Khu phố Pháp ở Hà Nội – Lịch sử một di sản đô thị

1. Thăng Long – Hà Nội

Nằm ở vị trí trung tâm châu thổ sông Hồng trù phú, vùng đất Hà Nội xưa đã được tổ tiên lựa chọn làm nơi đinh cư. Từ một làng nhỏ đầu tiên nơi cửa sông Tô Lịch đổ ra sông Hồngthời Hùng Vương trở thành quận Tống Bình, sau là Đại La – trung tâm đầu não thời Bắc thuộc (thế kỷ V – thế kỷ X). Năm 938, sau khi đánh tan quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng Vương, chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc [11].

H1: Sơ đồ mô tả sự khác nhau giữa cấu trúc thành của người Hán và của người Việt

H2: Sơ đồ cấu trúc đô thị Thăng Long – Hà Nội qua các giai đoạn phát triển. [4]
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ chọn vùng đất này làm quốc đô của Đại Việt với tên gọi là Thăng Long. Trải qua các triều đại, dẫu chịu ảnh hưởng văn hóa phương Bắc cùng nhiều thay đổi về xây dựng và tên gọi khác nhau do những biến cố của lịch sử , nhưng hình thái đô thị Thăng Long – Hà Nội vẫn có đặc điểm riêng khác với cách xây thành của người Hán theo kiểu “Tam trùng thành quách” vuông vức. Thành trong cùng (Cấm thành) là hình chữ nhật, các cung điện, nổi bật nhất là chính điện được sắp xếp đăng đối theo trục cho thấy ảnh hưởng nhất định của văn hóa Hán. Đặc điểm riêng thể hiện ở thành giữa (Hoàng thành) và nhất là thành ngoài (Kinh thành) dựa theo sông Tô Lịch và sông Hồng mà có hình dạng tự nhiên, giống như tổ tiên xây thành Cổ Loa năm 208 trước công nguyên, trước khi giặc phương Bắc xâm chiếm nước ta. Mặt khác, bên trong Kinh thành, ngoài khu phố thị 36 phố phường xầm uất còn có làng xóm, ruộng vườn yên bình trong hệ thống mặt nước, cây xanh phong phú, làm cho cảnh quan trong thành và ngoài thành không khác nhau là mấy. Tất cả tạo nên hình thái đô thị đặc trưng của người Việt – hài hòa và không chế ngự cảnh quan thiên nhiên xung quanh như đô thị của người Hán (Hình 1,2).

Điểm đáng chú ý trong cấu trúc không gian đô thị Thăng Long thời Lê Trung Hưng là sự xuất hiện Phủ Chúa Trịnh ở ngoài Hoàng thành. Ngày nay, phủ Chúa Trịnh không còn, theo sử sách có thể đoán định vị trí xây dựng quần thể Phủ Chúa ở phía Nam tháp Báo Thiên trên khu vực phía Tây – Nam hồ Hoàn Kiếm (Hình 3). Nếu Hoàng thành là một tổng thể cung điện hoàn chỉnh, được bảo vệ nghiêm ngặt thì trái lại Phủ chúa Trịnh rộng lớn có xu hướng phát triển theo hướng mở .

H3: Vị trí Phủ Chúa Trịnh trong bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức, 1490 [4]
Phủ Chúa Trịnh thực sự trở thành một tố tạo thị mới, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt của Thăng Long. Kinh tế phát triển, giao thương mở rộng, trong đó có sự tham gia của các thương gia phương Tây (Hà Lan, Anh,…) với sự xuất hiện các Thương điếm – một hình thức kiến trúc mới, khác biệt mang tinh thần hội nhập quốc tế. Họat động thương mại nhộn nhịp ở Thăng Long – Kẻ Chợ đã được nhiều thương gia và du khách phương Tây mô tả khá chi tiết. Có thể nói đến lúc bấy giờ, sự phát triển nhanh làm thay đổi đáng kể bộ mặt đô thị Thăng Long so với các thời kỳ trước đó. Đáng tiếc, vào cuối thế kỷ 18, phủ chúa Trịnh bị vua Lê phá hủy hoàn toàn (Hình 4).

