Nhìn lại giai đoạn 50 năm (1975-2025): Bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc Việt Nam

1. Dẫn nhập

1.1. 50 năm từ một đất nước khó khăn, kém phát triển sang một đất nước đang phát triển với sự cải thiện đáng kể kinh tế và vị thế quốc gia

Tròn nửa thế kỷ sau ngày toàn thắng và thống nhất đất nước 30/4/1975, nhìn lại tiến trình lịch sử, Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Từ một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế nghèo nàn, hạ tầng lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động của khu vực, hội nhập sâu rộng với thế giới, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Hình 1. Làng xã nông thôn Việt Nam luôn ẩn chứa nhiều giá trị di sản kiến trúc cảnh quan gắn với bổi cảnh tự nhiên và xã hội của mỗi vùng miền
Nguồn: https://dantri.com.vn/du-lich/ve-dep-cua-ngoi-lang-du-lich-tot-nhat-the-gioi-o-quang-binh-20231020180231292.htm

Nếu như sau chiến tranh, Việt Nam chìm trong khủng hoảng của thời hậu chiến, đất nước đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trầm trọng, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân khó khăn, cơ sở hạ tầng yếu kém thì từ khi công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986, nền kinh tế đã có những bước tiến vượt bậc, từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và vươn lên mạnh mẽ. Và đến hôm nay, Việt Nam đã trở thành một điểm sáng về tăng trưởng và thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.

1.2. 50 năm với nhiều thay đổi quan trọng trong quan điểm, tư tưởng và cách thức ứng xử với quỹ di sản kiến trúc: từ không xem trọng đến ý thức di sản trở thành nền tảng văn hóa quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa

Khi kinh tế và vị thế Việt Nam có nhiều cải thiện, 50 năm qua cũng chứng kiến nhiều thay đổi quan trọng trong quan điểm, tư tưởng và cách thức ứng xử với các giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là quỹ di sản kiến trúc. Hàng loạt chính sách, chiến lược phát triển văn hóa gắn với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản đã cho thấy những nỗ lực của Việt Nam trong việc định vị bản sắc phục vụ phát triển đất nước.

Cuộc chiến tranh kéo dài đã tàn phá một phần quan trọng của quỹ di sản kiến trúc. Chính vì vậy, ngay trong những thời điểm chiến tranh leo thang, nhận thức được vai trò, tầm quan trọng công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử, văn hóa và phục chế cổ vật, Bộ Văn hóa đã thành lập Phòng Tu sửa và phục chế (sau đó được đổi thành Xưởng tu sửa, phục chế) thuộc Vụ Bảo tồn, bảo tàng. Lúc này, các hoạt động nghiên cứu về di sản kiến trúc ở Việt Nam mới chỉ ở mức độ sơ khai. Thậm chí, sau năm 1975, có những thời điểm, để phục vụ những chính sách phát triển hướng tới tương lai, nhiều giá trị của quá khứ lại không được xem trọng. Tại nhiều làng xã vùng nông thôn, các công trình đình, chùa, văn chỉ, nhà thờ họ bị phá huỷ để lấy gỗ, gạch, ngói xây dựng trường học và các công trình công cộng, hoặc bị thay đổi chức năng, như chuyển thành nhà kho, hội trường của hợp tác xã. Bên cạnh đó, nhiều người làm công tác quản lý ở các địa phương không quan tâm đến việc tổ chức, phục hồi các hình thức sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng dân gian, trong đó có các lễ hội truyền thống tại các làng xã ở nông thôn. Hệ quả đó đã khiến cho nhiều giá trị truyền thống bị phai nhạt, lãng quên, nhiều di tích đình, chùa có giá trị về lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật bị mất hẳn, giờ đây chỉ còn lưu lại trong ký ức của người dân (Huấn, 2010).

Năm 1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được ban hành, mở ra một thời kỳ mới cho sự nghiệp văn hóa Việt Nam. Di sản văn hóa, trong đó có di sản kiến trúc trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng. Mặc dù xác định bảo tồn và phát huy giá trị di sản là một hoạt động có tính đa ngành và liên ngành, liên quan đến một loạt các vấn đề về lịch sử, văn hóa, xã hội, kỹ thuật – công nghệ truyền thống, kỹ thuật – công nghệ mới, vì vậy phức tạp, công phu và tốn kém chi phí hơn nhiều so với hoạt động xây dựng mới (xét ở cùng một quy mô công trình) (Vinh, Việt, & Hạnh, 2015), nhưng với những chiến lược xây dựng nền văn hoá dân tộc của đất nước đã mở đường cho sự phục hồi các giá trị di sản, giúp di sản văn hóa nói chung và di sản kiến trúc nói riêng trở thành những tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc. Như vậy, di sản văn hóa vừa là nền tảng, vừa là động lực cho phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa khi những xu hướng toàn cầu đang ngày càng lấn át và thậm chí, thay thế những giá trị bản địa.

