Nghĩ đến chuyện hằng nghĩ đến Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia

a) Chuyện giấy tờ
+ Về tài liệu Điều lệ Giải thưởng KTQG
Nên sửa chữ Điều lệ (Statute, hiểu theo nghĩa lập pháp) là Quy chế hay Quy định (Instructions – những hướng dẫn, chỉ dẫn). Vì, bản thân Giải thưởng KTQG đã là một thiết chế văn hoá. Thiết chế ấy có thẩm quyền ban hành Quy chế hay Quy định của mình, sau khi được quyết nghị của cơ quan chủ quản là Hội KTS Việt Nam. Mà Điều lệ của Hội, như mọi người biết, đã được Chính phủ chuẩn y. Tương tự như đối với điều lệ của các tổ chức Phi chính phủ khác: Hội Cựu chiến binh, Hội Nhà văn, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân Việt Nam…

123a
Tháp đôi Puerta de Europa, Madrid, Tây Ban Nha. KTS. Philip Johnson

+ Về tài liệu Đề xuất đổi mới Giải thưởng KTQG
Sự đổi mới một giải thưởng Kiến trúc thường chỉ xuất hiện tại thời điểm mùa giải, khi đã có đầy đủ điều kiện mà ở Việt Nam ta, theo tôi có 3 điều kiện:
Một là, chiến lược xây dựng cơ bản của Nhà nước từ lần giải trước đến lần giải lần này được thực hiện ra sao, biến động gì không? Đó là sức sống tiên quyết của thiết kế kiến trúc, nhất là của các tác phẩm dự giải cũng như các tác phẩm xứng đáng được giải.
Hai là lưng vốn mùa giải này ra sao: Quá trình vận động giải đã đạt kết quả như mong muốn? Tác phẩm hứa hẹn? Tâm huyết người vào giải?

Nói thêm, việc vận động giải không chỉ đơn thuần là mời gọi những tác giả đã quen biết, hay người có công trình ấn tượng mà còn hướng đến anh chị em đang lăn lộn tại các Công ty tư vấn, các xưởng vẽ. Không những chỉ vận động họ gửi tác phẩm dự thi, mà có khi phải khảo sát tại chỗ công trình của họ. Vì khác với văn chương, người ta không thể say đắm kiến trúc nếu chỉ cảm nhận nghệ thuật thiết kế kiểu như nghe đọc văn tả cảnh hay ngâm thơ mà không được trải nghiệm sự vận hành không gian – cái đẹp độc nhất vô nhị của kiến trúc. Trường hợp đọc vị cái Đẹp ấn phẩm kiến trúc cũng vất vả không kém. Để cảm động trước một cuốn sách hay, người ta phải đọc nó kỹ càng, lại dốc vốn liếng xã hội học và ngữ văn của mình ra cùng về hùa với con chữ ngón nghề của người viết. May ra thấm đượm đôi điều Anh ta gửi gắm, “đồng khí tương cầu” cùng Anh.

123b
Sân vận động quốc gia Yoyogi tại Tokyo (Nhật Bản), Thế vận hội năm 1964 – KTS Kenzo Tange

Ba là, tôi cho rằng, nếu vẫn tiến hành xây dựng Điều lệ sửa đổi và Đề xuất đổi mới Giải thưởng KTQG thì cũng tốt. Nhưng chỉ nên tiến hành như chuyện “bếp núc” trong nội bộ cơ quan chủ quản Giải thưởng. Còn từ phía người dự giải, hội viên Hội KTS Việt Nam và công chúng nghệ thuật nói chung thì họ chỉ cần biết đến “trường quy” (Instructions), là đủ. Cho phép tôi lấy một ví dụ “âm lịch”: sĩ tử ngày xưa lều chõng đi thi, có tài đến mấy cũng phải dè chừng “Trường quy” mới hòng đỗ đạt. Trong đó “trường” bao hàm nội dung đề thi về chế, chiếu, biểu, kinh, lễ…Mà thời nay, trong Giải thưởng KTQG của chúng ta chính là thể loại cụ thể với các tiêu chí đánh giá cụ thể xuất phát từ đời sống nghệ thuật kiến trúc đương đại. Xem ra cả việc Ban hành điều lệ lẫn Đề xuất Giải thưởng KTQG của chúng ta khả dĩ sẵn được kho kinh nghiệm truyền thống gợi ý rồi. Khéo vận dụng thì ổn thôi.

b) Có một việc cần làm ngay
Đó là định nghĩa Giải thưởng KTQG
Thực ra việc này cần làm từ năm 1994 rồi (hay là chưa làm cũng nên?) Dù thế nào, không thấy các nhà chuyên môn đặt lại vấn đề trong dự thảo điều lệ sửa đổi 2014. Định nghĩa ấy quan trọng lắm, vì nó có nhiệm vụ (nhiệm vụ hàng đầu của bất kỳ một sự phong thưởng nào) là chính thức tuyên bố GT KTQG là gì. Còn như hành văn thế nào thì tuỳ, nói theo lối giải thích khái niệm cũng được.