H4: Bản đồ Hà Nội năm 1873 trước khi có sự can thiệp về xây dựng của người Pháp [2]
Thời Nguyễn (1802-1945), Hoàng đế Gia Long chọn Huế làm kinh đô nên năm 1803 Hoàng thành Thăng Long thời Lê Trung hưng bị phá bỏ để xây dựng một tòa thành mới làm trị sở phía Bắc theo kiểu Vauban hình vuông có quy mô nhỏ hơn. Hoàng thành thời Nguyễn mang tên Thăng Long nhưng không còn nghĩa Rồng bay lên mà là Thinh vượng, Năm 1831, Hoàng đế Minh Mạng đổi tên Thăng Long thành Hà Nội. Thành Hà Nội tồn tại đến năm 1884 trước khi thực dân Pháp phá hủy. Ngày nay, có thể nhận biết ranh giới thành Hà Nội qua các tuyến phố: Phan Đình Phùng, nơi còn di tích Cổng thành phía Bắc, Trần Phú ở phía Nam, Phùng Hưng ở phía Đông và Hùng Vương ở phía Tây.

Hình thái cấu trúc đô thị Hà Nội thời Nguyễn phản ánh đầy đủ các đặc trưng truyền thống của một đô thị phương Đông và Việt Nam. Đó là, bên cạnh Hoàng thành – Trung tâm quyền lực quân chủ là khu phố thị dân gian – 36 phố phường và làng xóm, ruộng vườn rải rác. Tất cả tạo nên một hình ảnh đô thị hài hòa với cảnh quan thiên nhiên.

2. Khu phố Pháp ở Hà Nội

Thời Pháp thuộc (1884-1954), trong cấu trúc không gian đô thị Hà Nội, bên cạnh Hoàng thành (không còn nguyên vẹn) và khu 36 phố phường truyền thống (Khu phố cổ) có thêm khu phố Pháp (Khu phố cũ) được quy hoạch và xây dựng theo kiểu phương Tây.

Từ cuối thế kỷ XVIII, người Pháp đã âm mưu chiếm nước ta làm thuộc địa. Mãi đến năm 1873, thực dân Pháp dưới sự chỉ huy của Francis Garnier đánh thành Hà Nội lần thứ nhất. Sau đó, ngày 6/2/1874, theo Hiệp ước Phlastre, nhà Nguyễn phải cắt 2,5 ha đất cho Pháp xây dựng Nhượng địa ở phía Đông bên bờ sông Hồng. Từ 2,5 ha, người Pháp đã lấn chiếm, mở rộng thành 18,5ha. Nhượng địa được sĩ quan công chính Varaigne thiết kế theo mô hình thương điếm châu Âu ở hải ngoại, có tường bao quanh, bên trong đặt các công trình dọc theo một trục song song với bờ sông Hồng. Các công trình đầu tiên này mang phong cách Kiến trúc thực dân thời kỳ đầu. Ngày nay, có thể nhận biết Nhượng địa là khu đất từ Nhà hát lớn kéo đến Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Hình 5,6,7).

H5: Nhượng địa trong bản đồ Hà Nội năm 1883 [4]
H6: Toàn cảnh Nhượng địa, 1877 [6]
Mười năm sau, năm 1882, Henri Riviere đánh thành Hà Nội lần thứ hai, mở ra cơ hội để thực dân Pháp xâm chiếm lâu dài nước ta. Bằng chứng là Hòa ước Giáp thân 1884 mở đầu thời kỳ Pháp thuộc.

Khu phố Pháp ở Hà Nội được quy hoạch với đầy đủ các chức năng như đô thị ở phương Tây thời bấy giờ. Ở phía Nam khu 36 phố phường truyền thống, khu phố Pháp mới giữ vai trò là trung tâm Hà Nội – Thủ đô của Việt Nam, trong khi ở khu vực Hoàng thành Hà Nội, từ năm 1902 được xác định là trung tâm chính trị của liên bang Đông Dương thuộc Pháp.

H7: Tòa Lãnh sự trong khu Nhượng địa – Kiến trúc thực dân thời kỳ đầu [6]
Ở Hà Nội, đầu tiên thực dân Pháp phá hủy Hoàng thành, trong đó có điện Long Thiên (trên nền điện Kính Thiên xưa) và các bức tường thành,… để xây dựng các công trình phục vụ mục đích quân sự như Sở chỉ huy pháo binh và các trại lính theo phong cách kiến trúc Thực dân thời kỳ đầu.

Cùng thời gian, thực dân Pháp tàn phá các công trình di tích văn hóa lịch sử, đặc biệt là ở phía Nam và phía Đông hồ Hoàn Kiếm để lấy đất xây dựng đô thị. Việc phá hủy thô bạo các di sản văn hóa kiến trúc khiến Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương (1887-1992) phải hối tiếc: “Tôi đến quá chậm để có thể cứu lấy những phần đặc sắc, ít nhất là các cổng thành. Những di tích ấy đáng lẽ phải được bảo tồn. Chúng có những đặc trưng quý giá, chỉ như vậy thôi cũng đáng được chúng ta trân trọng. Đó là những kỷ niệm lịch sử gắn bó với nơi đây, chúng có thể làm đẹp cho những khu xây dựng mới của thành phố” [9].