2. Đánh giá tổng thể quỹ di sản kiến trúc Việt Nam trước năm 1975

2.1. Quỹ di sản kiến trúc truyền thống Việt Nam

Với một lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời gắn với chế độ phong kiến kéo dài qua hàng nghìn năm, mặc dù đã bị tàn phá nhiều bởi những nguyên nhân khách quan như thời tiết, thiên tai… đến những nguyên nhân chủ quan như nội chiến, thay đổi triều đại, chế độ…, đến trước năm 1975, Việt Nam đã hình thành một quỹ di sản kiến trúc truyền thống tương đối phong phú, đa dạng gắn với những đặc trưng vùng, miền lẫn các tộc người, cách thức thực hành văn hóa khác nhau.

(1) Quỹ di sản kiến trúc cộng đồng tại các làng xã nông thôn

Làng xã nông thôn được xem như một đơn vị cơ bản nhất trong tổ chức không gian lãnh thổ. Dù đa phần làng hình thành trên cơ sở tự phát, dựa trên những yêu cầu thiết yếu về sinh sống và sản xuất, nhưng trải qua quá trình phát triển với những hương ước nghiêm luật lại dần tạo nên đặc tính riêng của mỗi làng, trở thành bản sắc – văn hóa của làng mà trong đó kiến trúc là biểu hiện rõ rệt nhất (Đức N. P., 2020). Nhìn chung, di sản kiến trúc cộng đồng tại các làng xã nông thôn gắn kết với việc xây dựng môi trường cư trú có tính bền vững, tồn tại hàng trăm, hàng ngàn năm. Trên khía cạnh di sản vật thể, đó là các giá trị (Cường P. H., 2020):

  • Giá trị di sản về cấu trúc không gian;
  • Giá trị di sản kiến trúc công trình công cộng và nhà ở;
  • Giá trị di sản cảnh quan, cây xanh đặc trưng;
  • Giá trị xây dựng, sử dụng vật liệu, kinh nghiệm bản địa;
  • Giá trị môi trường sinh thái, sinh thái nhân văn;
  • Giá trị tích hợp lồng ghép các giá trị văn hóa phi vật thể.

Nói cách khác, các làng xã truyền thống có giá trị về tổ chức không gian và cảnh quan đặc sắc với các công trình kiến trúc cổ truyền, đường làng, ngõ xóm, đồng ruộng, ao hồ, địa hình cảnh quan sông, kênh mương, cây xanh, mặt nước đẹp và phong phú. Ở các công trình kiến trúc ấy còn chứa đựng giá trị tiêu biểu về việc sử dụng các vật liệu truyền thống trong xây dựng. Không gian kiến trúc, cảnh quan truyền thống là cơ sở để các giá trị văn hóa phi vật thể tồn tại. Các hoạt động văn hóa truyền thống tại sân đình, biểu diễn rối nước trên ao làng, lễ hội hàng năm, các không gian cổng làng, đình, chùa, quán… là những không gian giao tiếp làm tăng tính cộng đồng làng xã. Hệ thống di sản tồn tại khác nhau các làng, có đặc điểm chung nhưng cũng có nhiều đặc điểm riêng (Đức V. H., 2024).

Các loại hình kiến trúc trong quỹ di sản kiến trúc cộng đồng tại các làng xã nông thôn tương đối phong phú, nhưng có thể chia thành 3 nhóm chính (Cường P. H., 2024):

  • Nhóm các công trình tôn giáo, tín ngưỡng: Phục vụ đời sống tâm linh, các hoạt động văn hóa, lễ hội, gồm đình, chùa, đền, miếu, phủ, quán thờ…;
  • Nhóm công trình nhà ở truyền thống: Phục vụ cuộc sống thường ngày gắn với các hoạt động sản xuất, tạo sinh kế cho người dân, gồm nhà ở thuần nông, nhà ở kết hợp nông nghiệp với sản xuất thủ công nghiệp thông qua các nghề truyền thống, nhà ở gắn với hoạt động thương mại, dịch vụ…;
  • Nhóm công trình công cộng truyền thống: phục vụ các hoạt động dân sự, vận hành đời sống thường nhật của người dân, gồm cổng làng, ao làng, giếng làng, cầu đá, quán, điếm…

(2) Quỹ di sản kiến trúc chính thống gắn với các triều đại phong kiến

Hình 2. Kiến trúc cung đình thể hiện những quan điểm chính thống trong thực hành kiến trúc của một thời kỳ lịch sử
Nguồn: https://nguoihanoi.vn/bao-tang-co-vat-cung-dinh-hue-66196.html

Bên cạnh quỹ di sản kiến trúc cộng đồng là quỹ di sản kiến trúc chính thống gắn với các triều đại phong kiến, thể hiện rõ nét nhất thông qua hai thể loại (Mai, 2024):

