Chuyển đổi không gian kiến trúc nhà ở nông thôn ven đô: Thích ứng đô thị hoá và phục vụ du lịch

Tóm tắt

Quá trình đô thị hóa (ĐTH) diễn ra nhanh chóng đang tác động mạnh mẽ đến khu vực nông thôn nói chung và vùng ven đô Hà Nội nói riêng, làm thay đổi đáng kể cấu trúc không gian và kiến trúc nhà ở truyền thống. Bên cạnh đó, sự chuyển dịch kinh tế nông thôn theo hướng thương mại – dịch vụ đã thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế tiềm năng tại khu vực này. Do đó, việc định hướng chuyển đổi không gian kiến trúc nhà ở nông thôn (NONT) theo hướng thích ứng với ĐTH, đồng thời khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch, là yêu cầu cần thiết. Bài viết đề xuất định hướng và giải pháp kiến trúc NONT tại vùng ven đô Hà Nội, nhằm bảo tồn giá trị truyền thống, nâng cao chất lượng sống của người dân và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông thôn.

Từ khóa: Kiến trúc, nhà ở nông thôn, đô thị hóa, du lịch.

 Đặt vấn đề

Trong những năm qua, tốc độ ĐTH của Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt tại các khu vực ven đô của Hà Nội. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, tính đến đầu năm 2023, tỷ lệ ĐTH của Việt Nam đã đạt khoảng 41,5 % và dự kiến tiếp tục tăng lên 50% vào năm 2030. Hà Nội nằm trong các tỉnh thành có tỷ lệ ĐTH cao là 49,05%. Theo Niên giám Thống kê của Cục Thống kê Thành phố (TP) Hà Nội, năm 2023, khu vực thành thị chiếm 49,1% dân số của TP, cho thấy xu hướng gia tăng đáng kể dân số đô thị và mở rộng các khu vực ven đô. Đặc biệt, di cư từ nông thôn ra thành thị góp phần làm gia tăng dân số vùng ven đô, dẫn đến áp lực thay đổi về hạ tầng và kiến trúc nhà ở truyền thống [1], [2], [3].

Vùng ven đô Hà Nội chịu tác động rõ rệt từ sự chuyển đổi về sử dụng đất, mô hình định cư và hình thái kiến trúc nhà ở. Sự mở rộng hạ tầng giao thông và gia tăng dân số ở vùng ven đô Hà Nội kéo theo nhu cầu xây dựng mới, làm thay đổi đáng kể cấu trúc không gian và kiến trúc nhà ở truyền thống. Nhiều ngôi làng ven đô từng mang đậm dấu ấn văn hóa với sân vườn, cổng gỗ, nhà ba gian… nay dần bị thay thế bằng nhà cao tầng, vật liệu bê tông hóa, khiến không gian làng quê dần bị phá vỡ. Không gian công cộng như ao làng, sân đình, các khu cây xanh cũng bị thu hẹp hoặc san lấp, làm suy giảm tính kết nối làng xóm [4], [5].

Cùng với quá trình ĐTH, sự chuyển dịch kinh tế nông thôn hướng tới thương mại – dịch vụ đã thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế tiềm năng tại vùng ven đô Hà Nội. Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển du lịch nông thôn (DLNT) trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 nhấn mạnh phát triển DLNT là một sự chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông thôn, trên cơ sở khai thác tiềm năng về nông nghiệp, làng nghề, văn hóa và môi trường sinh thái của địa phương [6].

Trên thực tế, tại nhiều địa phương ven đô Hà Nội, nhà ở truyền thống đã và đang được khai thác phục vụ du lịch như làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây), làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm), làng hoa Tây Tựu (Bắc Từ Liêm)… Tuy nhiên, việc khai thác này còn chưa đồng bộ, thiếu quy hoạch bài bản, khiến giá trị kiến trúc truyền thống chưa được thể hiện hết, đồng thời chưa đáp ứng tốt nhu cầu lưu trú và trải nghiệm du lịch hiện nay.

Vì vậy, việc nghiên cứu định hướng chuyển đổi không gian kiến trúc NONT tại vùng ven đô Hà Nội theo hướng thích ứng với quá trình ĐTH, đồng thời khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch là một yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiến trúc cụ thể để cân bằng giữa phát triển du lịch và gìn giữ không gian kiến trúc làng quê.

