Nhìn về truyền thống từ bối cảnh đương đại phát huy hay đổi mới giá trị?

Tiêu đề của bài viết này có phần đầu được lấy theo Chuyên đề tháng 8/2024 của Tạp chí Kiến trúc – “Truyền thống từ góc nhìn đương đại” và ghép với một phần của tên Đề tài nghiên cứu (“Bảo tồn, phát huy và làm mới giá trị truyền thống trong phát triển kiến trúc Việt Nam”). Thực chất, đây là một câu hỏi lớn đang được để mở, với rất nhiều câu hỏi nhỏ kèm theo – Bởi vấn đề đặt ra đang chứa đựng những yếu tố không rõ ràng và mâu thuẫn, nhưng rất khó phân định được một cách rạch ròi. Câu trả lời (nếu thỏa đáng) sẽ là một đóng góp về mặt nhận thức và định hướng để giải quyết vấn đề. Nội dung bài viết này thể hiện quan điểm và cách tiếp cận của cá nhân người viết – Hy vọng là có thể hữu ích đối với nhóm nghiên cứu.

Những câu hỏi đặt ra

“Truyền thống” ở đây là một khái niệm có tính trừu tượng (“Văn hóa truyền thống” nói chung), một khía cạnh riêng (một truyền thống nào đó), hay là những sản phẩm / thực thể phản ánh nó (biểu hiện cụ thể)? “Đương đại” là cái của thời hiện tại (về thời gian) hay là cái hiện đại (về tính chất), hay là cả hai (?). Truyền thống thì bắt đầu từ quá khứ, và thường được dùng như sự đối lập về chất với cái đương đại, tạo thành hệ vấn đề “Truyền thống và Hiện đại” trong sự phát triển văn hóa – xã hội (trong khi cái lạc hậu chỉ là đối cực về trình độ). Nhìn vào truyền thống là hướng về quá khứ (ngược dòng thời gian), còn đang ở hiện tại (đương đại) thì theo xu thế tự nhiên cứ xuôi dòng là tiến tới tương lai. Về nguyên tắc, hôm nay đang là hiện tại, còn hôm qua đã là quá khứ – Nhưng có một sự tiếp nối tự nhiên, không có gì là đột biến, mâu thuẫn như mối quan hệ đối lập giữa các cặp phạm trù “Truyền thống >< Hiện đại”, “Quá khứ >< Hiện tại”, “Thời điểm >< Quá trình”… Vậy thì tại sao lại phải nhìn về quá khứ trong khi vẫn hướng đến tương lai? Mục đích của cái nhìn “ngược chiều” này để làm gì? – Có giống như khi chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua – Để trút bỏ những thứ không dùng đến cho nhẹ gánh? “Đổi mới giá trị” là nhằm thay đổi cái truyền thống (khách thể) – Hay là thay đổi chính quan niệm của chúng ta (chủ thể) cho mọi việc nhẹ nhàng hơn? Ai và tại sao lại cần đến điều đó?

Trong điện ảnh, có cả một dòng phim “ngược chiều thời gian” – Đưa nhân vật trở về quá khứ để sửa chữa sai lầm / để “cài đặt” lại một vài tình huống, nhằm thay đổi thực tại cho hiệu quả hơn, tốt đẹp hơn. Mặc dù điện ảnh rất mạnh về kỹ xảo mô phỏng, nhưng các phim này không đặt vấn đề về sự biến đổi bối cảnh của quá khứ, cũng không tìm cách tái hiện quá khứ trong bối cảnh của hiện tại. Trong kiến trúc có thể làm như vậy (cho đơn giản) được không? Cái nhìn “ngược chiều” vào truyền thống trong kiến trúc có thể xa đến đâu (?) và nên dừng lại ở đâu? Ví dụ: Có cần thiết phải tìm về thời đại Hùng Vương dựng nước để làm kiến trúc ở thế kỷ 21, kể cả là Bảo tàng lịch sử? Nhìn xa về quá khứ không quan trọng bằng nhìn thấy cái gì ở đó – Bởi có thể “nhìn” (có được thông tin) nhưng nếu không hiểu gì thì cũng như là không “thấy”. Để “nhìn” mà “thấy” được, thì cách nhìn là quan trọng – Ở đây là hướng nhìn / góc nhìn / con mắt nhìn của mỗi người. Tùy vào mục đích mà có các công cụ, bộ lọc, bộ khuếch đại phù hợp để nắm bắt. Nhưng các nghệ sĩ tìm kiếm ở truyền thống những chất liệu để biểu đạt cái hiện đại, trong khi nhà nghiên cứu lại đi tìm ở đó những thông tin về quá khứ – Còn nhà Lý luận – Phê bình thì muốn tìm thấy sự biểu hiện truyền thống trong tác phẩm của các nghệ sĩ. Chính vì thế mà chúng ta chưa có được sự thống nhất trong nhận thức và ứng xử với truyền thống. Cũng như các kết quả xét nghiệm, siêu âm, X-quang, cộng hưởng từ,.. của cùng một con người – Mỗi thứ là một bức tranh khác biệt, không đồng nhất, nhưng phải biết liên hệ chúng với nhau để có được sự chẩn đoán đúng đắn và toàn diện.

Có những truyền thống đã thuộc về quá khứ (đã hoàn toàn mất đi) và có những truyền thống vẫn còn đến ngày nay – Trong đó, có cái còn nguyên vẹn, có cái đã thay đổi một phần (hoặc là đang bị mai một dần, hoặc đang chuyển hóa). Như vậy, vai trò và mức độ hiện diện của các truyền thống khác nhau là rất đa dạng, nên mức độ can thiệp và ứng xử với chúng cũng khác nhau. Vấn đề “nhìn” và “thấy” được đặt ra (để xem xét và giải quyết) trong một ngữ cảnh tương đối “hẹp”, của những truyền thống đang suy yếu / đang mất dần đi mà không có cơ hội, không có khả năng tự phục hồi. Còn những cái đang biến đổi thì có nghĩa là vẫn có khả năng thích ứng để tiếp tục tồn tại.