  • Kiến trúc thành lũy: Vào thời buổi sơ khai, kiến trúc thành – lũy còn xây đắp thô sơ với hình thức rất đơn giản, bao bọc nơi cư trú của con người, vừa để bảo vệ và phòng ngừa sự tấn công từ bên ngoài. Về sau, thành lũy được thiết kế và xây dựng kiên cố hơn. Những thành lũy đầu tiên như Cổ Loa, Luy Lâu, Đại La, Hoa Lư, hay Đồ Bàn… đều được đắp bằng đất. Những thời kì tiếp theo, vật liệu xây thành lũy ngày càng phong phú hơn và cũng tùy thuộc vào mỗi vùng, miền, chủ yếu là đất, đá và gạch. Đến cuối thế kỷ 18, một kiểu thành mới mang phong cách châu Âu – kiểu thành Vauban do người Pháp đưa vào, có mặt bằng theo dạng hình học rõ ràng, có bố trí nhiều góc cạnh bởi việc bố trí những pháo đài, đường chân thành ngoài, đường ngoài hào… tạo nên những giá trị đặc thù cho loại hình kiến trúc này.
  • Kiến trúc cung đình (cung điện, dinh thự): Đây là kiến trúc tiêu biểu và điển hình của các triều đại phong kiến Việt Nam, được xây dựng làm nơi thiết triều, tổ chức các nghi lễ, nơi ở, sinh hoạt của vua chúa, hoàng gia thời phong kiến hoặc nơi tôn miếu của hoàng gia. Cung điện còn được xây dựng ở điểm dừng chân mỗi khi vua tuần, hoặc những điểm danh thắng nổi tiếng để vua có thể đến ngắm cảnh, thưởng ngoạn. Hệ thống cung điện thường gắn với đời sống cung đình, hoàng tộc nên chúng được chú ý đặc biệt, ưu tiên xây dựng với kiến trúc tráng lệ, quy mô hoành tráng… Loại hình kiến trúc này đòi hỏi sự huy động, tập trung cao độ tài lực của cả nước hoặc ít nhất là địa phương nơi xây dựng cung điện, dinh thự, vì vậy, chúng thường có giá trị kiến trúc và thẩm mỹ cao.
Hình 3. Theo thời gian, những kiến trúc của các tộc người dần hòa nhập vào dòng chảy lịch sử kiến trúc Việt Nam
Nguồn: https://baotintuc.vn/anh/ngam-nhung-ngoi-chua-co-kien-truc-doc-dao-cua-nguoi-khmer-tai-soc-trang-20230226161328397.htm

(3) Quỹ di sản kiến trúc từ các dân tộc ít người, các nền văn minh hội nhập vào người Việt

Trong tiến trình mở mang bờ cõi cũng như định hình lãnh thổ, bởi nhiều lý do lịch sử, Việt Nam đã tích hợp được vào quỹ di sản kiến trúc của mình những công trình kiến trúc hay những cách thức thực hành kiến trúc từ các dân tộc ít người, các nền văn minh khác, điển hình như:

  • Kiến trúc người Champa: Chủ yếu là các công trình đền, tháp, tập trung ở các tỉnh miền Trung Việt Nam. Các khu đền tháp Champa luôn có một nhóm, một tổng thể hoàn chỉnh phản ánh vũ trụ quan Ấn giáo (Mai, 2024). Những kiến trúc này trở thành một nguồn di sản quan trọng bổ sung vào sự phong phú, đa dạng của di sản Việt Nam thông qua những giá trị đặc biệt của chúng.
  • Kiến trúc người Hoa: Với hai nhóm kiến trúc quan trọng để định hình nên tổ chức không gian các khu dân cư, chủ yếu ở khu vực miền Nam và Nam miền Trung: (i) Nhóm kiến trúc dân dụng (nhà ở kết hợp cửa hàng, thờ tự…) có vai trò quan trọng đối với kinh tế, văn hóa của giới Hoa thương, (ii) Nhóm kiến trúc tín ngưỡng (miếu, hội quán, mộ cổ, nghĩa trủng, Thanh Minh từ,..) chiếm giữ vị trí đặc biệt đối với sinh hoạt văn hóa, xã hội của cộng đồng nói chung (Tuyết, 2022).

2.2. Quỹ di sản kiến trúc thuộc địa Pháp tại Việt Nam

Giai đoạn thuộc địa Pháp kéo dài gần 100 năm đã giúp hình thành một quỹ di sản kiến trúc thuộc địa Pháp tại Việt Nam, đặc biệt là những đô thị được thiết lập bởi người Pháp hay có sự can thiệp quản lý hành chính của người Pháp. Các công trình kiến trúc thuộc địa Pháp chính là một quỹ tài sản đô thị đặc biệt của Việt Nam khi thể hiện những kỹ thuật mới, những loại hình kiến trúc mà trước đó chúng ta chưa có (nhà thương, nhà ga, thư viện, bảo tàng, nhà hát, khách sạn…). Quỹ di sản này cũng chứng kiến sự hội nhập đầu tiên của xây dựng và kiến trúc dân tộc và thế giới.

(1) Quỹ di sản kiến trúc thuộc địa Pháp thời kỳ đầu với các nguyên mẫu từ kiến trúc cổ điển Pháp

Đây là những kiến trúc của thời kỳ đầu thuộc địa gắn với một số phong cách kiến trúc nguyên mẫu cổ điển Pháp như:

  • Phong cách Thuộc địa, hay còn có cách gọi khác là Phong cách Thực dân Tiền kỳ liên quan đến những công trình xây dựng đầu tiên của người Pháp như các công trình quân sự hay một số công trình tôn giáo thời kỳ đầu của Hội truyền giáo với kiến trúc chủ yếu một hay hai tầng và có các dãy hành lang có vòm cuốn chạy quanh nhà.
  • Phong cách Tân cổ điển được áp dụng nhằm tạo diện mạo hoành tráng cho những công trình công cộng của chính quyền thuộc địa cũng như một số biệt thự đồ sộ, sử dụng lại những yếu tố kiến trúc cổ điển như trán tường, hàng cột… phù hợp với việc tạo hiệu ứng hoành tráng như mong muốn.
  • Phong cách Địa phương Pháp gợi lại phong cách kiến trúc của nhiều vùng miền khác nhau trên lãnh thổ chính quốc Pháp, trong số đó có cả các vùng núi và vùng ven biển mặc dù nền địa hình và điều kiện khí hậu của Việt Nam hoàn toàn không liên quan đến các hình thế thời tiết của những vùng miền này.