Thực trạng kiến trúc nhà ở nông thôn ven đô

Kiến trúc NONT ven đô đã có sự biến đổi rõ rệt dưới tác động của quá trình ĐTH. Trước đây, NONT chủ yếu gắn liền với sản xuất nông nghiệp, với cấu trúc nhà truyền thống bao gồm khuôn viên rộng với nhà chính, nhà phụ, sân, vườn, ao và chuồng trại chăn nuôi [7]. Không gian kiến trúc được tổ chức hài hòa, kết nối giữa nhà chính và nhà phụ thông qua hàng hiên, hành lang, tạo nên một tổng thể thoáng đãng với ánh sáng tự nhiên, cây xanh và cảnh quan. Việc bố trí các khu chức năng ăn – ở – sản xuất theo nguyên tắc cân bằng sinh thái, tạo nên một môi trường sống bền vững cho cộng đồng nông thôn (hình 1).

Hình 1. Cơ cấu tổ chức không gian NONT truyền thống, thấp tầng – theo chiều ngang [5]
Tuy nhiên, ĐTH đã làm thay đổi đáng kể hình thức và chức năng của NONT ven đô. Bên cạnh sự chuyển dịch kinh tế từ nông nghiệp sang thương mại, cùng với việc người dân di cư từ nông thôn ra thành thị cũng làm gia tăng nhu cầu nhà ở tại các khu vực này, kéo theo sự xuất hiện của các ngôi nhà nhiều tầng, xây dựng tự phát dọc theo trục đường chính. Nhà ở được thiết kế theo chiều thẳng đứng với diện tích khuôn viên thu hẹp. Tầng một thường phục vụ kinh doanh, để xe hoặc sinh hoạt chung, còn các tầng trên dùng làm không gian ở. Mô hình này tuy thuận tiện cho sinh hoạt nhưng lại làm giảm sự kết nối với thiên nhiên, phá vỡ cấu trúc nhà ở nông thôn truyền thống (hình 2, 3).

Hình 2. Cơ cấu tổ chức không gian NONT hiện đại, nhiều tầng – theo chiều đứng [5]
Hình 3. Hình thức kiến trúc NONT hiện đại trên trục đường làng đã bê tông hóa, thôn Vệ Linh, xã Phù Linh, Sóc Sơn, Hà Nội

 

Những biến đổi đáng chú ý bao gồm sự thay đổi từ nhà thấp tầng sang nhà ống cao tầng theo kiểu đô thị. Diện tích sân vườn và không gian xanh suy giảm, ao hồ bị san lấp để nhường chỗ cho công trình mới. Việc sử dụng phổ biến vật liệu hiện đại như bê tông, thép, kính thay thế cho gỗ, tre, gạch đất nung khiến kiến trúc mất đi sự hài hòa với cảnh quan. Những thay đổi này không chỉ làm mất đi tính đặc trưng của kiến trúc nông thôn mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến vi khí hậu, gây hiệu ứng đảo nhiệt, hạn chế thông gió tự nhiên và tác động đến hệ sinh thái khu vực (hình 4).

Hình 4. Sự biến đổi NONT truyền thống sang NONT hiện đại

Bên cạnh đó, NONT truyền thống ngày càng được khai thác phục vụ du lịch, đặc biệt trong phát triển DLNT. Nhiều ngôi nhà trở thành điểm đến hấp dẫn, vừa bảo tồn giá trị kiến trúc truyền thống, vừa tạo không gian trải nghiệm cho du khách. Tại đây, du khách có thể tham quan, lưu trú và trải nghiệm các hoạt động sản xuất nông nghiệp, văn hóa làng nghề, thưởng thức đặc sản địa phương. Một số mô hình tiêu biểu như nhà cổ làng Đường Lâm (hình 5), nhà ở làng gốm Bát Tràng (hình 6), là minh chứng điển hình cho sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn kiến trúc và phát triển du lịch trải nghiệm văn hóa địa phương.