Chứ còn “Điều 1. Tính chất, mục đích” của Điều lệ hiện nay như chúng ta thấy, chính là “đáp án” của mỗi mùa giải thưởng. Vả lại nếu muốn lấy đấy thay cho định nghĩa GT KTQG thì cũng nên rạch ròi nội dung của từng mảng và cần nêu mục đích trước rồi sau mới đến tính chất (cái lệ thuộc vào mục đích).

Theo tôi nên soạn riêng định nghĩa GT KTQG. Nếu gọi đó là “điều 1” thì các điều tiếp theo sẽ được đánh số từ 2 trở đi. Định nghĩa ấy có thể bằng câu chữ đại loại như : “Giải thưởng kiến trúc Quốc gia là Giải thưởng trao cho Người (KTS, nhà thiết kế, nghệ sĩ tạo hình, nhà nghiên cứu…) có công sáng tạo tác phẩm Kiến trúc (xứng đáng: trong sự nghiệp kiến thiết đất nước. Trong việc làm giàu nghệ thuật dân tộc; góp phần đẩy mạnh giao lưu hội nhập Văn hoá kiến trúc giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế…)

Cũng xin nói, những nội dung trong ngoặc (…) như trên là tôi dùng để giải thích định nghĩa mà tôi tạm đề xuất, chứ các nội dung ấy nằm ở các điều khoản khác như Vận động giải thưởng hay Thang điểm của Hội đồng Giám khảo. Suy cho cùng đó là công việc của những người chèo lái Giải thưởng KTQG, các Thành viên Hội đồng Giám khảo.

Còn đối với Người dự giải, trong các nội dung ấy chứa đựng 2 ý nghĩa thiết thực: một là chính danh nhân sự, hai là (quan trọng hơn): lĩnh hội được Thang điểm rồi, anh ta có thể tự chọn tác phẩm nào đó trong bộ sưu tập của mình gửi đi ứng thí, với hy vọng nó sẽ vào được giải, vào sâu giải, thậm chí có thể đoạt giải cao. Nói vui một tí, đó chính là sự “trúng tủ” cơ trí và rất đáng yêu nơi người nghệ sĩ có lòng đem nghệ thuật của mình hiến dâng cho cộng đồng, cho đất nước. Chả thế mà chúng ta thấy không ít KTS đoạt giải Pritzker lại không phải nhờ tác phẩm xuất sắc nhất của mình, mà vì một điều xuất sắc khác. Đó là chính trong mùa giải ấy sáng tạo của anh ta vượt lên tất cả các tác phẩm dự thi khác nhờ công tích củng cố và làm giàu cho Thương hiệu của Giải thưởng Pritzker…

Xây dựng được định nghĩa GT KTQG, theo tôi đạt được 3 cái lợi:
+ Một là đúng đối tượng: sự phong thưởng trúng vào chủ thể sáng tạo. Vì lẽ đời, nhận Huân chương chiến công bao giờ cũng là Người lính chứ không phải khẩu súng, khẩu đại bác hay voi chiến, ngựa chiến mà anh ta đã sử dụng để lập công.
+ Hai là định nghĩa Giải thưởng KTQG chính là mô tả chính xác nhất, kiên định nhất Thương hiệu của giải thưởng. Cũng là cơ sở bền vững nhất cho tất cả các điều còn lại của Điều lệ giải thưởng. Kể cả những thay đổi về tiêu chí đánh giá tác phẩm dự giải mà có thể (và nên) thay đổi tuỳ theo mùa giải nào đó, khi Ban quản lý giải thấy cần cải thiện tình hình Thưởng hiệu giải đối với các đối tượng (riêng hoặc một số). Chẳng hạn người dự giải, công chúng nghệ thuật…Nhưng quan trọng là sự thay đổi tiêu chí cập nhật của mùa giải KTQG có đóng góp tích cực đối với sự nghiệp quản lý xây dựng cơ bản của đất nước.
+ Ba là, với tư cách phát hiện (chứ không phải đo đếm thuần tuý), giải thưởng KTQG sẽ “để mở” một con đường cho các tác giả tài cao đi tới Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật. Trong lịch sử có nghệ sĩ cả đời để lại có một tác phẩm, thế nhưng chỉ nhờ tác phẩm duy nhất ấy, Ông (Bà) ấy đã đoạt không chỉ một giải thưởng cao quý của cả Quốc gia lẫn Quốc tế.