(2) Quỹ di sản kiến trúc Đông Dương khi kiến trúc cổ điển phương Tây hòa hợp với kiến trúc truyền thống bản địa Việt Nam

Hình 4. Quỹ di sản kiến trúc thuộc địa Pháp đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo thị hệ thống các đô thị Việt Nam
Nguồn: https://www.elledecoration.vn/cultural-special/heritage/kien-truc-phap-tai-viet-nam

Phong cách Đông Dương hay nói đơn giản hơn là một phong cách pha trộn của riêng “thời kỳ Đông Dương” có sự kết hợp giữa các kỹ thuật xây dựng hiện đại của phương Tây và các yếu tố văn hoá phương Đông cũng như điều kiện khí hậu nhiệt đới. Phong cách đầy sáng tạo và tiến bộ này do KTS Ernest Hébrard khởi xướng, người được giao trọng trách thực hiện nhiều công trình quy hoạch và kiến trúc cho chính quyền thuộc địa ở Đông Dương kể từ năm 1921. Những công trình mang phong cách kiến trúc Đông Dương thể hiện một xu hướng tất yếu khi bản thân giới trí thức Pháp ở thuộc địa cũng thấy được sự áp đặt những giá trị văn hóa từ chính quốc vào một đất nước cũng vốn có truyền thống văn hóa lâu đời là không thể chấp nhận được. Hơn nữa, sau một thời gian khai thác các công trình mang phong cách thuần tuý châu Âu cho thấy nó hoàn toàn không phù hợp về mặt khí hậu cũng như tập quán sinh hoạt, truyền thống thẩm mỹ và cảnh quan Việt Nam.

Bên cạnh đó, ở Việt Nam cũng tồn tại một sự kết hợp khác là kiến trúc Pháp – Hoa có lẽ cũng xuất phát từ ý tưởng muốn xây dựng những công trình đáp ứng được công năng hiện đại nhưng vẫn mang màu sắc kiến trúc Á Đông. Tuy nhiên, khác với các kiến trúc Đông Dương, các tác giả của các công trình theo phong cách này hầu như sử dụng cách thức và yếu tố trang trí cổ điển Trung Hoa.

Cái đẹp của quỹ di sản kiến trúc thuộc địa Pháp tại Việt Nam không chỉ ở sự độc đáo, mà là từ sự tinh tế của người Pháp khi các công trình không được xây dựng quá lớn, quá bề thế mà gần gũi, phù hợp với cảnh quan bản địa. Sự hòa quyện giữa kiến trúc Pháp và kiến trúc bản địa cũng chính từ sự tinh tế đó.

2.3. Quỹ di sản kiến trúc hiện đại tại Việt Nam

Sau Hiệp định Genève 1954, Miền Bắc đã được giải phóng nhưng ở miền Nam, chủ nghĩa thực dân mới đã dựng lên chế độ Sài Gòn, phủ nhận Hiệp định, chia cắt lâu dài đất nước. Bởi vậy, Việt Nam lại tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và cuộc đấu tranh đó diễn ra trong bối cảnh lịch sử mới. Tuy khác biệt về mặt chế độ, nhưng để củng cố vị thế, cả hai miền đều có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc tạo dựng cơ sở vật chất kiến trúc – nền tảng quan trọng để hình thành nên quỹ di sản kiến trúc hiện đại tại Việt Nam.

(1) Quỹ di sản kiến trúc hiện đại ở miền Bắc Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của khối các nước XHCN

Trong mười năm đầu sau Hiệp định, miền Bắc tập trung khắc phục hậu quả của thời kỳ thuộc địa do thực dân Pháp để lại, đồng thời đặt nền móng đầu tiên cho việc xây dựng XHCN. Mười năm tiếp theo, miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu, chống lại cuộc chiến tranh phá hoại, đồng thời dồn sức cho cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam. Giai đoạn này đánh dấu khởi đầu cho một nền kiến trúc mới, được gọi là kiến trúc XHCN, thể hiện qua hai thể loại kiến trúc quan trọng:

  • Các công trình và dân dụng: Nhiều công trình trụ sở, trường học, công trình văn hóa, khách sạn… bắt đầu được xây dựng mới. Các công trình mới này tạm thời đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống mới, góp phần chỉnh trang làm đẹp thêm cảnh quan các đô thị.
  • Các khu nhà ở: Ban đầu, những khu nhà thấp tầng xây gạch được xây dựng tạo nên ý thức hệ về những khu nhà ở tập trung có tổ chức. Các giai đoạn tiếp theo là những khu nhà ở lắp ghép bê tông, cao tầng hơn, tiền đề hình thành thể thức khu tập thể.