Tuy nhiên, việc khai thác này vẫn chưa thực sự hiệu quả. Nhiều địa phương có lợi thế về cảnh quan, làng nghề truyền thống nhưng không gian kiến trúc phục vụ du lịch còn thiếu sự đầu tư đồng bộ. Khu vực lưu trú, dịch vụ du lịch chưa được quy hoạch rõ ràng, dẫn đến sự thiếu kết nối giữa các điểm du lịch và cảnh quan làng. Mô hình nhà nhiều tầng kiểu đô thị không phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch vì thiếu sự hài hòa với cảnh quan và văn hóa nông thôn.

Thực trạng này cho thấy cần có chiến lược khai thác tiềm năng du lịch gắn với kiến trúc NONT ven đô. Việc quy hoạch, thiết kế không gian kiến trúc cần được định hướng bài bản, vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch bền vững.

Chuyển đổi không gian kiến trúc nhà ở nông thôn thích ứng đô thị hóa và phục vụ du lịch

Trong bối cảnh ĐTH ngày càng mở rộng, không gian kiến trúc NONT ven đô cần có những điều chỉnh để vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân vừa khai thác tiềm năng phục vụ du lịch. Các định hướng chính bao gồm:

• Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống: Trùng tu, cải tạo kiến trúc đặc trưng của làng quê Việt Nam như nhà ba gian, năm gian, kết cấu gỗ, sân vườn rộng rãi, đồng thời kết hợp các yếu tố hiện đại để phù hợp với nhu cầu sử dụng hiện nay.

• Thích ứng với ĐTH nhưng không mất bản sắc: Kiến trúc nhà ở cần đáp ứng điều kiện hạ tầng, giao thông, tiện ích đô thị nhưng vẫn giữ được sự hài hòa với cảnh quan thiên nhiên và không gian sống truyền thống.

• Phát triển không gian nhà ở gắn với du lịch trải nghiệm: Chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ công năng của nhà ở thành homestay, farmstay, nhà nghỉ sinh thái, kết hợp với các hoạt động nông nghiệp, thủ công truyền thống.

• Tăng cường yếu tố sinh thái, bền vững: Ứng dụng công nghệ xanh, vật liệu thân thiện môi trường trong xây dựng và cải tạo nhà ở.

Dựa trên các định hướng đã đề ra, việc chuyển đổi không gian kiến trúc nhà ở cần đảm bảo vừa giữ gìn bản sắc kiến trúc truyền thống, vừa thích ứng với quá trình ĐTH và phát triển du lịch. Các giải pháp tập trung vào không gian làng xã, khuôn viên nhà ở và sự tham gia của cộng đồng dân cư tạo sự kết nối hài hòa giữa không gian sống của người dân và hoạt động du lịch. Các giải pháp cụ thể như sau:

(1) Cải tạo không gian làng xã:

  •  Bảo tồn các công trình kiến trúc truyền thống: Các công trình có giá trị lịch sử như đình, chùa, nhà cổ, giếng nước và cổng làng cần được trùng tu hoặc cải tạo theo hướng hài hòa với cảnh quan hiện hữu, đồng thời giữ gìn giá trị lịch sử và văn hóa.
  • Quy hoạch không gian công cộng và dịch vụ: Các khu vực sinh hoạt cộng đồng như chợ làng, khu vui chơi và không gian lễ hội cần được xây dựng hoặc cải tạo để đáp ứng nhu cầu của cả người dân và du khách. Phát triển các khu thương mại, dịch vụ, phụ trợ như bãi đỗ xe, khu trưng bày sản phẩm, khu bán đồ lưu niệm, sản vật địa phương, nhà hàng, quán cà phê, khu lưu trú…
  •  Cải thiện cảnh quan và hạ tầng: Trồng cây theo chủ đề, bố trí tiểu cảnh, mặt nước, cải tạo các trục đường làng để tăng tính thẩm mỹ và thuận tiện cho du lịch. Không gian sản xuất nông nghiệp có thể chuyển đổi theo hướng hiện đại, áp dụng mô hình nhà kính, cánh đồng mẫu lớn để tạo sự mới lạ, hấp dẫn du khách.
  •  Phát triển du lịch làng nghề và nông trại sinh thái: Kết nối các làng nghề truyền thống (hoa, cây cảnh, dệt lụa, gốm sứ, chế biến thực phẩm…) và mô hình nông trại sinh thái bằng các tuyến du lịch bộ hành, xe đạp hoặc đường thủy, tạo ra các hình thức trải nghiệm đa dạng và hấp dẫn cho du khách.