Trước đó, khu vực Tràng Thi (nay là Thư viện trung ương) đã bị thực dân Pháp chiếm giữ. Và, giáo hội Thiên chúa cũng đã chiếm toàn bộ thôn Báo Thiên ở phía Tây hồ Hoàn Kiếm để xây dựng trung tâm giáo hội với Nhà thờ Lớn Saint Joseph trên nền đất của Tháp Báo Thiên.

Khởi đầu của khu phố Pháp là tuyến đường nối những khu vực mà thực dân Pháp đã chiếm từ trước, là Nhượng địa với Tràng Thi,khu giáo hội thiên chúa và Hoàng thành. Từ con đường đầu tiên này, khu phố Pháp từng bước được hình thành. Khu phố được quy hoạch theo mô hình Thành phố – Vườn dựa trên nguyên tắc phân tách các chức năng.

Khu trung tâm Hà Nội được chú trọng quy hoạch và xây dựng ngay từ đầu, lấy hồ Hoàn Kiếm làm hạt nhân. Trung tâm hành chính đầu tiên gồm 5 công trình được xây dựng ở phía Đông hồ Hoàn Kiếm. Mặt bằng quy hoạch do Montalembert, chuyên viên trắc đạc thiết kế năm 1884 theo kiểu vườn Pháp đăng đối, có trục hướng về phía hồ Hoàn Kiếm để tạo sự thông thoáng tự nhiên cần thiết trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nhờ kết nối liên hoàn hệ thống cây xanh vườn với hồ. 5 công trình cao 2 tầng do Vezin và Huardel thiết kế và xây dựng năm 1886 theo phong cách kiến trúc thực dân thời kỳ đầu. Trung tâm thương mại, dịch vụ phát triển dọc theo phố Tràng Tiền. Ngoài ra còn có một số công trình giao thông, sản xuất, y tế, giáo dục,…

Cùng thời gian người Pháp tiến hành chỉnh trang khu 36 phố phường và cải tạo khu vực hồ Hoàn Kiếm thành công viên. Không gian hồ Hoàn Kiếm, ngoài chức năng mới là phục vụ nhu cầu sinh hoạt công cộng và nghỉ ngơi của cư dân còn là không gian liên kết các khu vực chức năng khác nhau thành một tổng thể trung tâm đô thị thống nhất. Đó là khu vực Giáo hội Thiên chúa ở phía Tây, trung tâm hành chính ở phía Đông, phía Bắc là khu 36 phố phường truyền thống và phía Nam là khu thương mại dịch vụ (Hình 8,9).

H8: Bản đồ Hà Nội, 1902 [2]
H9: Bản đồ Hà Nội, 1943 [2]
Các tuyến phố phát triển về phía Nam tạo thành mạng đường phố hình ô cờ với các ô phố ngay ngắn. Đường, phố có vỉa hè rộng được chuẩn bị trước về hạ tầng kỹ thuật, cây xanh và thiết bị đường phố. Trên ô phố chia thành các lô đất xây dựng. Công trình xây dựng phải tuân theo chỉ giới và khoảng lùi thống nhất. Giữa các ô phố có các vườn hoa nhỏ (Hình 10).

H9: Mặt bằng khu phố Pháp với mạng đường phố hình ô cờ ở phía Nam khu 36 phố phường [3]
Cây xanh và mặt nước là những thành phần rất được chú trọng. Ngoài cây xanh trong công viên và vườn, cây xanh đường phố được lựa chọn để phù hợp với từng tuyến phố. Ví dụ: Cây phượng trên phố Lý Thường Kiệt, vì là nơi tập trung nhiều trường học và viện nghiên cứu; cây bàng phố Tràng Thi tạo thành vòm như để chào đón công chức từ trung tâm Hà Nội đến trung tâm chính trị liên bang Đông Dương hay cây sấu trên phố Trần Hưng Đạo theo hướng Đông Tây để tạo bóng mát,…

H10: Bản đồ quy hoạch Hà Nội 1925
KTS Ernest Hebrard [9]
Khu vực cư trú được quy hoạch khác nhau cho người Âu và người bản xứ. Biệt thự của người Âu ở gần trung tâm, có khuôn viện rộng trung bình 500m2 đối với công chức Hà Nội ở khu vực phía Nam và trung bình 1000m2 đối với công chức Đông Dương ở phía Tây-Bắc. Người bản xứ ở trong các biệt thự ghép trên khuôn viên khoảng 250m2 ở khu vực các phố: Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Mai Hắc Đế,…hay hẹp hơn trong các ngôi nhà phố Hàng Bài, phố Huế,… Điều đó thể hiện rõ bản chất phân biệt đối xử của chính sách thực dân trong quy hoạch đô thị tại thuộc địa (Hình 10).