Có thể nói, quỹ di sản kiến trúc hiện đại ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975 có phong cách kiến trúc tiêu biểu, có tính đại diện (Vũ & Phong, 2024):

  • Tiêu biểu cho trào lưu kiến trúc XHCN tại Việt Nam;
  • Tiêu biểu cho tính công nghiệp hóa;
  • Các công trình công cộng mang tính đại chúng;
  • Các khu tập thể là công trình nhà ở tiêu biểu dành cho nhân dân lao động;
  • Tiêu biểu cho cơ chế bao cấp, nền kinh tế phát triển theo kế hoạch.

(2) Quỹ di sản kiến trúc hiện đại ở miền Nam Việt Nam dưới sự hỗ trợ của người Mỹ

Hình 5. Chất liệu từ kiến trúc truyền thống trở thành niềm cảm hứng sáng tạo cho cho các công trình trong quỹ di sản kiến trúc hiện đại ở Việt Nam
Nguồn: https://thanhnien.vn/den-thu-vien-chay-deadline-check-in-voi-quyen-sach-khong-lo-185231016151614479.htm

Ở miền Nam, giai đoạn nửa sau thập niên 1950, tạo hình các công trình kiến trúc vẫn chịu ảnh hưởng của kiến trúc thời Pháp thuộc trước đó. Tuy nhiên giai đoạn từ 1960 đến 1975, ảnh hưởng của kiến trúc Hiện đại thế giới đối với miền Nam Việt Nam trở nên rõ nét, tạo hình kiến trúc vì thế cũng đa dạng và phong phú hơn. Công trình kiến trúc được thiết kế với hình học kỷ hà nhưng giải pháp tổ hợp khá tự do.Mái bê tông cốt thép sử dụng phổ biến. Hình thức kiến trúc được sáng tạo phù hợp với khí hậu nhiệt đới, loại bỏ các chi tiết trang trí rườm rà. Trong nhiều công trình (tôn giáo, văn hóa, nhà ở), hình ảnh đặc trưng của kiến trúc truyền thống không được sao chép nguyên bản mà có sự chọn lọc, giản lược và cách tân theo hướng “gợi nhắc” hơn là “miêu tả”. Điều này đã làm biến đổi kiến trúc truyền thống Việt theo một cách mới mẻ, sinh động, phù hợp với sự tiến bộ của vật liệu và kỹ thuật xây dựng đương thời. Đặc biệt, việc ứng dụng các giải pháp chống nóng, thông gió tự nhiên và vật liệu bền vững đã tạo ra những kinh nghiệm hữu ích trong thực hành thiết kế. Mặc dù trải qua nhiều biến động kinh tế, chính trị và xã hội, các công trình kiến trúc hiện đại tại miền Nam vẫn còn giữ được giá trị về mặt phong cách, sử dụng và biểu tượng văn hóa cho đến hiện tại. Những đóng góp từ giai đoạn này không chỉ tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của kiến trúc hiện đại Việt Nam mà còn mang lại nhiều bài học quý báu cho tương lai (Cường & Nguyên, 2024).

3. Nhìn lại công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc Việt Nam từ năm 1975 đến nay

3.1. Giai đoạn 1975-1986 – Khi đất nước còn nhiều khó khăn của thời hậu chiến

Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1976-1986 nằm trong bối cảnh thời bao cấp, đây là giai đoạn áp dụng mô hình kinh tế cũ ở miền Bắc cho cả nước sau khi thống nhất và đồng thời là giai đoạn của những tìm tòi để thoát khỏi mô hình này. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp chỉ dựa vào hai thành phần quốc doanh và tập thể, kinh tế tư nhân không được phát triển, thị trường không được công nhận đã làm hao mòn động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Do đó, quan hệ sản xuất vượt quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, lại đầu tư công nghiệp không hiệu quả nên các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế – xã hội đề ra đều không đạt, khủng hoảng kinh tế – xã hội, cần tìm đường lối đổi mới, khắc phục (Tuyết N. T., 2023).

Nằm trong bối cảnh khó khăn của đất nước, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc cũng chịu ảnh hưởng, thể hiện qua những biểu hiện:

  1. Di sản kiến trúc không được xem trọng do nền kinh tế khó khăn của đất nước: Đời sống vật chất của người dân chưa đảm bảo khi ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm nên đời sống tinh thần cũng hạn chế. Điều này khiến các di sản văn hóa, trong đó có di sản kiến trúc đôi lúc không được chú ý bởi gánh nặng “cơm – áo – gạo – tiền” chung của toàn xã hội.
  2. Nhiều vấn đề về văn hóa chưa được đánh giá đúng mức, trong đó có các di sản khiến chúng bị mai một: Điều này đặc biệt thường xảy ra với các kiến trúc di sản thời kỳ phong kiến, nhất là những di sản cộng đồng. Thực tế là, nhiều kiến trúc truyền thống như đình chùa, đền, miếu, nhà thờ dòng họ gắn với các lễ hội, đình đám, tập tục… ít được quan tâm, duy trì và phát huy, vì bị xem là mê tín dị đoan (Huấn, 2010).
  3. Những quan điểm tiêu cực về các công trình của chế độ cũ (phong kiến, thuộc địa, miền Nam Việt Nam) dẫn đến sự không tôn trọng, ứng xử cực đoan: Với niềm hân hoan của sự chiến thắng, không tránh khỏi một số cá nhân có suy nghĩ cực đoan, phủ nhận những thành quả của các chế độ cũ trước đó dẫn đến sự phá bỏ, làm biến dạng bởi sự dân sự hóa, lấn chiếm, sử dụng sai mục đích nhiều di sản kiến trúc.

