1. Thăng Long – Hà Nội
Nằm ở vị trí trung tâm châu thổ sông Hồng trù phú, vùng đất Hà Nội xưa đã được tổ tiên lựa chọn làm nơi đinh cư. Từ một làng nhỏ đầu tiên nơi cửa sông Tô Lịch đổ ra sông Hồngthời Hùng Vương trở thành quận Tống Bình, sau là Đại La – trung tâm đầu não thời Bắc thuộc (thế kỷ V – thế kỷ X). Năm 938, sau khi đánh tan quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng Vương, chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc [11].
Điểm đáng chú ý trong cấu trúc không gian đô thị Thăng Long thời Lê Trung Hưng là sự xuất hiện Phủ Chúa Trịnh ở ngoài Hoàng thành. Ngày nay, phủ Chúa Trịnh không còn, theo sử sách có thể đoán định vị trí xây dựng quần thể Phủ Chúa ở phía Nam tháp Báo Thiên trên khu vực phía Tây – Nam hồ Hoàn Kiếm (Hình 3). Nếu Hoàng thành là một tổng thể cung điện hoàn chỉnh, được bảo vệ nghiêm ngặt thì trái lại Phủ chúa Trịnh rộng lớn có xu hướng phát triển theo hướng mở .
Hình thái cấu trúc đô thị Hà Nội thời Nguyễn phản ánh đầy đủ các đặc trưng truyền thống của một đô thị phương Đông và Việt Nam. Đó là, bên cạnh Hoàng thành – Trung tâm quyền lực quân chủ là khu phố thị dân gian – 36 phố phường và làng xóm, ruộng vườn rải rác. Tất cả tạo nên một hình ảnh đô thị hài hòa với cảnh quan thiên nhiên.
2. Khu phố Pháp ở Hà Nội
Thời Pháp thuộc (1884-1954), trong cấu trúc không gian đô thị Hà Nội, bên cạnh Hoàng thành (không còn nguyên vẹn) và khu 36 phố phường truyền thống (Khu phố cổ) có thêm khu phố Pháp (Khu phố cũ) được quy hoạch và xây dựng theo kiểu phương Tây.
Từ cuối thế kỷ XVIII, người Pháp đã âm mưu chiếm nước ta làm thuộc địa. Mãi đến năm 1873, thực dân Pháp dưới sự chỉ huy của Francis Garnier đánh thành Hà Nội lần thứ nhất. Sau đó, ngày 6/2/1874, theo Hiệp ước Phlastre, nhà Nguyễn phải cắt 2,5 ha đất cho Pháp xây dựng Nhượng địa ở phía Đông bên bờ sông Hồng. Từ 2,5 ha, người Pháp đã lấn chiếm, mở rộng thành 18,5ha. Nhượng địa được sĩ quan công chính Varaigne thiết kế theo mô hình thương điếm châu Âu ở hải ngoại, có tường bao quanh, bên trong đặt các công trình dọc theo một trục song song với bờ sông Hồng. Các công trình đầu tiên này mang phong cách Kiến trúc thực dân thời kỳ đầu. Ngày nay, có thể nhận biết Nhượng địa là khu đất từ Nhà hát lớn kéo đến Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Hình 5,6,7).
Khu phố Pháp ở Hà Nội được quy hoạch với đầy đủ các chức năng như đô thị ở phương Tây thời bấy giờ. Ở phía Nam khu 36 phố phường truyền thống, khu phố Pháp mới giữ vai trò là trung tâm Hà Nội – Thủ đô của Việt Nam, trong khi ở khu vực Hoàng thành Hà Nội, từ năm 1902 được xác định là trung tâm chính trị của liên bang Đông Dương thuộc Pháp.
Cùng thời gian, thực dân Pháp tàn phá các công trình di tích văn hóa lịch sử, đặc biệt là ở phía Nam và phía Đông hồ Hoàn Kiếm để lấy đất xây dựng đô thị. Việc phá hủy thô bạo các di sản văn hóa kiến trúc khiến Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương (1887-1992) phải hối tiếc: “Tôi đến quá chậm để có thể cứu lấy những phần đặc sắc, ít nhất là các cổng thành. Những di tích ấy đáng lẽ phải được bảo tồn. Chúng có những đặc trưng quý giá, chỉ như vậy thôi cũng đáng được chúng ta trân trọng. Đó là những kỷ niệm lịch sử gắn bó với nơi đây, chúng có thể làm đẹp cho những khu xây dựng mới của thành phố” [9].