Tuy nhiên, người Pháp đã có những thành công nhất định trong quy hoạch và kiến trúc ở Hà Nội.

  • Về cấu trúc đô thị, Ngoài việc sử dụng các yếu tố cảnh quan tự nhiên làm thành phần liên kết không gian, sự hài hòa của khu phố Pháp có được còn nhờ vào việc cho phép tồn tại một tỷ lệ nhất định những thành phần kiến trúc đô thị bản địa trong cấu trúc đô thị được thiết kế bài bản kiểu Pháp. Đó là sự có mặt của: Các ngôi làng hoặc một phần ngôi làng cổ như: Bảo Khánh (ở phía Tây hồ Hoàn Kiếm), Vũ Thạch (gần hồ Hoàn Kiếm ở phía Nam) và làng Hạ Hồi với mạng đường, ngõ có hình dạng tự nhiên cùng các ngôi đình, đền, chùa truyền thống; hay dọc phố Hàng Bài (Đồng Khánh) – phố Huế là các ngôi nhà phố (nhà ống) với hoạt động thương mại nhộn nhịp kiểu truyền thống.
  • Về tổng thể kiến trúc đô thị. Cách bố cục không gian kiến trúc đô thị kiểu cổ điển Pháp (Beaux-arts Paris) được áp dụng phổ biến đối với các công trình công cộng lớn là điểm nhấn của tổng thể, án ngữ trục đường, tầm nhìn nhằm nhấn mạnh và tôn thêm vẻ hoành tráng của công trình. Ví dụ: Phủ Toàn quyền, Nhà thờ Lớn, Nhà hát Lớn, Tòa án, Nhà ga đường sắt,… (Hình 11).
    Ngoài ra, tổng thể kiến trúc đô thị đạt được sự hài hòa, thống nhất, phù hợp với tỷ lệ và cảm nhận con người do coi trọng yếu tố thiên nhiên, cây xanh để lựa chọn quy mô công trình hợp lý, không quá tranh chấp và tương phản của các hình thức kiến trúc khác nhau.
  • Về kiến trúc: Bắt đầu từ du nhập các phong cách đến cải biến để phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc điểm văn hóa Hà Nội.

H11: Nhà hát Lớn ở cuối phố Tràng Tiền [Internet]

Ban đầu, nhằm mục tiêu xâm chiếm, phong cách Kiến trúc thực dân thời kỳ đầu là phổ biến. Tiếp theo là phong cách kiến trúc cổ điển phương Tây được sử dụng trong các công trình trụ sở lớn để đề cao văn hóa Pháp, phong cách Địa phương Pháp chủ yếu trong kiến trúc biệt thự để thỏa mãn nỗi nhớ quê hương của người Pháp. Về sau có thêm một số phong cách kiến trúc hợp thời đại như Art-Deco, Art-Nouveau và đặc biệt là phong cách Kiến trúc Đông Dương (Hình 12,13,14,15,16,17).

H17: Kiến trúc Art-Deco – Ngân hàng Đông Dương (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) [Internet]
Phong cách Kiến trúc Đông Dương là một thành công của kiến trúc Pháp ở Đông Dương nói chung và Hà Nội nói riêng. KTS Ernest Hebrard đã sáng tạo phong cách kiến trúc này năm 1925 trên cơ sở khai thác những kết quả nghiên cứu về kiến trúc và văn hoá bản địa của những trí thức Pháp đi trước kết hợp với trải nghiệm nghề nghiệp. Đó là phong cách kết hợp đặc điểm tạo hình kiến trúc Đông Dương với kiến trúc Pháp đồng thời thích ứng với điều kiện khí hậu nhiệt đới. Vẫn nguyên tắc đối xứng trong tổ chức mặt bằng theo kiểu Pháp, nhưng chi tiết kiến trúc trên mặt đứng lại có nguồn gốc địa phương quen thuộc cùng với các giải pháp hợp lý, tạo thông thoáng tự nhiên, chống mưa hắt và bức xạ mặt trời thưòng xuyên. Kiến trúc Đông Dương làm cho kiến trúc Pháp dễ dàng hoà nhập trong cảnh quan văn hóa và kiến trúc bản địa, làm nên giá trị độc đáo của kiến trúc thời Pháp thuộc ở Việt Nam trong đó có Hà Nội. Ví dụ ở Hà Nội là các công trình như: Đại học Đông dương, Bảo tàng Lịch sử, Bộ Ngoại giao, Nhà thờ Cửa Bắc, Viện Pasteur,… (Hình 18).