Nếu như một truyền thống có sự phát triển liền mạch từ quá khứ đến hiện tại (và có thể tiếp nối đến tương lai) thì không có vấn đề gì phải bàn cãi. Nhưng đối với một truyền thống đang mất dần đi, thì trạng thái ở giai đoạn nào của nó có thể được coi là đại diện / là tiêu biểu để xem xét “từ góc nhìn đương đại”? Tình trạng hiện tại của nó (những gì còn lại) liệu có đủ lớn về lượng và đủ đậm về chất để nhận diện được không? Và, nếu không đủ, thì “Phase” cuối cùng, hay là “Face” gần nhất và tương đối rõ ràng của truyền thống đó là gì?

Sự suy thoái của truyền thống bản địa

Nhìn ở một khoảng cách gần hơn để tham chiếu – thì Phase / Face gần nhất của thời đương đại chính là thời kỳ đầu Đổi mới (1986-2000). Thế nhưng kiến trúc của thời đó đã không được ghi nhận mà còn bị phủ định / bị xóa bỏ để xây công trình mới – Thì những kiến trúc truyền thống của quá khứ xa hơn sẽ khó có cơ hội để tồn tại, mà nhiều khả năng đã bị hủy hoại, hoặc là bị biến dạng hoàn toàn. Quả thực là ở giai đoạn ngay trước đó (1954-1986), trong bối cảnh cả xã hội tập trung vào công cuộc xây dựng con người mới và nền văn hóa mới XHCN, thì nhiều giá trị truyền thống của xã hội cũ đã bị xóa bỏ, hoặc bị cô lập / bị dứt ra khỏi những mối quan hệ nhân văn nuôi dưỡng nó, nên đã mai một nhanh chóng. Bởi thế, cho nên muốn có những hình ảnh tương đối rõ ràng của văn hóa và kiến trúc truyền thống thì phải tìm ở giai đoạn trước 1945 (trong các quỹ tư liệu khảo cứu / điền dã của người Pháp), nếu có thể nữa thì thêm các thông tin ghi chép ở thế kỷ 19 (trước khi nước ta trở thành thuộc địa của Pháp), còn trong thực tế hiện nay thì khả năng cao là không còn lại gì đáng kể.

Ở đây có một hiệu ứng / đặc trưng (Symptom / Feature) do bối cảnh phát triển dẫn đến cái gọi là lý thuyết văn hóa Hậu thực dân tại các nước thuộc địa cũ (trên cơ sở cuốn sách “Đông phương luận “Orientalism” của Edward W.Said, 1978). Theo đó, trong cuộc đối đầu với cái cổ điển, rồi sau đó là giao thoa và tiếp biến với cái hiện đại của phương Tây, thì văn hóa (và kiến trúc) bản địa đã bị mất dần đi và đến bây giờ không còn là truyền thống nữa. Bởi theo nội hàm của khái niệm, thì “truyền thống” là cái được lưu truyền một cách thống nhất (toàn vẹn, có hệ thống, không bị phân tách / chia cắt) và cả nhất thống (quy về một mối, có tính chủ đạo / bao trùm và thống lĩnh). Văn hóa truyền thống bản địa có thể đã tồn tại hàng trăm hàng ngàn năm, nhưng sau thời kỳ thuộc địa thì chỉ còn là những mảnh ghép bị vụn vỡ / mất mát, không còn thấy được hình hài cơ bản. Dưới tác động của làn sóng văn hóa Hậu hiện đại (những năm 1970-1980), chúng lại được tái khám phá và đến với công chúng đương đại dưới dạng những hiện tượng rời rạc, những thông tin đứt đoạn về quá khứ, chỉ gợi lên những ký ức / hoài niệm chứ không còn được thực hành đầy đủ, cũng không thể phục hồi được trọn vẹn như trước – nên không còn là một “truyền thống” theo đúng nghĩa. Một cách hình ảnh: “Tấm gương” truyền thống đã bị rạn vỡ, rơi mất nhiều mảnh, những mảnh còn lại vẫn lấp lánh sáng – Nhưng ta không thể soi vào mà thấy được chúng phản chiếu cái gì.

Đầu đao chùa Keo (Hành Thiện)

Với kiến trúc truyền thống cũng vậy: Từ một vài mô thức chung thống nhất và phổ biến trong dân gian (có thể thích ứng với nhiều hoàn cảnh khác nhau), sau đó được mô-đi-phê (Modified / biến tấu) theo vùng miền, rồi chỉ còn được mô phỏng bởi những đội thợ “trăm hay không bằng tay quen” (do không có bản thiết kế), cuối cùng trở thành những mô-tip riêng lẻ (là những thành phần / chi tiết rời rạc), không còn tính toàn thể và tính hệ thống. Cùng với đó là hàng loạt nguy cơ: Từ các biến thể không thuần nhất, qua “tam sao thất bản” đến chỗ bị biến dạng cả về hình thái và cấu trúc, nên không thể phục hồi nguyên vẹn mà sẽ mất dần đi. Trong khi đó, kiến trúc thuộc địa (do thực dân du nhập từ phương Tây) thì lại từng bước thích ứng với các điều kiện khí hậu tự nhiên và văn hóa – xã hội bản địa, từ đó khẳng định được ưu thế của mình, dần dần được tầng lớp thị dân bản địa mới rồi đến cả cộng đồng chấp nhận. Có tình trạng chung là đến khi đất nước giành được độc lập, thì kiến trúc theo kiểu thuộc địa thường đã thích ứng tới mức được người dân sử dụng rộng rãi, thậm chí còn lấn át và thay thế dần các kiến trúc truyền thống, trở thành kiến trúc “hậu thuộc địa”. Đó chính là hiện thân trực tiếp của văn hóa “hậu thực dân” mà không có thực dân cai trị.