Trước đó, khu vực Tràng Thi (nay là Thư viện trung ương) đã bị thực dân Pháp chiếm giữ. Và, giáo hội Thiên chúa cũng đã chiếm toàn bộ thôn Báo Thiên ở phía Tây hồ Hoàn Kiếm để xây dựng trung tâm giáo hội với Nhà thờ Lớn Saint Joseph trên nền đất của Tháp Báo Thiên.
Khởi đầu của khu phố Pháp là tuyến đường nối những khu vực mà thực dân Pháp đã chiếm từ trước, là Nhượng địa với Tràng Thi,khu giáo hội thiên chúa và Hoàng thành. Từ con đường đầu tiên này, khu phố Pháp từng bước được hình thành. Khu phố được quy hoạch theo mô hình Thành phố – Vườn dựa trên nguyên tắc phân tách các chức năng.
Khu trung tâm Hà Nội được chú trọng quy hoạch và xây dựng ngay từ đầu, lấy hồ Hoàn Kiếm làm hạt nhân. Trung tâm hành chính đầu tiên gồm 5 công trình được xây dựng ở phía Đông hồ Hoàn Kiếm. Mặt bằng quy hoạch do Montalembert, chuyên viên trắc đạc thiết kế năm 1884 theo kiểu vườn Pháp đăng đối, có trục hướng về phía hồ Hoàn Kiếm để tạo sự thông thoáng tự nhiên cần thiết trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nhờ kết nối liên hoàn hệ thống cây xanh vườn với hồ. 5 công trình cao 2 tầng do Vezin và Huardel thiết kế và xây dựng năm 1886 theo phong cách kiến trúc thực dân thời kỳ đầu. Trung tâm thương mại, dịch vụ phát triển dọc theo phố Tràng Tiền. Ngoài ra còn có một số công trình giao thông, sản xuất, y tế, giáo dục,…
Cùng thời gian người Pháp tiến hành chỉnh trang khu 36 phố phường và cải tạo khu vực hồ Hoàn Kiếm thành công viên. Không gian hồ Hoàn Kiếm, ngoài chức năng mới là phục vụ nhu cầu sinh hoạt công cộng và nghỉ ngơi của cư dân còn là không gian liên kết các khu vực chức năng khác nhau thành một tổng thể trung tâm đô thị thống nhất. Đó là khu vực Giáo hội Thiên chúa ở phía Tây, trung tâm hành chính ở phía Đông, phía Bắc là khu 36 phố phường truyền thống và phía Nam là khu thương mại dịch vụ (Hình 8,9).
Tuy nhiên, người Pháp đã có những thành công nhất định trong quy hoạch và kiến trúc ở Hà Nội.
- Về cấu trúc đô thị, Ngoài việc sử dụng các yếu tố cảnh quan tự nhiên làm thành phần liên kết không gian, sự hài hòa của khu phố Pháp có được còn nhờ vào việc cho phép tồn tại một tỷ lệ nhất định những thành phần kiến trúc đô thị bản địa trong cấu trúc đô thị được thiết kế bài bản kiểu Pháp. Đó là sự có mặt của: Các ngôi làng hoặc một phần ngôi làng cổ như: Bảo Khánh (ở phía Tây hồ Hoàn Kiếm), Vũ Thạch (gần hồ Hoàn Kiếm ở phía Nam) và làng Hạ Hồi với mạng đường, ngõ có hình dạng tự nhiên cùng các ngôi đình, đền, chùa truyền thống; hay dọc phố Hàng Bài (Đồng Khánh) – phố Huế là các ngôi nhà phố (nhà ống) với hoạt động thương mại nhộn nhịp kiểu truyền thống.
- Về tổng thể kiến trúc đô thị. Cách bố cục không gian kiến trúc đô thị kiểu cổ điển Pháp (Beaux-arts Paris) được áp dụng phổ biến đối với các công trình công cộng lớn là điểm nhấn của tổng thể, án ngữ trục đường, tầm nhìn nhằm nhấn mạnh và tôn thêm vẻ hoành tráng của công trình. Ví dụ: Phủ Toàn quyền, Nhà thờ Lớn, Nhà hát Lớn, Tòa án, Nhà ga đường sắt,… (Hình 11).