(2) Cải tạo khuôn viên nhà ở và nhà ở:

  •  Phát triển không gian xanh: Giữ lại và mở rộng cây xanh, mặt nước nhằm bảo vệ môi trường, tạo không gian thư giãn và nâng cao giá trị du lịch sinh thái.
  •  Tận dụng sân vườn làm không gian trải nghiệm: Cải tạo sân vườn thành khu vực cho du khách tham gia trồng cây, thu hoạch nông sản, chế biến thực phẩm truyền thống, góp phần bảo tồn sản xuất nông nghiệp.
  •  Cải tạo nội thất hài hòa giữa truyền thống và hiện đại: Ưu tiên vật liệu địa phương như gỗ, tre, mái ngói. Sử dụng trang thiết bị tiết kiệm điện, nước, xử lý nước thải sinh học, tái sử dụng nước mưa.
  •  Tổ chức không gian đa chức năng: Sân vườn, ao cá có thể được chuyển đổi thành khu nghỉ dưỡng, thư giãn hoặc du lịch trải nghiệm, đảm bảo tính thẩm mỹ và hài hòa với cảnh quan làng quê.

(3) Giải pháp ứng dụng công nghệ và năng lượng tái tạo

  • Tích hợp công nghệ hiện đại, trí tuệ nhân tạo (AI) vào thiết kế, xây dựng NONT.
  • Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo thông qua việc lắp đặt hệ thống pin mặt trời hoặc tua-bin gió nhỏ tại các khu vực công cộng và khu lưu trú du lịch.
  • Xây dựng các mô hình tự cung tự cấp năng lượng cho làng du lịch sinh thái, giảm phụ thuộc vào lưới điện quốc gia.

(4) Giải pháp về cơ chế chính sách và hỗ trợ cộng đồng

  • Ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính, vay vốn ưu đãi để người dân cải tạo nhà ở theo hướng du lịch bền vững.
  •  Đào tạo kỹ năng quản lý du lịch cộng đồng, dịch vụ lưu trú, văn hóa ứng xử cho người dân để họ có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh du lịch.
  •  Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương nhằm phát triển DLNT bền vững và tạo chuỗi giá trị lâu dài.

Đề xuất mô hình kiến trúc nhà ở nông thôn thích ứng đô thị hóa và phục vụ du lịch

  • Mô hình nhà truyền thống cải tạo theo hướng du lịch Homestay: Giữ nguyên kiến trúc đặc trưng như nhà gỗ, nhà mái ngói ba gian, năm gian, đồng thời nâng cấp nội thất để đáp ứng nhu cầu lưu trú du lịch. Khuyến khích sử dụng vật liệu địa phương và lắp đặt thiết bị tiết kiệm năng lượng, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Mô hình này phù hợp với các khu vực có giá trị văn hóa truyền thống, nơi du khách có thể trải nghiệm đời sống làng quê, tham gia sinh hoạt cùng người dân và tìm hiểu văn hóa địa phương. Với chi phí cải tạo không quá lớn, mô hình này vừa giúp bảo tồn bản sắc kiến trúc truyền thống, vừa tạo thêm nguồn thu từ du lịch.
  •  Mô hình nhà ở kết hợp Farmstay (trang trại nghỉ dưỡng): Nhà ở kết hợp với vườn và trang trại nhỏ mang đến không gian sống gần gũi thiên nhiên, đồng thời tạo điều kiện cho du khách tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng rau, nuôi gia súc, gia cầm. Mô hình này đặc biệt phù hợp với các vùng ven đô có diện tích đất rộng, tận dụng lợi thế sẵn có để phát triển du lịch nông nghiệp. Không chỉ mang lại trải nghiệm độc đáo, mô hình còn giúp gia tăng thu nhập cho người dân địa phương thông qua việc kết hợp hoạt động sản xuất và dịch vụ du lịch.
  •  Mô hình nhà ở sinh thái (Eco-house): Sử dụng vật liệu thân thiện môi trường như gỗ, tre, nứa, kết hợp với hệ thống năng lượng tái tạo như điện mặt trời và thu gom nước mưa. Mô hình này thích hợp cho các hộ gia đình hướng tới du lịch xanh, tiết kiệm năng lượng, giảm tác động đến môi trường và thu hút du khách yêu thích du lịch sinh thái.
  •  Mô hình nhà ống cải tiến theo hướng đa chức năng: Cải tạo nhà ống hiện có theo thiết kế linh hoạt, trong đó tầng trệt có thể dùng để kinh doanh dịch vụ du lịch, tầng trên dành cho sinh hoạt hoặc lưu trú. Mô hình này thích hợp với các khu vực ven đô có tốc độ ĐTH nhanh, giúp tận dụng không gian nhỏ và đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch kết hợp nhà ở.