Một thực tế rõ ràng là các yếu tố vật chất thì không thể tránh khỏi bị lão hóa / bị phân rã tự nhiên – Nên văn hóa vật chất và hình thể truyền thống kiểu gì cũng sẽ bị lạc hậu và dễ bị đào thải khi không còn phù hợp / không đáp ứng được nhu cầu. Trong khi đó, văn hóa tinh thần phi vật thể thì có sức sống dẻo dai hơn rất nhiều nhưng cần có được những hình thức vật chất phù hợp để biểu hiện ra, để được lưu giữ và truyền lại theo thời gian. Như vậy, cái nhìn về truyền thống từ bối cảnh đương đại không thể chỉ dừng lại ở những hình ảnh bên ngoài (rồi dựa vào đó mà biến đổi / cách điệu hóa để áp dụng vào công trình mới), mà cần thấy được cái cốt cách tinh thần ẩn chứa ở bên trong, cái bản thể quyết định mọi sự biểu hiện. Yếu tố vật chất và hình thể như vậy chỉ còn đóng vai trò là những ký hiệu thị giác để nhận biết sự vật, hiện tượng – Nhưng chúng không phản ánh cái bản chất, không xuất phát từ nội dung. Ví dụ: Các thức cột (Doric, Ionic, Corinthian, Tuscan, Composite) là những yếu tố của phong cách Cổ điển, chúng đặc trưng cho kiến trúc phương Tây – Nhưng không biểu hiện và không phụ thuộc vào nội dung / chức năng cụ thể của công trình; hay là kiến trúc của cộng đồng người Hoa có thể được nhận biết qua một số dấu hiệu thị giác đặc thù (như chữ tượng hình, hệ đấu – củng, ngói ống, màu sắc đỏ và đen,..) – Chúng không nói lên được cái đại thể và cái tiểu tiết của văn hóa Trung Hoa.

Truyền thống Việt Nam đang ở đâu?

Kiến trúc truyền thống Việt Nam có một số kiểu cách chung của bộ vì được áp dụng cho tất cả các loại nhà cửa, cung điện, đình chùa, đền miếu,.. nên nhìn hình thức bên ngoài thì thường tương tự nhau. Nhưng, từ đó có thể khai thác được cái gì cụ thể hơn để làm thành dấu hiệu / ký hiệu biểu trưng hay không?. Ngôi nhà hình thuyền (khắc trên trống đồng thời kỳ văn hóa Đông Sơn) rất đặc sắc / độc đáo, nhưng liệu có phải là một “truyền thống” của người Việt không – Khi nó không còn dấu tích nào trong cả ngàn năm văn hóa Đại Việt, nhưng lại thấy hiện diện ở một số đảo vùng Đông Nam Á?. Có những nghiên cứu đã tìm cách khẳng định, hoặc biện minh cho sự đột biến / đứt mạch văn hóa này của người Việt sau thời kỳ Bắc thuộc. Có một số quan điểm đã tìm cách “bắc cầu” từ kiểu mái nhà hình lưỡi rìu (là món vũ khí đặc trưng của người Việt cổ) sang hình thức đầu đao trong các đình chùa thế kỷ 17-18, nâng tầm nó thành một hình tượng / hình ảnh biểu trưng. Chưa thể khẳng định là mạch văn hóa có thực sự được nối liền hay không, nhưng đầu đao đã được sử dụng trong hàng loạt công trình tôn giáo / tín ngưỡng mới xây dựng (bất kể làm bằng gỗ hay bằng bê tông, thậm chí làm tạm bằng tôn) và khiến cho nó từ chỗ đang đặc sắc / độc đáo lại trở thành bị “thường” hóa, mất đi ý nghĩa biểu tượng. Cũng có cả những ý tưởng khai thác hình ảnh của trống đồng – nhưng khiến cho nó từ chỗ đang là bảo vật quốc gia mang tính biểu trưng cao quý thì lại bị “hạ cấp” thành đồ vật để bày trên bàn, thành hình trang trí để treo lên tường, thậm chí để lát mặt sàn (cho người ta dẫm chân lên?).

Trong mối quan hệ với truyền thống, chúng ta gặp một trở ngại vô hình nhưng rất lớn – Đó là người Việt tuy không thiếu nhân tài, nhưng lại không chú trọng việc tạo dựng và khuếch trương những giá trị tinh thần của mình một cách mạnh mẽ để thu phục thiên hạ, không phát triển những triết thuyết hay tư tưởng cao siêu để nhất thống nhận thức và ý thức hệ. Thế giới quan được truyền dạy không phải bằng triết lý, mà bằng ca dao, tục ngữ; không nói trực diện vào vấn đề mà thông qua sự liên tưởng / ẩn dụ sâu xa. Tâm linh thì ít tính chất giáo lý, mà nhiều tín ngưỡng dân gian. Bí quyết xây dựng thì được lưu truyền bằng những nét khắc trên cái thước tầm (mà không cái nào giống cái nào), chứ không tổng kết bằng sách vở,.. Có lẽ do ở vào thế ứng xử phải xoay sở linh hoạt giữa nhiều luồng áp lực, nên người Việt luôn hướng tới sự dung hợp để thích ứng và tồn tại, văn hóa Việt thường chỉ lưu truyền trong phạm vi làng xã – là những đơn vị cố kết bền vững của cộng đồng (“phép vua thua lệ làng”). Cá nhân thường ẩn mình trong cộng đồng, lấy “nhân hòa” làm trọng; khi có biến mới xuất đầu lộ diện – mấy ai gặp được “thiên thời, địa lợi” như Nguyễn An?. Bởi vậy, nếu nhìn vào những đỉnh cao của cổ học phương Đông, thì tinh hoa văn hóa Việt luôn bị khuất sau cái bóng quá lớn của Ấn Độ, Trung Hoa, hay Nhật Bản.

