các quan viên, công chức của nhà nước bảo hộ) đến Giao lưu (thị trường) và Cộng đồng xã hội. Sự du nhập văn hoá chung sống đã mang đến sự đa dạng của kiến trúc các vùng miền, địa phương, quốc gia khác nhau tạo nên bản sắc mới (bản sắc Kẻ Chợ) cho dù các thành phố ở miền Bắc, Trung hay Nam.

Giải pháp nào để “Kiến trúc thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc”?

Những kinh nghiệm nêu trên cho thấy việc hình thành, bảo vệ và phát triển bản sắc văn hoá diễn ra rất phức tạp và đa dạng. Không có một khuôn mẫu duy nhất.

Xem xét quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam có thể nhận thấy bản sắc không phải là một khái niệm bất biến. Điều này thể hiện rõ nét qua việc phong cách kiến trúc các triều đại từ Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều có những nét tương đồng và khác biệt xuất phát từ sự chấp thuận giao thoa, giao lưu văn hoá. Ảnh hưởng thể hiện rõ tại thời Lý là Ấn Độ, thời Trần là Chăm Pa, thời Lê là Trung Hoa, và thời Nguyễn là Khơ Me/ Nam Bộ.

Do đó, việc kế thừa bản sắc văn hoá truyền thống hay du nhập các thành tựu của nhân loại, làm phong phú, giàu có thêm cho bản sắc văn hoá dân tộc trong kiến trúc là hiển nhiên và hết sức cần thiết.
Các địa phương có thể căn cứ các điều kiện thực tế, tham khảo những kinh nghiệm trong nước và thế giới để tạo nên bản sắc riêng có của mình mà không cần phải áp dụng những định kiến cứng nhắc, cần tránh tự làm khó mình, vừa làm mất đi bản sắc vừa cản trở làm chậm tiến trình phát triển văn hoá, kinh tế và xã hội.

Phố Đông, Thượng Hải

Hãy cho phép sự tồn tại song hành cùng lúc nhiều phương thức tiếp cận khác nhau và tuỳ theo mức độ, mật độ, điều kiện của từng địa phương để áp dụng với 5 điểm lưu ý:

Một là, hãy bảo tồn những giá trị củva di sản kiến trúc sẵn có, không phân biệt đối xử dù ở trạng thái dân gian hay hàn lâm, nhà nước hay tư nhân. Những di sản này sẽ giúp định hình bản sắc, tiếp biến từ thế hệ này sang thế hệ khác, thay vì tìm kiếm các định nghĩa cứng nhắc mang tính hên xui, may rủi.

Hai là, chấp nhận sự trao đổi và giao lưu văn hoá, văn minh công nghệ với phương thức thị trường, thích ứng với môi trường trong nước và quốc tế.

Ba là, cùng lúc nên có các chiến lược thu hút nhân tài từ nơi khác tới (trong nước và toàn cầu) để tạo nên bản sắc riêng mang tính sáng tạo, riêng có của địa phương, tổ hợp bản sắc văn hoá trong kiến trúc của thời đại, dân tộc và bản địa.

Bốn là, các cấp chính quyền, chính giới của địa phương cũng cần đề xuất những quan điểm và quy ước của riêng mình trên cơ sở tham vấn cộng đồng để ấn định một số mô thức, kiểu thức, định hình thẩm mỹ công cộng trên nền tảng các di sản được bảo tồn nguyên gốc và những sáng tạo đặc sắc không tính đếm về quy mô.

Và cuối cùng. Năm là, hãy để cho quy luật bồi đắp hay đào thải của cộng đồng xã hội quyết định những giá trị bền vững hay tạm thời. Lịch sử và tự nhiên sẽ có những lựa chọn riêng và quyết định sự vĩnh cửu hay phù du của công trình kiến trúc tuỳ thuộc vào giá trị của bản sắc văn hoá.

National Mall, Đài tưởng niệm tổng thống George Washington Nhà khai quốc Hoa Kỳ (ảnh trái), Cột đá Obélisque tại Quảng trường Concorde, Paris (ảnh phải)
Quảng trường Thời Đại xưa và nay
Khuôn viên trường Đại học Cincinnati University of Cincinnati

KTS. Lê Quang Minh
MCP. MBA. Lê Nguyên Phương
(Master of Community Planning, DAAP; MBA/ University of Cincinnati, Ohio, USA; Trưởng nhóm nghiên cứu tại Mỹ, thuộc Liên danh MQL và Các đối tác)
Lê Hoàng Phương 
(Sinh viên năm cuối Khoa Quy hoạch Đô thị/ DAAP University of Cincinnati, USA)
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 02-2021)