3.2. Giai đoạn 1986-2000 – Khi đất nước mở cửa và chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ mới

Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã họp và thông qua chính sách Đổi mới kinh tế toàn diện theo ba hướng chính: một là chuyển đổi từ chính sách đơn thành phần sở hữu sang nền kinh tế nhiều thành phần với sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu nhằm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế; hai là chuyển từ cơ chế Nhà nước trực tiếp điều khiển các hoạt động của nền kinh tế bằng kế hoạch pháp lệnh, gắn với cơ chế bao cấp, sang cơ chế kinh tế thị trường với sự quản lý của Nhà nước ở tầm vĩ mô, bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của từng doanh nghiệp; ba là chuyển từ kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp sang kinh tế mở cửa với thế giới bên ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015). Đây chính là tiền đề để đất nước bước vào giai đoạn mới – giai đoạn của công cuộc đổi mới. Nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển. Đất nước bắt đầu ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được những thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức. Những năm cuối cùng của thế kỷ XX đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tế thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 – 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp (Thảo & Lan, 2013).

Hình 6. Do có một thời kỳ di sản chưa được đánh giá đúng mức, Đàn Xã Tắc trong Kinh thành Huế không được xem trọng và đã bị người dân lấn chiếm không gian
Nguồn: https://vnexpress.net/hang-nghin-ho-dan-o-di-tich-kinh-thanh-hue-sap-di-doi-4552941.html

Cùng với những đổi mới của đất nước, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc cũng đã có những chuyển biến tích cực, thể hiện qua những biểu hiện:

  1. Chính sách Đổi mới đã thay đổi nhiều quan điểm, trong đó có quan điểm về di sản: Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, nghị quyết các kỳ đại hội Đảng và các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1986 đến 1999 đã thể hiện chủ trương và quyết tâm của Đảng trong bảo vệ các di sản và giá trị văn hóa (Hương, 2020). Đây cũng chính là tiền đề cho sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2001.
  2. Nền kinh tế thị trường đã khiến xã hội nhìn nhận lại hệ thống di sản kiến trúc như nguồn tài nguyên quý giá trong việc khai thác các giá trị, trong đó có giá trị kinh tế: Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, một số di sản bắt đầu được nhìn nhận như những “sản nghiệp văn hóa” – của cải được kế thừa từ các thế hệ cha ông – thể hiện qua hai giá trị kinh tế quan trọng: (i) giá trị kinh tế trực tiếp lại được biểu hiện ở chức năng sử dụng/công năng và giá trị trao đổi với tư cách là hàng hóa đặc biệt, ẩn chứa trong các sản phẩm du lịch; (ii) giá trị kinh tế gián tiếp của di sản văn hóa được hòa vào tổng thu của các ngành du lịch, giao thông, khoa học, công nghệ… đóng góp ngân sách địa phương và quốc gia (Cương, 2024).
  3. Chính những hoạt động khai thác giá trị kinh tế làm cho các di sản lâm vào tình trạng khủng hoảng mới khi bị khai thác tận lực, chạy theo những nhu cầu của thị trường: Đây cũng chính là mặt trái từ những tác động của nền kinh tế thị trường lên hệ thống di sản kiến trúc. Di sản bị khai thác tận lực, vượt quá giới hạn, trong khi công tác bảo tồn lại mới bắt đầu được chú ý làm cho nhiều di sản lại đối mặt với những nguy cơ khủng hoảng mới.
Hình 7. Chính sách Đổi mới đã làm hồi sinh đời sống các di sản nhưng nền kinh tế thị trường lại khiến nhiều di sản bị thương mại hóa
Nguồn: https://baoangiang.com.vn/doc-dao-net-van-hoa-di-danh-le-ba-chua-xu-nui-sam-ve-dem-a354229.html

3.3. Giai đoạn 2000-2009 – Khi đất nước được hiện đại hóa, kinh tế cải thiện, thoát khỏi nhóm quốc gia có thu nhập thấp

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (19-24/4/2001) đã thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó có Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Tổng cục Thống kê, 2011). Tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đã cho thấy những thành quả quan trọng (Tổng cục Thống kê, 2011): (i) Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng tương đối khá, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình; (ii) Hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện và sâu rộng, đưa nước ta hội nhập ngày càng đầy đủ với kinh tế khu vực và thế giới; (iii) Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện; sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác có những tiến bộ đáng kể. Chình từ tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên đã dẫn đến Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ nhóm nước thu thập thấp đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp) vào năm 2009 (Thảo & Lan, 2013).