Và với tính cách như thế, nên khi văn hóa có sự biến động mạnh mẽ / diễn biến nhanh và liên tục, thì người Việt có thể tạm chấp nhận thời cuộc để tồn tại, rồi sau đó dần dần thích ứng để hồi sinh, như đã xảy ra trong các thời kỳ Bắc thuộc và Pháp thuộc. Thời kỳ quá độ hiện nay (đổi mới kinh tế – xã hội trong nước đồng thời với sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai và tác động của toàn cầu hóa) cũng là một bối cảnh gần như vậy, nhưng diễn ra trong thời bình, không có chiến tranh, không bị xâm lược – nên các thế hệ bây giờ dễ bị chủ quan mà “cuốn theo chiều gió” – Không tỉnh táo để phản biện và lựa chọn, càng không còn ý thức đề kháng và ý chí sinh tồn để vượt thoát khỏi cái bẫy của sự đồng nhất hóa. Văn hóa cộng đồng vẫn đề cao / ghi nhận vai trò của những cá nhân xuất sắc (“một người lo bằng cả kho người làm”), nhưng cũng tạo ra tâm lý “an phận thủ thường” ở một bộ phận đáng kể người dân.

Truyền thống nhìn từ quan điểm Văn hóa Hậu thực dân

Hệ quả lâu dài nhất (theo lý thuyết văn hóa Hậu thực dân) chính là sự tác động đến suy nghĩ và cảm nhận của con người – kiểu như: người Việt hiện tại đã “khác” với người Việt trong quá khứ (những chủ nhân của văn hóa truyền thống) cả về biểu hiện và về bản thể, nên họ không thể giữ nguyên những truyền thống cũ – Mà phải cải biên nó cho “khác” đi, thậm chí là tạo dựng “truyền thống mới” của thời đại mình (Ví dụ: Trong những kiến trúc mới du nhập mà trước đây chưa từng có). Trên thực tế đã thấy có một số hiện tượng như vậy: Viết chữ quốc ngữ theo kiểu thư pháp / biểu diễn nhạc cụ dân tộc theo kiểu dàn nhạc giao hưởng / đưa tuồng, chèo, quan họ lên sân khấu hộp kiểu châu Âu / xây những ngôi chùa mới đồ sộ, hoành tráng không kém gì của Trung Hoa hay Nhật Bản / những khu đô thị, công trình, biệt thự còn “Tây hơn cả Tây”,..

Chính ở đây thể hiện rõ nhất vì sao lý thuyết văn hóa nói trên lại được gọi là “Hậu thực dân” (theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng): Mặc dù thuộc địa đã độc lập, chế độ thực dân đã lùi vào quá khứ, nhưng tác động của nó thì vẫn còn dai dẳng kéo dài và tiếp tục làm tan rã các truyền thống bản địa đã bị suy yếu, cuối cùng vẫn là hướng đến sự độc tôn (Monocentrism) của văn hóa phương Tây – Bất kể những nỗ lực “thoát Âu” (Euro-Excentrism) đã trở thành một xu thế phát triển của thế giới đương đại đa cực. Từ một khái niệm địa lý mơ hồ và xa xôi, phương Tây đã trở thành một phạm trù tâm lý ám ảnh ngay trong đầu mỗi con người, rồi lại nhờ vào bối cảnh toàn cầu hóa mà hiện diện trong hàng loạt sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần đa dạng, trực tiếp bủa vây và thâm nhập vào mọi khía cạnh cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội.

Tình trạng này rất có thể dẫn con người ở các thuộc địa cũ tới những thái độ “phản kháng” cực đoan – Không chỉ chống lại cái đương đại của phương Tây (tự cho là hình mẫu duy nhất của văn minh, tiến bộ, mặc dù có rất nhiều vấn đề bất cập), mà với cả cái truyền thống của chính mình (vốn bị xem là cổ hủ, lạc hậu – nên phải cải tạo). Những hiện tượng như vậy đã được thấy ở nhiều nước, như là hệ quả của sự mâu thuẫn / bế tắc trong thế ứng xử của con người với di sản mà lịch sử để lại – Khi họ đã hết sức nỗ lực nhưng không thể phục hồi được truyền thống vốn có và đến bây giờ thì không thể buông bỏ nhưng cũng không biết phải làm thế nào với những “mảnh quá khứ” vụn vỡ của mình. Có thể nói là rất nhiều quá khứ, nhiều mảnh ghép nhưng không thấy được bức tranh truyền thống. Ở Việt Nam, tôi có đọc thấy đâu đó đã xới lên việc “làm mới truyền thống” – Phải chăng là cũng phản ánh nhu cầu “đổi mới tư duy” để khắc phục tình trạng bế tắc tương tự như vậy, bằng cách thay đổi truyền thống cho phù hợp với bối cảnh đã “khác trước”?.

Vấn đề này ở Việt Nam có thể còn chịu tác động một phần bởi nguyên lý “Phản truyền thống” (Anti-Traditional) của Kenzo Tange – đối với hình thức kiến trúc theo quan điểm Chuyển hóa luận. Khi một bậc thầy đáng kính như vậy mà còn chủ trương “chống lại” truyền thống / “đập vỡ” truyền thống – thì việc chúng ta cải biên / làm mới truyền thống vẫn là nhẹ nhàng (?). Thực ra đây là chủ ý của Kenzo Tange nhằm chứng minh bằng thực tế: Công trình ông làm tuy trái ngược hoàn toàn với hình thức kiến trúc truyền thống nhưng vẫn biểu hiện đặc tính văn hóa Nhật Bản – Bởi đó là những cách khác phản ánh được các giá trị như tính chất biểu trưng, triết lý Thiền và tư tưởng Thần đạo đã in sâu trong thế giới tâm linh và văn hóa tinh thần của người Nhật. Đặt trong bối cảnh của nước Nhật những năm 1960 (đã hiện đại hoá rất sớm từ thế kỷ 19, nhưng khi đó đang phải “làm lại từ đầu” sau thất bại trong chiến tranh thế giới thứ 2) thì cách nói cường điệu mạnh mẽ để thoát khỏi sự trói buộc và cản trở của truyền thống là hợp lý và cần thiết. Còn 30 năm sau (1990-), thì nó trở thành “giật gân và gây sốc” đối với các KTS Việt Nam – Khi đó đang ở những năm đầu của thời kỳ Đổi mới và đang rất lạc quan với khẩu hiệu “Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc”.