c) Nói trộm vía…Giải Pritzker
Xin bỏ quá, dường như tôi có ý nghĩ “hơi ồn”. Nhưng từ phía khác có một giáo điều mà mọi người đều thừa nhận, đó là tất cả các Giải thưởng Văn học Nghệ thuật sang trọng thuộc về Quốc gia hay Quốc tế đều bằng vai phải lứa với nhau. Vì nghệ thuật, cho dù thuộc về một khuôn khổ không – thời gian của một Quốc gia dân tộc hay toàn Thế giới thì đều giống nhau, ở chỗ: tinh hoa của một thiết chế Văn hoá độc nhất vô nhị. Mà phải, chả con chim nào bay cao bay xa bằng con đại bàng, chả con chim nào sống lâu bằng con chim Lửa (sống tới 500 năm, chỉ chết đi khi hoá thân thành ngọn lửa). Thế nhưng cả hai chim ấy chẳng con nào ca nổi khúc Sơn ca tình làng nghĩa nước.

Đến đây, tôi nảy sinh một ý: Giải thưởng Quốc gia nếu có thương hiệu tốt sẽ là vườn ươm của thương hiệu Thế giới. Rồi lan man hơn, thử chia giải Pritzker từ 1979 đến 2012 làm 4 giai đoạn, tôi lờ mờ nhận ra:
+ Giai đoạn I (1979 – 1986): ghi nhận sự nỗ lực không mệt mỏi của những sáng tạo bứt ra khỏi sự trì trệ của Phong cách quốc tế và “cứu nguy cho nền kiến trúc hiện đại” thế giới. Giải đầu tiên năm 1979 trao cho Philip Johnson có thể được xem như sự thể hiện Cương lĩnh và Tiêu chí của Giải thưởng Pritzker. Công chúng chẳng mấy khó khăn “đọc” được nội dung của chúng qua lời bình của nhà trao giải và qua sở thị các sáng tác của Philip Johnson. Đó là, Kiến trúc thời đại là một nghệ thuật bằng vai phải lứa với tất cả các nghệ thuật khác. Và kiến trúc hoàn toàn có thể thăng hoa nhờ ngôn ngữ “nói vậy mà không phải vậy” – sở trường thâm căn cố đế của tất cả các nghệ thuật.

+ Giai đoạn II (1987 – 1994): giai đoạn “giao thời”. Là giai đoạn mà các nhà lãnh đạo củng cố Thương hiệu giải bằng việc tôn vinh triết luận Siêu cấu trúc (Megastructure) với những đồ án không tưởng đang làm mưa làm gió trên trường quốc tế bấy giờ. Bên cạnh đó là sự pha trộn hài hòa giữa kiến trúc hiện đại và kiến trúc cổ truyền dân tộc. Giải thưởng 1987 dành cho KTS Kenzo Tange là minh chứng xác đáng cho những điều kể trên.

Ngay mùa giải 1988 sau đó lại nhằm vào cái cá biệt đáng kính trọng nơi nghệ sĩ – KTS Oscar Niemeyer, vì các tác phẩm đã thể hiện chính xác tâm nguyện của ông “Tôi không ấn tượng với những công trình chứa góc cạnh hay đường thẳng, khô cứng và thiếu linh động. Tôi ấn tượng bởi dòng chảy tự do, đường cong gợi cảm. Đường cong mà tôi nhận thấy ở những rặng núi đất nước tôi, ở những dòng sông uốn lượn, trong sóng đại dương, và trên cơ thể người phụ nữ đáng yêu. Đường cong tạo nên toàn bộ Vũ trụ, Vũ trụ cong của Einstein…” Hoá ra cái cá biệt Oscar Niemeyer lại là tiêu chí tối thượng của Giải Pritzker 1988. Về phần mình, nhờ đó mà Thương hiệu của giải nghiễm nhiên được nâng cấp. Chưa kể nó vẫn không rời xa tiêu chí “cứu nguy cho nền kiến trúc hiện đại” thuở nào. Công chúng hoàn toàn có thể thưởng thức trọn vẹn cái đẹp kiến trúc đoạt giải mà không hề đòi hỏi bất kỳ một sự giải thích nào, đổi mới nào bằng văn bản từ phía các nhà điều hành giải Pritzker…