Với những tiến bộ vượt bậc của đất nước, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc dần được pháp lý hóa lẫn chuyên nghiệp hóa, có những phát triển mang tính hệ thống, theo chiều sâu và tiếp biến với khoa học di sản của thế giới, thể hiện qua những biểu hiện:

  1. Những bất cập của giai đoạn trước đã làm tiền đề để Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001: Đây là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới. Mặt khác, trước những thay đổi nhanh chóng, Luật này cũng đã được chỉnh sửa và cập nhật vào năm 2009 để tạo một khung pháp lý chặt chẽ và hợp lý, nền tảng cho các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc.
  2. Di sản được bảo vệ bởi khung pháp lý khiến các hoạt động ứng xử và khai thác di sản kiến trúc trở nên nề nếp, khoa học hơn: Sự hoàn thiện khung pháp lý và lý luận đã khiến nhận thức về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc được đặt trên cơ sở khoa học, cấu thành bởi các lĩnh vực liên quan như lịch sử, khảo cổ học, nhân học, luật học, kiến trúc và mỹ thuật, kỹ thuật chế tác và kỹ thuật xây cất, các lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ khác.
  3. Kinh tế tăng trưởng với nhiều quan điểm mới chịu ảnh hưởng bởi các nghiên cứu hay cách thức ứng xử với di sản kiến trúc từ các nước trên thế giới: Những ảnh hưởng này khiến các vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc tại Việt Nam cũng được cải thiện, cởi mở hơn và dân chủ hơn. Nhiều quan điểm mới về bảo tồn và phát huy giá trị di sản được thảo luận. Kinh tế di sản cũng được nhìn nhận như một giá trị cấu thành. Khu vực tư nhân cũng tham gia nhiều hơn vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc.
Hình 8. Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa không chỉ là đánh dấu cho việc pháp lý hóa chính thức các hoạt động bảo tồn, trùng tu mà còn mang lại một sức sống mới cho các di sản
Nguồn: https://vietnamtourism.gov.vn/post/54406

3.4. Giai đoạn 2009 – nay – Khi đất nước tham gia quá trình toàn cầu hóa, chuẩn bị nguồn lực bước vào kỷ nguyên vươn mình

Kể từ khi thoát khỏi nhóm các nước thu nhập thấp, nhìn lại giai đoạn từ năm 2010 đến nay cho thấy, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực lớn và quyết tâm cao, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực, kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, tăng trưởng kinh tế đạt khá gắn với chất lượng tăng trưởng và các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện, góp phần củng cố niềm tin và tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, đặc biệt phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện (Phúc, 2020).

Hình 9. Khung pháp lý về ứng xử với di sản ngày càng được hoàn thiến khiến các di sản được bảo tồn và trung tu một cách khoa học với những công nghệ tiên tiến và hiện đại
Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/trung-tam-quan-ly-bao-ton-di-san-van-hoa-hoi-an-da-ap-dung-giai-phap-nao-khi-tu-bo-chua-cau-a1524447.html

Trước những vận hội phát triển mới của đất nước, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc đã dần khẳng định vai trò của một lĩnh vực khoa học đa ngành, thể hiện qua những biểu hiện:

  1. Việt Nam ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng từ bên ngoài do quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ dẫn đến di sản kiến trúc trở thành một trong những nền tảng quan trọng để định vị bản sắc dân tộc: Hiện nay, toàn cầu hóa đem lại không ít những lợi ích nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Trong thời đại mới, bản sắc văn hóa dân tộc là nét đẹp kiêu hãnh của một quốc gia, cần được giữ gìn và tiếp nối đến nhiều thế hệ thông qua công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, nhất là di sản kiến trúc.
  2. Các đô thị Việt Nam đẩy mạnh việc cải thiện cơ sở hạ tầng, chứng kiến xu hướng tái thiết ảnh hưởng đến cách thức ứng xử các di sản kiến trúc: Xu hướng này tác động mạnh mẽ đến các di sản thuộc địa hay di sản hiện đại khiến các di sản trở nên “mong manh” trước những dự án phát triển đầy tham vọng. Chính vì vậy, một cách thức ứng xử mới trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc là tái thiết di sản kiến trúc, chuyển đổi công năng, trở thành những công trình văn hóa-nghệ thuật công cộng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân, đồng thời tạo sản phẩm mới của công nghiệp văn hóa, gia tăng hiệu quả kinh tế.
  3. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc bước vào giai đoạn ổn định khi cân bằng được giữa việc khai thác giá trị vật chất lẫn phát huy giá trị tinh thần di sản: Bên cạnh những việc khai thác giá trị di sản đơn lẻ, sự hỗ trợ, kết nối lẫn nhau giữa các di sản đã tạo ra những hoạt động phong phú, những trải nghiệm hấp dẫn cho du khách không chỉ quốc tế mà cả nội địa. Phát triển du lịch văn hóa dựa trên vốn di sản văn hóa đã được kết tinh thành những giá trị mang tính cốt lõi sẽ tạo nên những sản phẩm mới, tạo ra giá trị phái sinh, giá trị gia tăng cho xã hội.
  4. Các lễ hội sáng tạo gắn với các di sản kiến trúc khiến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc tiếp cận nhiều hơn đến cộng đồng: Các lễ hội sáng tạo, với những ý tưởng từ cộng đồng, đã gợi mở những giải pháp mới để phát huy di sản kiến trúc công nghiệp hay di sản trúc đô thị như những công trình kiến trúc, vườn hoa…, bổ sung thêm những cách thức ứng xử mới trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị với các thể loại di sản kiến trúc khác nhau.