Trở lại với những ví dụ đã nêu ở trên – Có thể nhận thấy là các nghệ sĩ chỉ mượn một phần / một vài yếu tố của truyền thống làm công cụ để biểu đạt cảm xúc theo quan điểm riêng của mình, nên cái truyền thống không hiện hình rõ nét như một chủ đề chính trong sản phẩm cuối cùng. Các nghệ sĩ chuyên nghiệp thuộc tầng lớp tinh hoa trong xã hội, cách họ làm là sự sáng tạo của cá nhân, hoặc là sự khởi tạo một trào lưu nghệ thuật mới – Nhưng liệu nó có phù hợp với đại chúng, có phản ánh nhu cầu chung của cộng đồng, có được chấp nhận bởi mọi người hay không – Để có thể gọi là sự biểu hiện một “truyền thống” (dù là mới hay cũ)? – Có lẽ là không – Bởi sáng tạo nghệ thuật luôn đi trước thời đại. Vì vậy, ở đây đang rất cần các nhà nghiên cứu, các chuyên gia LL – PB cùng vào cuộc để làm rõ về mặt nhận thức sự phân định giữa lý luận và thực tiễn, giữa định hướng và hành động – Tránh sự nhập nhằng giữa sáng tạo và ngụy tạo.

Có thể đi theo con đường khác được không?

Tại sao lý thuyết văn hóa Hậu thực dân vẫn tác động “vắng mặt” và lâu dài ở các thuộc địa cũ – ngay cả khi các nước này đã giành được độc lập?. Liệu có con đường nào khác để phát triển mà không bị ảnh hưởng của nó ít nhất là trong lĩnh vực văn hóa?. Câu hỏi đặt ra ở đây hoàn toàn logic, và câu trả lời (về mặt lý thuyết) là hoàn toàn có thể. Tuy nhiên, trên thực tế điều đó phụ thuộc rất nhiều vào tương quan cụ thể giữa các yếu tố văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai. Có thể thấy do thời kỳ thuộc địa ở các nước bắt đầu và kết thúc sớm / muộn khác nhau, nên mức độ bảo lưu truyền thống và thích ứng hóa / bản địa hóa kiến trúc thuộc địa ở mỗi nơi cũng rất khác biệt.

Có những khu vực như Bắc Mỹ (gồm Mỹ và Canada) từng là thuộc địa từ rất sớm, và đã độc lập từ thế kỷ 18 nhưng dân da đỏ bản địa chỉ còn là thiểu số, trong khi đại đa số là dân nhập cư đi tìm “thế giới tự do” (phần lớn từ châu Âu) nên đã trở thành một phần hữu cơ của “phương Tây” đương đại, trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và tư tưởng. Tương tự như vậy, Australia và New Zealand (thuộc châu Đại dương) vốn là các thuộc địa cũ của Anh, tuy phát triển sau Bắc Mỹ và độc lập tương đối muộn, nhưng vẫn nằm trong Khối thịnh vượng chung, người gốc Anh chiếm đa số áp đảo và tiếng Anh là ngôn ngữ quốc gia.

Ở khu vực Trung Mỹ và Nam Mỹ, thời kỳ thuộc địa tương đối dài và kết thúc muộn hơn (trong thế kỷ 19), cư dân bản địa vẫn chiếm phần lớn nhưng đã hòa nhập cùng kiều dân châu Âu, tiếp nhận văn hóa và ngôn ngữ của chính quốc (gốc Latinh, chủ yếu là tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và một phần nói tiếng Pháp). Trên cơ sở đó đã hình thành khu vực văn hóa Mỹ Latinh (trong sự đối lập với Bắc Mỹ dùng tiếng Anh). Còn ở khu vực châu Phi thì thời kỳ thuộc địa kéo dài và kết thúc muộn nhất (đến giữa thế kỷ 20), các nền tảng kinh tế và văn hóa – xã hội đã bị thực dân hóa sâu sắc – nên tác động “hậu thực dân” cũng biểu hiện rõ nét nhất.

Việt Nam bị xâm chiếm muộn (nửa cuối thế kỷ 19), thời kỳ thuộc địa ngắn (~70 năm), người Việt lại luôn chiếm đa số áp đảo và luôn có tinh thần phản kháng / đấu tranh giành độc lập, kết quả là đến năm 1954 người Pháp đã phải rút về nước. Tại thời điểm đó, văn hóa nghệ thuật nói chung đã có sự phát triển tích cực trên cơ sở tiếp thu các yếu tố tiến bộ của phương Tây; kiến trúc thuộc địa mà người Pháp đưa vào Việt Nam đã bắt đầu thích ứng về khí hậu, là tiền đề cho sự thành công của dòng kiến trúc hiện đại nhiệt đới. Rồi trong suốt 70 năm tiếp theo, chúng ta vẫn luôn đề cao ý thức về vấn đề phát huy tính dân tộc và truyền thống văn hóa – Với những phương châm: “Vừa dân tộc, vừa hiện đại” (1954-1986), tiếp đến là “Tiên tiến và đậm đà bản sắc” (từ 1986 đến nay). Như vậy, có thể nói là Việt Nam đã có những điều kiện khách quan và chủ quan tương đối thuận lợi để không bị ảnh hưởng bởi lý thuyết văn hóa Hậu thực dân.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng tình hình thực tiễn lại không diễn biến một cách suôn sẻ và đơn giản như mong muốn, mà thậm chí còn có phần bế tắc – chí ít là trong lĩnh vực kiến trúc (nơi biểu hiện các chuẩn mực và giá trị văn hóa, nơi phản ánh sự hội tụ các thành tố văn hóa: Nhận thức, tổ chức, sinh hoạt và ứng xử).