H18: Kiến trúc Đông Dương – Đại học Đông Dương (Đại học Quốc gia Hà Nội) [Internet]
Từ năm 1954 đến nay, khu phố Pháp chứng kiến nhiều thay đổi. Trước Đổi mới năm 1986, do chiến tranh và những khó khăn về kinh tế kéo dài, số cư dân ngày càng đông trong khi thiếu kinh phí bảo trì, khu phố Pháp xuống cấp. Từ những năm 1990, mở cửa, hội nhập kinh tế với thế giới, khu phố Pháp ở vị trí trung tâm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều công trình cao tầng, vì thế đã được xây dựng. Khu phố Pháp đứng trước nguy cơ thay đổi hoàn toàn diện mạo. May mắn, những năm gần đây, nhận thức của xã hội về di sản kiến trúc đô thị Pháp ngày càng được nâng cao, nhiều quy định về quản lý quy hoạch và kiến trúc được ban hành đã góp phần bảo vệ được khu phố Pháp để không trở thành trung tâm dịch vụ và thương mại quốc tế với các ngôi nhà siêu cao tầng như đã từng diễn ra phổ biến ở các nước trong quá trình hội nhập, phát triển.

3. Nhận xét

Ngày nay, trải qua hơn 150 năm tồn tại (1884 – 2025), khu phố Pháp trở thành di sản kiến trúc đô thị góp phần làm nên giá trị đặc trưng của hình thái đô thị Hà Nội. Quá trình hình thành và phát triển khu phố Pháp cho thấy những bài học không chỉ đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị của khu phố mà còn đối với sự phát triển của thành phố Hà Nội. Đó là:

  • Lựa chọn vị trí là quan trọng có ý nghĩa quyết định. Xây dựng khu mới gần khu cũ để trong quá trình phát triển đô thị không lấn át và làm mất đi giá trị mang tính truyền thống của khu cũ. Cách tiếp cận này dựa trên sự tôn trọng văn hóa địa phương, từ những năm 1970 được nhiều chuyên gia thống nhất gọi là “Quy hoạch vị văn hóa” và được nhiều nước vận dụng.
  • Đô thị sống, phát triển liên tục, khẳng định sự cộng sinh hợp lý các cấu trúc không gian và mô hình đô thị khác nhau tạo nên một hình thái đô thị đa dạng, thống nhất và có bản sắc văn hóa địa phương. Điều này là cần thiết trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
  • Kiến trúc đô thị đạt được tính thống nhất, hài hoà, độc đáo và phù hợp với con người, trở thành biểu tượng của đô thị là kết quả vận dụng hợp lý các yếu tố liên kết các hình thái kiến trúc đô thị khác nhau, trong đó cảnh quan mặt nước, cây xanh và di sản kiến trúc có vai trò quan trọng.
  • Đô thị, tự bản chất luôn là không gian hội nhập và sáng tạo, ở đó di sản đô thị là tài nguyên văn hóa, khơi nguồn sáng tạo vì sự phát triển bền vững và có bản sắc của đô thị.

GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2025)


Tài liệu tham khảo
1. Bourdin C. Le vieux Tonkin de 1890-1894, Hà Nội, Nhà in d’Extreme Orient, 1941.
2. P. Clement,… Hà Nội: Chu kỳ của những đổi thay – NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2003;
3. Ile de France. Hà Nội: Bảo tồn và phát huy giá trị khu phố Pháp phía Nam quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 2008;
4. Hoàng thành Thăng Long: Thông tin di sản 2020 và 2021;
5. Nguyễn Thừa Hỷ: Thăng Long-Hà Nội thế kỷ XVII-XVIII-XIX. Hội Sử học Việt Nam, 1993
6. Masson A. Hanoi pendant la periode heroique 1873-1883, Hanoi, 1929;
7. Hoàng Đạo Thuý: Phố phường Hà Nội xưa – NXB Văn hoá 1974;
8. Trần Hùng, Nguyễn Quốc Thông; Thăng Long-Hà Nội mười thế kỷ đô thị hoá. – NXB Xây dựng Hà Nội 1995
9. Nguyễn Quốc Thông; Histoire de Hanoi: la ville en ses quartiers, trong Hanoi, Les Cahiers de l’IPRAUS, NXB. Recherche, Paris 2001
10. Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam; Viện Sử học. Đô thị cổ Việt Nam, Hà Nội, 1989