Rehousing – Giải Khuyến khích hạng mục Bán Chuyên Nghiệp cuộc thi thiết kế Ngôi nhà mơ ước 2018-2019

Thông tin bình chọn:

  1. Hạng mục Bán chuyên
  2. Tác giả: Trịnh Đăng Hoàng
  3. Mã số bình chọn: BC069

Thuyết minh công trình

Các thành phố đang trải qua 1 sự bùng nổ trong các dự án nhà ở cao cấp, bao gồm 1 loạt các tòa dân cư siêu cao tầng được xây dựng. Trong khi đó kiến trúc với ý thức về mục đích xã hội ngày càng trở nên khan hiếm ở Hà Nội. Đồ án tiếp cận đến một thị trường kế hoạch thị trường nhà ở mới, nhằm tạo ra các sự lựa chọn nhà ở giá rẻ, bổ sung nhà ở cho những người đơn thân và 2 người – đặc biệt là đối tượng đơn thân như sinh viên, lao động trẻ đang ngày càng gia tăng trong thanh phố như điều tất yếu của quá trình đô thị hóa.

Các kiểu nhà ở thành phố hiện đã không theo kịp với tốc độ gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa ở nước ta hiện nay.

Bối cảnh và nhu cầu phát triển nhà ở xã hội (NOXH)

Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ ở Việt Nam, tại thời điểm 1/4/2014: Dân số Việt Nam đạt 90,5 triệu người (mỗi năm dân số tăng lên khoảng gần 1 triệu người). Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh. Hiện có 33,1% dân số sống tại khu vực thành thị và 66,9% tại nông thôn. Tỷ suất tăng dân số thành thị hằng năm 3,3%. (tương đương với tăng dân số hàng năm tại các đô thị trong quá trình đô hóa vào khoảng 0,8- 0,9 triệu người). Việt Nam chỉ có 46,6% hộ gia đình sống trong nhà kiên cố, còn lại: 43,7% hộ sống trong nhà bán kiên cố, 5,9% hộ có nhà thiếu kiên cố và 3,7% hộ có nhà đơn sơ. Diện tích nhà ở bình quân đầu người của cả nước là 20,6m2/người, với 23m2/người tại khu vực thành thị và 19,5m2/người tại khu vực nông thôn.

Ước tính hiện có khoảng 2 triệu lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cả nước Việt Nam. Trong đó, hơn 70% là lao động ngoại tỉnh có nhu cầu thuê nhà; nhưng chỉ 7-10% số này được ở sống các khu nhà ở được xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc của doanh nghiệp. Còn lại, hơn 90% số lao động có nhu cầu thuê nhà phải tự tìm thuê nhà trọ của các hộ dân xung quanh KCN.

Hàng năm Việt Nam không chỉ phải tạo thêm khoảng 1 triệu việc làm mà còn phải đầu tư xây dựng mới thêm khoảng 25 triệu m2 nhà ở. Với khả năng chi trả nhà ở theo mức thu nhập hàng tháng còn rất thấp, khoảng 4 triệu đồng/tháng (thuộc nhóm thấp nhất ASEAN), nhu cầu về NOXH trong những năm tới là rất lớn. Chỉ riêng khu vực đô thị, dự kiến hàng năm phải xây dựng khoảng 10 triệu m2 NOXH;

Tuy nhiên, lại đang tồn tại một nghịch lý, có một số dự án nhà ở công nhân xây xong nhưng không hấp dẫn người ở, dẫn đến tỷ lệ phòng trống khá cao. Điển hình như các dự án nhà ở công nhân tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long, khu công nghiệp Phú Nghĩa .

Mục tiêu

Tìm ra nguyên nhân và những giải pháp thiết kế sáng tạo khắc phục những vấn đề nêu trên.

Mật độ đô thị

Việc thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng nhà ở xã hội là một mục tiêu quan trọng hơn đối với các thành phố của Nước ta . Nó được đưa ra như là lựa chọn bền vững duy nhất cho các vấn đề về di cư hàng ngày giữa công việc và nhà ở. Đồ án đề xuất các tập hợp mật độ dân số tương thích với các liên kết trong tương lai của các vùng đô thị này trong việc mở rộng mạng lưới giao thông công cộng. Đó là, thiết kế các khu dân cư với mật độ trung bình tương thích với sự phát triển trong tương lai của các cơ sở đó. Việc xây dựng các tòa chung cư lớn tạo ra những trở ngại cho các tuyến giao thông gây quá tải cho các cơ sở hạ tầng giao thông công cộng. Cần phải xác định lại các định hướng và phương thức tổ chức các chung cư để đảm bảo tính hòa nhập công cộng cần thiết trong các dự án đã quy hoạch.