Kiến trúc thuộc địa khó đạt được những giá trị nghệ thuật kiệt xuất / đỉnh cao so với kiến trúc ở chính quốc (nếu có thì chỉ ở một vài công trình quan trọng / tiêu biểu), chủ yếu là có giá trị đặc sắc / độc đáo / riêng có / khác biệt (là hệ quả của sự tiếp biến văn hóa trong quá trình thích ứng hóa / bản địa hóa), ngoài ra có thể giá trị ở sự phong phú / đa dạng / sinh động. Tuy nhiên, khi đối tượng của mỹ học đương đại chuyển từ hình thức thẩm mỹ (của khách thể) sang cảm xúc thẩm mỹ (của chủ thể) và sự biểu hiện thẩm mỹ (của cá thể) – thì những giá trị “thứ yếu” nói trên lại được quan tâm nhiều hơn và ngày càng trở nên quan trọng. Từ đó dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận ý nghĩa và sự chuyển hóa các giá trị truyền thống. Ví dụ: Phong cách “cổ điển” trong kiến trúc thuộc địa ban đầu bị xem là yếu tố ngoại lai / xa lạ (do nguồn gốc phương Tây, gắn với thực dân xâm lược), sau đó được tầng lớp văn nghệ sĩ và trí thức mới nhìn nhận là biểu hiện của giá trị thẩm mỹ (phản ánh cái đẹp cổ điển, nhưng đối với dân ta lại là “tân thời”); rồi những hình thức đã biến tấu của nó lại được xem là có giá trị văn hóa (phản ánh quá trình giao thoa / tiếp biến văn hóa Pháp – Việt); và ngày nay thì “kiến trúc Pháp cổ” đã trở thành một giá trị xã hội mang tính biểu trưng / lý tưởng.

Gác chuông đền thờ Thánh Nguyễn (Ninh Bình)

Nhìn rộng hơn, thì lý thuyết văn hóa Hậu thực dân ra đời đầu thập kỷ 1990- thực ra là sự nhận thức tiến bộ hơn về phương Đông – so với quan điểm độc tôn thời Chủ nghĩa thực dân. Theo đó, phương Đông là một cái Khác (Otherness) cả về bản thể cũng như biểu hiện, và không cùng hệ quy chiếu với phương Tây. Nhưng một hệ quả là người bản địa bây giờ không những “khác” với thực dân, mà “khác” cả những tiền bối của mình: về ý thức thì muốn tôn vinh truyền thống, phủ nhận thực dân – nhưng về nhận thức thì lại bị cái văn minh phương Tây quyến rũ. Vì vậy, cái bẫy “hậu thực dân” đã được cài đặt một cách tinh vi vào diễn biến tâm lý của những người “trong cuộc”. Họ luôn bị giằng xé giữa cái truyền thống và cái hiện đại, dẫn đến mọi sự phản kháng / phủ nhận đều không thể triệt để và ngày càng mang tính chất cực đoan.

Rõ ràng là kiến trúc nói riêng và văn hóa nói chung đều chỉ là hệ quả của vấn đề – bởi chúng đều là sản phẩm của con người chủ thể. Nguyên nhân sâu xa nằm ở chính điểm yếu của chúng ta. Khi tự giải phóng khỏi xiềng xích thực dân, và lựa chọn con đường XHCN, cả khi quan hệ đối kháng giữa hai hệ thống xã hội đã chuyển thành đối thoại và đối tác – người Việt đã “không kịp” tạo dựng một nền tảng tư tưởng của riêng mình / một ý thức hệ dân tộc đủ mạnh làm đối trọng, không có một chủ thuyết rõ ràng về văn hóa làm điểm tựa – để định hướng trước những yếu tố hấp dẫn của văn minh phương Tây (đúng hơn – là để khai thác giá trị tích cực của chúng).

Phát huy văn hóa ứng xử truyền thống

Giờ đây, muốn khắc phục được trở ngại / điểm yếu có tính “truyền thống” của người Việt (về mặt tư tưởng – như đã nói ở trên) thì chúng ta không thể chỉ thúc đẩy việc nghiên cứu nhằm nâng cao nhận thức, chỉ nỗ lực tư duy để tạo nên sức mạnh tinh thần. Những việc này trong ngắn hạn chỉ tác động được tới tầng lớp tinh hoa (giới trí thức và văn nghệ sĩ) – Trong khi để đào tạo được một lớp nhân lực chất lượng cao cũng cần tối thiểu 5-7 năm với điều kiện lý tưởng “trường ra trường, lớp ra lớp”. Còn để nâng tầm dân trí (và cả dân chí) nói chung sẽ phải mất rất nhiều thời gian, công sức và nguồn lực – mà “dục tốc” thì “bất đạt”. Thiết nghĩ là chúng ta nên tập trung khai thác và phát huy chính thế mạnh vốn có của văn hóa ứng xử và văn hóa cộng đồng truyền thống – vốn là nguồn gốc của sức mạnh đã giúp cho cả dân tộc vượt qua mọi thăng trầm của lịch sử, đứng vững trước nhiều cuộc ngoại xâm văn hóa.

Văn hóa ứng xử phản ánh cái cốt cách tinh thần của người Việt. Nó định hình bộ khung cấu trúc (Framework) của hệ thống văn hóa như một toàn thể – Kết nối các thành tố văn hóa cơ bản và hiện diện ngay trong mỗi thành tố như một nét đặc trưng chi phối: Văn hóa tâm linh (tích hợp đa nguồn gốc), văn hóa nhận thức (thuyết Âm – Dương và Ngũ hành), văn hóa tổ chức (các không gian trung gian, tính ước lệ và tượng trưng), văn hóa sinh hoạt (cộng sinh / sử dụng hỗn hợp). Chính là văn hóa ứng xử tạo nên thế cân bằng giữa cái nội tâm và cái ngoại diện, duy trì sự hài hòa giữa cái lý tưởng và cái hiện thực, giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần.