+ Giai đoạn III (1995 – 2012): giai đoạn “Công khai Thương hiệu”. Năm 1995, giải dành cho Tadao Ando dường như chứa đựng ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là thứ kiến trúc hầu như không động chạm đến tài nguyên mà lại thu vén về mình nhiều năng lực kiến trúc của tự nhiên nhất. Về sau, còn một KTS nữa cũng đoạt giải vì cống hiến tương tự đó là Jean Nouvel (2008).

Trở lại năm 1998, Renzo Piano được trao giải vì lẽ: Sự gắn kết tuyệt vời giữa khoa học và nghệ thuật trong các thiết kế của ông, khiến cho người ta muốn gắn tên tuổi Renzo Piano với những người đồng hương vĩ đại của ông: Mikenlangielo, Raphael hay Leonard da Vinchi.

Riêng giải 2003 dành cho John Utzon, coi như giải đền ơn đáp nghĩa đối với các KTS lỗi lạc thế hệ thứ hai, thứ ba – thế hệ quyết định nhất đối với sự hoàn thiện Nghệ thuật quốc tế. Và còn hơn thế, cho đến ngày ấy Opera Sidney của Utzon vẫn bay bổng choán ngợp trước mắt công chúng toàn nhân loại. Năm sau đến lượt Zaha Hadid (2004) được giải, vì các công trình của bà mang nặng tính ý tưởng với những hình khối động và những giải pháp đặc biệt để tiếp cận cũng như giải quyết cấu trúc…

Đối với giải năm 2012 dành cho Vương Thụ, người ngoại đạo ban đầu hơi băn khoăn. Vì, thực ra tác phẩm của Vương không nổi trội gì hơn so với nhiều công trình tương tự ở bên Âu – Mỹ thời Hậu – hiện đại. Có điều, nó thực sự thăng hoa từ kiến trúc nguồn của một dân tộc 5.000 năm lịch sử. Đó là nhà ở hoàng thổ có từ thời tiền sử Trung Hoa, mà cho đến nay vẫn có 40 – 45 triệu công dân của đất nước này thường xuyên sống tại đó (đương nhiên tiện nghi hơn, khang trang hơn). Thì ra chính Vương Thụ là người đầu tiên thay thế ngôn ngữ biểu hiện gốc của kiến trúc Trung Hoa, vốn dĩ oái oăm như mớ chữ nho của họ bằng ngôn ngữ tạo hình phổ cập của thế giới đương đại. Chợt nhớ ngay trong năm ấy, giải Nobel văn học lọt vào tay Mạc Ngôn, vì ông này thành công trong việc thể hiện hình tượng bằng ngôn ngữ hậu – hiện đại (tuy vẫn viết bằng chữ Hán) để cho bạn đọc trên thế giới nhận ra cái sâu thẳm của đất nước con người Trung Hoa…

Kể từ sau giải Pritzker 2012, công chúng và các kiến trúc sư toàn thế giới có thể thở phào nhẹ nhõm: Không một cá tính sáng tạo nào, không một nền nghệ thuật Quốc gia dân tộc nào một khi tỏ ra xứng đáng mà lại không được đền đáp.

Bỗng thấy lạc quan hơn!
Vì, Giải thưởng KTQG của nước ta cũng như của nước ngoài, xem ra chẳng khác Pritzker nhiều lắm. Ở chỗ, đều là phương tiện Cầu hiền Nghệ thuật.

Vì trong cái tất yếu sáng tạo của kiến trúc Nhân loại, rồi sẽ chả thiếu gương mặt năm châu bốn biển, gương mặt kiến trúc sư Việt Nam.

Tôi và anh chị em đồng nghiệp đều ít nhiều ngưỡng mộ Giải Kiến trúc Quốc gia – giải thưởng sang trọng nhất đất nước, dành cho chính nghệ thuật mà mỗi chúng ta gắng theo đuổi một đời. Và, chừng nào danh hiệu Giải thưởng KTQG còn tồn tại thì chừng đó nơi Hội viên Hội KTS Việt Nam còn chưa tắt niềm tin.p