Hệ thống phân cấp không gian

Đồ án muốn đề xuất việc tạo ra các chung cư được tích hợp vào mạng lưới đô thị, xác định một hệ thống phân cấp rõ ràng về các không gian khác nhau của dự án, từ căn hộ đến không gian công cộng. Mục tiêu là để phân chia quản lý không gian tập thể, không gian cá nhân ,cộng đồng và bảo tồn các đặc tính đô thị. Các cơ quan của các tòa nhà đi theo hướng của các cách lưu thông, bãi bỏ việc sử dụng hàng rào hoặc tường bao quanh. Cuộc đối thoại trực tiếp với thành phố được củng cố bằng cách cấy ghép các căn shophouse ở tầng trệt.

Đơn vị

Các tòa nhà được thiết kế theo logic công nghiệp. Việc sử dụng các yếu tố cấu trúc và các tấm bê tông cốt thép đúc sẵn cũng như việc sử dụng các tấm kính composite để tiết kiệm phí xây dựng thuận lợi để cải thiện các loại căn hộ. Mỗi đơn vị chỉ có các yếu tố cố định cần thiết, đơn giản hóa để dễ dàng thi công và lắp đặt. Hầu hết các thanh phần được lắp đặt bởi các hệ thống xây dựng linh động nên mỗi modul khi hết khả năng sử dụng có thể được thao dỡ và tái sử dụng hoặc tái chế. Các mudul được sản xuất trong nhà máy chuyển đến công trường được xếp chồng lên và chốt lại với nhau . Cùng với cầu thang , hanh lang và các không gian chung khác được sản xuất và lắp đặt tại công trường như các phần tiêng biệt. Cách tiếp sản xuất trong nhà máy này mang đến nhiều lợi thể hơn hẳn, nó làm giảm đáng kể chi phí xây dựng – 1 yếu tố quan trọng trong một dự án nhà ở xã hội.

Tổng thể

Gồm 4 toà nhà , được nối với nhau bởi các lối đi phân bố bên ngoài, và gồm 4 thang bộ. Các tòa nhà này được duy trì khoảng cách tương đối lớn hơn hoặc bằng chiều cao của tòa nhà, để đảm bảo sự an toàn và thông gió cho tất cả các căn hộ, cũng như sự riêng tư cần thiết của các phòng. Sân trong như một yếu tố không gian phân phối chung.

Tính cộng đồng

Không gian hanh lang này có tiềm năng sử dụng như 1 nơi cho các sự kiện và xã hội hóa , như 1 chương trinh để tăng cường kết nối giữa các cư dân, cả giữa các cá nhân và các nhóm gia đình nhưng vẫn đảm bảo mức độ riêng tư. Hành lang giữa được kiểm soát bởi các căn hộ hai bên của khu vườn bên trong, xác định mức độ tập thể đầu tiên của tòa nhà, tương thích với việc trông nom trẻ nhỏ vui chơi trên dải không gian cộng đồng ở giữa.

Tính bền vững

Dự án mang lại mối quan tâm bền vững như một tiền đề cho thiết kế của nó. Các khái niệm tổ chức cũng như việc hòa nhập đô thị của dự án được điều chỉnh bởi một yêu cầu dự báo dài hạn. Cách các tòa nhà được tổ chức tìm cách vượt xa những gì pháp luật hiện hành định nghĩa là tối thiểu cần thiết. Các chung cư tích hợp trở thành một tổ chức sản xuất do không gian cộng đồng tạo ra, nơi các hoạt động khác nhau, chẳng hạn như thể thao, giải trí, làm vườn, hoạt động thương mại, vv, được khuyến khích . Các phòng được bảo vệ khỏi tia nắng mặt trời bởi dạng ban công xanh đảm bảo thông gió tự nhiên và tiết kiệm năng lượng.

Hòa nhập với cảnh quan thành phố

Quy mô, cũng như hình thức của đồ án này được thiết kế hòa nhập với những gì được thấy trong thành phố, ngay cả trong một bối cảnh đô thị hỗn loạn như Hà Nội. Sự phân chia của dự án, theo các đặc điểm của từng khu đất, cũng như các biến thể kích thước của các tòa nhà, trở nên cần thiết cho một cảnh quan đô thị bền vững.

Tính đa dạng kiến trúc

Sự hình thành các thành phố theo các cơ chế ngẫu nhiên được củng cố theo thời gia, đồ án có thể linh hoạt nhiều ngôn ngữ và biểu hiện kiến trúc, làm giàu thêm cho cảnh quan đô thị. Dự án đề xuất khả năng phân chia các dự án của các tòa nhà thành các lô kiến trúc riêng biệt, lặp lại quy hoạch tổng thể được đã được đề xuất.