Có thể nhận thấy là hiện nay các đặc trưng của văn hóa ứng xử truyền thống cũng đang tham gia vào việc xác lập những yêu cầu tiến bộ, góp phần định hình những xu thế tích cực của xã hội trong thời kỳ quá độ. Cách ứng xử “hợp tình, hợp lý” sẽ tạo điều kiện cho các yếu tố tích cực phát huy hiệu quả, đồng thời có sự kiểm soát để tránh bị quá đà mà trở thành tiêu cực:

  • Tính mềm dẻo và linh hoạt: “Dĩ bất biến ứng vạn biến” – cốt giữ cho cái gốc / cái nền tảng được ổn định (nhưng không để cho cái ngọn tự tung tự tác tùy tiện theo kiểu tầm gửi / ký sinh) đúng như hình ảnh “ngoại giao cây tre”;
  • Tính dung hòa và tích hợp: Tiếp thu những yếu tố tích cực / tiến bộ của thời đại, chuyển hóa thành nội lực để phát triển, tránh những xung đột căng thẳng (nhưng có chọn lọc để phù hợp về văn hóa và không lấn át cái bản thể / đánh mất bản sắc);
  • Tính gắn kết và hòa đồng: Cá nhân gắn với đội hình, có tôn ti trật tự, phát huy dân chủ, cùng hợp tác và chia sẻ – Vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội (nhưng không để xảy ra tình trạng núp bóng tập thể, bè phái, thụ động, dựa dẫm / ỷ lại,..);
  • Tính nhân văn / trọng “Nhân”: hướng đến con người thế tục và hiện thực, coi trọng và phát triển các quan hệ nhân văn giữa con người và thế giới (nhưng không để chữ “Nhân” bị biến thái thành các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa);
  • Tính tiết chế và chân thực: Biểu hiện đúng mức / có chừng mực – từ tác phong khiêm nhường trong sinh hoạt cho tới quy mô, khối tích, độ lớn không gian,.. vừa phải, ngôn ngữ kiến trúc giản dị (không phô trương / hình thức giả tạo, không “đao to búa lớn”, “lên gân lên cốt”);

Đặc trưng cuối cùng này cần được nhấn mạnh và thúc đẩy để trở thành phổ biến trong hiện thực – Nhằm đối lại với các biểu hiện “hoành tráng hóa” đang có xu hướng lan rộng dưới chiêu bài tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế mới của đất nước, phản ánh và phù hợp với sự phát triển về kinh tế / sự lớn mạnh về văn minh vật chất.

Điều quan trọng hơn – Đó là văn hóa ứng xử truyền thống vốn gần gũi với tâm thức của người Việt và là sợi dây liên kết giữa các thế hệ, nên mỗi cá nhân đều có cơ hội tiếp cận và thực hành truyền thống ấy từ rất sớm (ngay từ khi còn nhỏ, trong phạm vi thân thuộc của gia đình mình), rồi khi đến tuổi trưởng thành thì đã sẵn sàng về tâm thế và ý thức để tham gia đóng góp cho cộng đồng và xã hội.

Phát huy – Hay là đổi mới giá trị?

Cuối cùng thì bài viết này xin được trở lại và kết thúc ở chỗ nó đã bắt đầu – với câu hỏi được đặt ra trong chính tiêu đề của nó.

Trong tên của đề tài nghiên cứu (mà chắc chắn là đã được nhóm chuyên gia cân nhắc kỹ lưỡng, được các nhà quản lý phê duyệt và ủng hộ), tôi thấy bên cạnh việc “Bảo tồn và phát huy” đã xuất hiện mệnh đề “Làm mới / đổi mới giá trị truyền thống”. Nếu “làm mới” là “làm cho mới lại” thì còn gần với “đổi mới” – nhưng nếu là “làm cho mới hẳn” thì sự việc sẽ hoàn toàn khác. Rất may là ở đây có chữ “giá trị” đệm vào giữa, nó phản ánh việc chúng ta muốn thay đổi cách nhìn nhận / đánh giá truyền thống – chứ không phải là “làm ra truyền thống mới” để thay thế / đánh tráo khái niệm.

Câu chuyện lúc này đã có sự khác biệt đáng kể so với khẩu hiệu “Bảo tồn và phát huy giá trị” mà chúng ta vẫn quen dùng đối với di tích / di sản – Trong đó, thường hiểu là bảo tồn cái vật thể (để tránh bị hư hại) và phát huy cái phi vật thể (cho nó rõ ràng hơn). Nhưng đúng ra thì cái tinh thần vô hình mới cần được bảo tồn, còn cái vật chất hữu hình thì lại nên phát huy và đổi mới. Điều bất cập ở đây là chỉ có các di tích được chính quyền chính thức công nhận với những giá trị cụ thể – còn giá trị di sản (và giá trị truyền thống) thì không được xác định rõ ràng. Vì thế mà “phát huy” (nghĩa gốc: làm cho rộng lớn ra) thường được hiểu là phát triển mở rộng về quy mô / tạo dựng thêm giá trị mới (?). Những di sản “sống” thường gắn liền với sự thực hành các truyền thống, và là một hệ thống giá trị – trong đó những khía cạnh về văn hóa – xã hội có thể được tăng cường / bổ sung / chồng lớp theo thời gian, cùng với con người. Đó chính là ý nghĩa của việc “phát huy giá trị” trong sự đổi mới / nâng cao / tích hợp thêm nội dung cho khung giá trị đã xác lập (nhằm gia tăng “sức nặng” và nâng tầm ảnh hưởng của di sản) – chứ không phải là mở rộng sang những khía cạnh “mới” / lĩnh vực “khác” bên ngoài hệ thống đó. VD: giá trị nhà / đất có thể tăng cao – nhưng không phải là một giá trị di sản để phát huy (thậm chí còn làm tổn hại, biến di sản thành bất động sản).