Kết luận

Chuyển đổi không gian kiến trúc NONT ven đô nhằm thích ứng với quá trình ĐTH và phát triển du lịch là xu hướng tất yếu, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, thúc đẩy kinh tế nông thôn. Mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn, sinh thái, kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống và hiện đại không chỉ mang lại lợi ích xã hội, kinh tế, môi trường mà còn nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng địa phương.

Các giải pháp trọng tâm bao gồm: (1) Bảo tồn và cải tạo không gian làng xã thông qua gìn giữ và phát huy các công trình văn hóa truyền thống, quy hoạch không gian công cộng phục vụ du lịch, đồng thời cải thiện cảnh quan sinh thái; (2) Nâng cấp khuôn viên nhà ở để phục vụ du lịch bằng cách chuyển đổi vườn nhà thành không gian trải nghiệm nông nghiệp, kết hợp kiến trúc truyền thống với tiện ích hiện đại và phát triển mô hình Homestay, Farmstay; (3) Phát triển bền vững thông qua ứng dụng công nghệ thông minh, sử dụng năng lượng tái tạo và lồng ghép bảo tồn văn hóa trong thiết kế kiến trúc.

Để thực hiện hiệu quả các giải pháp trên, cần có chính sách hỗ trợ tài chính và kỹ thuật nhằm bảo tồn không gian làng quê và phát triển du lịch. Khuyến khích đầu tư vào mô hình Homestay, Farmstay để nâng cao thu nhập cho người dân và bảo vệ cảnh quan nông thôn. Bên cạnh đó, phát triển hạ tầng đồng bộ, nâng cấp giao thông và cơ sở vật chất nhằm kết nối các điểm du lịch, thu hút du khách. Sự kết hợp giữa bảo tồn kiến trúc truyền thống và phát triển du lịch không chỉ giúp các khu vực nông thôn ven đô Hà Nội thích ứng với quá trình ĐTH, mà còn tạo nền tảng phát triển bền vững, mang lại giá trị lâu dài cho cộng đồng và bảo vệ di sản văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

ThS.KTS Nguyễn Thị Phương Anh*
*Bộ môn Kiến trúc, Khoa Tạo dáng Công nghiệp, Trường Đại học Mở Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2025)


Tài liệu tham khảo:
[1]. Bộ Xây dựng, Báo cáo tình hình đô thị hóa tại Việt Nam, 2023.
[2]. Cục Thống kê TP Hà Nội, Niên giám Thống kê TP Hà Nội năm 2023. Nhà xuất bản Thống kê, 2024.
[3]. Đỗ Thu Hương, “Di cư và đô thị hóa tại Việt Nam-Góc nhìn từ những con số,” Tạp chí Xây dựng, 2023.
[4]. Nguyễn Đình Thi, Kiến trúc nhà ở nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội: Nhà xuất bản Xây dựng, 2020.
[5]. Nguyễn Thị Phương Anh và Lê Quang Thắng, “Nhận diện một số vấn đề của kiến trúc nhà ở nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới,” Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Mở Hà Nội, (103), tháng 5, 2023.
[6]. Thủ tướng Chính phủ, “Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 2 tháng 8 năm 2022, Phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025,” 2022.
[7]. Nguyễn Đức Thiềm, Kiến trúc nhà ở. Hà Nội: Nhà xuất bản Xây dựng, 2002.
[8]. Internet.