Ngoài ra, tổng thể kiến trúc đô thị đạt được sự hài hòa, thống nhất, phù hợp với tỷ lệ và cảm nhận con người do coi trọng yếu tố thiên nhiên, cây xanh để lựa chọn quy mô công trình hợp lý, không quá tranh chấp và tương phản của các hình thức kiến trúc khác nhau. - Về kiến trúc: Bắt đầu từ du nhập các phong cách đến cải biến để phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc điểm văn hóa Hà Nội.
Ban đầu, nhằm mục tiêu xâm chiếm, phong cách Kiến trúc thực dân thời kỳ đầu là phổ biến. Tiếp theo là phong cách kiến trúc cổ điển phương Tây được sử dụng trong các công trình trụ sở lớn để đề cao văn hóa Pháp, phong cách Địa phương Pháp chủ yếu trong kiến trúc biệt thự để thỏa mãn nỗi nhớ quê hương của người Pháp. Về sau có thêm một số phong cách kiến trúc hợp thời đại như Art-Deco, Art-Nouveau và đặc biệt là phong cách Kiến trúc Đông Dương (Hình 12,13,14,15,16,17).
3. Nhận xét
Ngày nay, trải qua hơn 150 năm tồn tại (1884 – 2025), khu phố Pháp trở thành di sản kiến trúc đô thị góp phần làm nên giá trị đặc trưng của hình thái đô thị Hà Nội. Quá trình hình thành và phát triển khu phố Pháp cho thấy những bài học không chỉ đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị của khu phố mà còn đối với sự phát triển của thành phố Hà Nội. Đó là:
- Lựa chọn vị trí là quan trọng có ý nghĩa quyết định. Xây dựng khu mới gần khu cũ để trong quá trình phát triển đô thị không lấn át và làm mất đi giá trị mang tính truyền thống của khu cũ. Cách tiếp cận này dựa trên sự tôn trọng văn hóa địa phương, từ những năm 1970 được nhiều chuyên gia thống nhất gọi là “Quy hoạch vị văn hóa” và được nhiều nước vận dụng.
- Đô thị sống, phát triển liên tục, khẳng định sự cộng sinh hợp lý các cấu trúc không gian và mô hình đô thị khác nhau tạo nên một hình thái đô thị đa dạng, thống nhất và có bản sắc văn hóa địa phương. Điều này là cần thiết trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
- Kiến trúc đô thị đạt được tính thống nhất, hài hoà, độc đáo và phù hợp với con người, trở thành biểu tượng của đô thị là kết quả vận dụng hợp lý các yếu tố liên kết các hình thái kiến trúc đô thị khác nhau, trong đó cảnh quan mặt nước, cây xanh và di sản kiến trúc có vai trò quan trọng.
- Đô thị, tự bản chất luôn là không gian hội nhập và sáng tạo, ở đó di sản đô thị là tài nguyên văn hóa, khơi nguồn sáng tạo vì sự phát triển bền vững và có bản sắc của đô thị.
GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2025)
Tài liệu tham khảo
1. Bourdin C. Le vieux Tonkin de 1890-1894, Hà Nội, Nhà in d’Extreme Orient, 1941.
2. P. Clement,… Hà Nội: Chu kỳ của những đổi thay – NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2003;
3. Ile de France. Hà Nội: Bảo tồn và phát huy giá trị khu phố Pháp phía Nam quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 2008;
4. Hoàng thành Thăng Long: Thông tin di sản 2020 và 2021;
5. Nguyễn Thừa Hỷ: Thăng Long-Hà Nội thế kỷ XVII-XVIII-XIX. Hội Sử học Việt Nam, 1993
6. Masson A. Hanoi pendant la periode heroique 1873-1883, Hanoi, 1929;
7. Hoàng Đạo Thuý: Phố phường Hà Nội xưa – NXB Văn hoá 1974;
8. Trần Hùng, Nguyễn Quốc Thông; Thăng Long-Hà Nội mười thế kỷ đô thị hoá. – NXB Xây dựng Hà Nội 1995
9. Nguyễn Quốc Thông; Histoire de Hanoi: la ville en ses quartiers, trong Hanoi, Les Cahiers de l’IPRAUS, NXB. Recherche, Paris 2001
10. Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam; Viện Sử học. Đô thị cổ Việt Nam, Hà Nội, 1989








