Các giá trị di sản và giá trị truyền thống có thể được phát huy bằng nhiều biện pháp – theo cách riêng rẽ hoặc phối hợp với nhau:

  • Mở rộng phạm vi tác động (tương tự như trong bảo tồn di sản đô thị);
  • Củng cố / tăng cường những yếu tố có giá trị nhưng đang bị lấn át;
  • Phát hiện và làm rõ những khía cạnh giá trị đang còn tiềm ẩn / bị phủ lấp;
  • Nâng cấp chất lượng biểu hiện / nâng cao hiệu quả cảm nhận;
  • Truyền thông, quảng bá, giáo dục,.. để lan tỏa ý nghĩa / giá trị;
  • Gắn liền với sinh hoạt của cộng đồng để nâng cao sức sống;
  • Đa dạng hóa khả năng và phương thức tiếp cận;

“Phát huy giá trị” như vậy là đã bao hàm một phần đáng kể của sự “đổi mới” (Refreshing) – Làm cho giá trị trở nên “khỏe hơn”, “mạnh hơn”, chứ không phải là “khác đi”. Nếu như vẫn cứ tách riêng nội dung “đổi mới” ra khỏi “phát huy” – thì không biết là giá trị truyền thống có thể còn bị thay đổi theo hướng nào (?).

Thử xem trong tiếng Anh – thì “Đổi mới” có rất nhiều mức độ / sắc thái khác nhau, tùy theo đối tượng, mục đích và hoàn cảnh. Thông dụng nhất là Renovation (= tân trang / sửa sang) và Innovation (= đổi mới / thay đổi), thường được dùng để chỉ sự làm mới về hình thức (tiền tố Re- làm lại / một cách khác) hoặc là đổi mới về nội dung (tiền tố In- hướng đến / ở bên trong). Nhưng không phải là “bình mới rượu cũ”, hay là “bình cũ rượu mới” một cách giản đơn – mà là sự kết hợp cả hai. Khi đối tượng cần đổi mới là một giá trị truyền thống, thì không thể thay đổi toàn bộ / làm mới hoàn toàn, mà chỉ thay đổi một phần – Để duy trì được sự liên hệ với cái truyền thống đang có. Theo hướng này, thì “đổi mới” cũng có thể là Renewal (= tăng cường cái đang yếu / thay thế một yếu tố không phù hợp / kết nối lại các thành phần đang bị rời rạc), thậm chí là Revitalizing / Regenerating (= hồi sinh / tái sinh cái đã mất),.. Các giải pháp tương ứng với những khái niệm này đều có thể áp dụng để “đổi mới giá trị truyền thống” – miễn là không làm thay đổi các yếu tố cơ bản của nó đến mức phải tái cấu trúc / tổ chức lại cả hệ thống các quan hệ liên đới.

Theo cấu trúc của hệ thống văn hóa, một truyền thống vẫn còn nguyên giá trị khi nó giữ được chỗ đứng trong sinh hoạt đời thường thế tục đồng thời cũng phù hợp với những yếu tố tâm linh thoát tục. Giá trị là sự phóng chiếu các chuẩn mực vào thực tiễn – Thông qua văn hóa ứng xử – để kiểm chứng chúng trong cuộc sống của con người. Chuẩn mực là sự cụ thể hóa các lý tưởng để chuyển hóa từ nhận thức thành hành động. Các nghệ sĩ thường đi tiên phong trong sự đổi mới giá trị truyền thống – do đặc thù của hoạt động sáng tạo, khi mà cái vốn có vẫn còn hữu dụng nhưng đã bắt đầu nhàm chán về cảm xúc / gò bó về nội dung. Vì thế nên sáng tạo nghệ thuật luôn đi trước nhu cầu của xã hội, thường là mượn hình thức quen thuộc để tải một ý nghĩa mới / khác, tạo nên sự “mâu thuẫn có lý” trong tác phẩm nhằm gợi mở tư duy. Nhưng các nhà nghiên cứu và lý luận – phê bình thì lại không thể đặt ra yêu cầu phải đổi mới giá trị chỉ vì đã đạt đến giới hạn của sự nhận thức hiện thực – khi không tìm được ý nghĩa gì mới hay kết quả gì khác để định hướng phát triển, dẫn đến sự bế tắc trong hành động. Họ cần đổi mới tư duy của chính mình, để xác lập những chuẩn mực mới, làm cơ sở cho việc hình thành thực tiễn mới, từ đó mới kiểm chứng sự phù hợp của truyền thống để khẳng định giá trị.

Lời kết

Có thể thấy: Những thành phần vật chất của kiến trúc truyền thống nếu còn lại đến ngày nay thì đều có tuổi thọ không dưới 100 năm (ít nhất đã được ghi nhận trong các khảo cứu của người Pháp từ trước 1945), và chúng là yếu tố nguyên gốc của các di tích văn hóa / di tích lịch sử – nên kiểu gì cũng phải được bảo tồn theo Luật Di sản văn hóa. Nhưng nếu bên cạnh những cái nguyên trạng ít ỏi còn lại của quá khứ lại xuất hiện cả những cái đã bị biến đổi / biến dạng (bởi con người đương đại làm sai lệch ý nghĩa) và chúng ngày càng nhiều thêm – thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực / bất lợi đến cảm nhận về một “truyền thống” mà chúng ta luôn tự hào.

Tuy nhiên, những trạng thái rất khác nhau đó sẽ có thể được kết nối thành mạch – Nếu chúng ít nhiều gợi được sự liên hệ với một vài ý nghĩa / cảm nhận chung về một truyền thống trong quá khứ. Bởi vậy, hiện thực nhất và đúng đắn nhất trong thời kỳ quá độ hiện nay thiết nghĩ là ưu tiên bồi đắp, củng cố và duy trì các yếu tố / giá trị tinh thần vốn có – giữ được hồn cốt truyền thống để cho các thế hệ tiếp theo có cơ hội tìm kiếm / thử nghiệm / sáng tạo những hình thức biểu đạt mới phù hợp với nhu cầu và trình độ vật chất của thời đại mình.

TS.KTS Nguyễn Trí Thành
Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2025)