4. Kết luận

Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã chuyển biến tích cực sau 50 năm thống nhất và hòa bình của đất nước. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy, góp phần quan trọng quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới. Từ đó, các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc đã thúc đẩy nhiều hoạt động sáng tạo, phát triển các sản phẩm văn hoá, kinh tế, dịch vụ du lịch, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân được đẩy mạnh, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cho đến nay, lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc ở Việt Nam hiện chủ yếu xuất hiện ở dạng thức tổng thuật, tổng kết kinh nghiệm, hoặc tập hợp các suy nghĩ, chứ chưa hình thành triết lý rõ ràng (Hiệp, 2024). Điều này cũng khiến cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc chưa thật sự bền vững.

Nhìn lại giai đoạn 50 năm (1975-2025) bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc Việt Nam để củng cố niềm tin, nhưng cũng đồng thời tự giao phó cho chúng ta trách nhiệm lớn lao để bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn mới – gìn giữ bản sắc văn hóa để góp phần phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

(Phần 1: Nghiên cứu phục hồi Bản vẽ thiết kế Kiến trúc nguyên bản)

TS. Trần Anh Tuấn
PGS.TS Trần Minh Tùng
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2025)


Tài liệu tham khảo
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2015). Thời kỳ 15 năm đổi mới (1986 – 2000). Retrieved from Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư: https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2015/5-Thoi-ky-15-nam-doi-moi-1986–2000-h80aeh.aspx;
2. Cường, P. H. (2020). Bảo tồn thích ứng các di sản làng xã truyền thống trong quy hoạch nông thôn mới. Retrieved from Tạp chí Kiến trúc: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/bao-ton-thich-ung-cac-di-san-lang-xa-truyen-thong-trong-quy-hoach-nong-thon-moi-2.html;
3. Cường, P. H. (2024). Đánh giá tiềm năng di sản kiến trúc và cảnh quan nông nghiệp, nông thôn để phát triển du lịch. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, 247.
4. Cường, P. P., & Nguyên, N. S. (2024). Nhận diện đặc điểm và giá trị kiến trúc hiện đại miền Nam giai đoạn 1954-1986. Tạp chí Kiến trúc, 8-2024.
5. Đức, N. P. (2020). Bảo tồn kiến trúc làng xã – Những vấn đề đặt ra cho nông thôn ngày nay. Retrieved from Tạp chí Kiến trúc: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/bao-ton-kien-truc-lang-xa-nhung-van-de-dat-ra-cho-nong-thon-ngay-nay.html
6. Đức, V. H. (2024). Làng xã Hà Nội – Thực trạng, bảo tồn và phát triển. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, 252.
7. Hiệp, V. (2024). Lý luận về bản sắc kiến trúc và di sản kiến trúc ở Việt Nam. Tạp chí Kiến trúc, 2-2024.
8. Huấn, Đ. D. (2010). Về sự phục hồi các giá trị truyền thống làng xã. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 2.2010.
9. Hương, Đ. T. (2020). Hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay. Retrieved from Tạp chí Cộng sản điện tử: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/817154/hoan-thien-phap-luat-ve-di-san-van-hoa-phi-vat-the-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx
10. Mai, N. T. (2024). Tổng quan về kiến trúc cổ truyền Việt Nam. Tạp chí Kiến trúc, 8-2024.
11. Phúc, N. X. (2020). Nhìn lại 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020: Kết quả, bài học kinh nghiệm và định hướng thời gian tới. Retrieved from Tạp chí Cộng sản điện tử: https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nhin-lai-10-nam-thuc-hien-chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-2011-2020-ket-qua-bai-hoc-kinh-nghiem-va-dinh-huong-thoi-gian-toi
12. Thảo, Đ. T., & Lan, N. T. (2013). Những thành tựu cơ bản về phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam từ khi đổi mới đến nay. Retrieved from Tạp chí Cộng sản điện tử: https://tapchicongsan.org.vn/en/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/21694/nhung-thanh-tuu-co-ban-ve-phat-trien-kinh-te—xa-hoi-cua-viet-nam-tu-khi-doi-moi-den-nay.aspx
13. Tổng cục Thống kê. (2011). Tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam mười năm 2001 – 2010. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê.
14. Tuyết, N. T. (2023). Thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1975-1986. Retrieved from Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị: https://lyluanchinhtri.vn/thuc-hien-muc-tieu-doc-lap-dan-toc-va-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-giai-doan-1975-1986-47.html
15. Tuyết, V. T. (2022). Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Khảo cổ học. Di tích kiến trúc cổ của người Hoa ở Hội An (Quảng Nam). TP. Hồ Chí Minh: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
16. Vinh, L. T., Việt, P. Đ., & Hạnh, N. Đ. (2015). Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản kiến trúc, đô thị Việt Nam (giai đoạn 2010-2015). Tạp chí Kiến trúc, 5-2015.
17. Vũ, Đ. H., & Phong, N. Đ. (2024). Kiến trúc miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1986: Dấu ấn lịch sử đến di sản. Tạp chí Kiến trúc, 8-2024.