Quảng Ninh đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu ngày càng cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và tính bền vững. Sau một chặng đường dài kiên trì đổi mới mô hình phát triển, chuyển mạnh từ “nâu” sang “xanh”, đầu tư đột phá vào kết cấu hạ tầng chiến lược, cải thiện môi trường đầu tư và mở rộng không gian kinh tế, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục gia tăng quy mô nền kinh tế, mà quan trọng hơn là phải tổ chức lại các nguồn lực và không gian phát triển để hình thành những động lực tăng trưởng mới cho một chu kỳ phát triển cao hơn.
Trong bối cảnh khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và kinh tế xanh đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất và cấu trúc của nền kinh tế thế giới, tư duy về tổ chức không gian phát triển cũng cần được đổi mới tương ứng. Trong giai đoạn mới, một không gian động lực phải là nơi hội tụ đồng thời hạ tầng hiện đại, công nghệ, dữ liệu, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực đổi mới sáng tạo và môi trường thể chế đủ sức khuyến khích những mô hình mới hình thành và phát triển.
Tinh thần đó cũng phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Quảng Ninh đã xác định đây là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng; năm 2026 ban hành Chiến lược chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, Chiến lược dữ liệu đến năm 2030, đồng thời từng bước hoàn thiện các cơ chế thúc đẩy công nghệ số, công nghiệp bán dẫn và khởi nghiệp sáng tạo.
Chính từ yêu cầu đó, các khu kinh tế, khu công nghiệp và khu kinh tế cửa khẩu của Quảng Ninh cần được nhìn nhận ở một tầm cao hơn. Đây không chỉ là nơi tập trung các dự án đầu tư hay bố trí hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà phải trở thành những không gian hội tụ và tích tụ nguồn lực, nơi tiếp nhận và lan tỏa công nghệ, hình thành chuỗi giá trị và các cụm liên kết ngành; đồng thời là những cực tăng trưởng có khả năng dẫn dắt và tạo sức lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế.
Quảng Ninh đã có nền tảng quan trọng để hiện thực hóa định hướng đó. Theo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, trên địa bàn tỉnh có 27 khu công nghiệp (KCN); trong đó 16 KCN đã được quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thành lập với tổng diện tích khoảng 6.299 ha; 15 KCN đã đi vào hoạt động. Tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất công nghiệp đã được giao và đầu tư hạ tầng hiện ở mức gần 62%.
Con số đó vừa phản ánh kết quả thu hút đầu tư trong thời gian qua, vừa cho thấy Quảng Ninh vẫn còn một dư địa đáng kể để lựa chọn những ngành, lĩnh vực, công nghệ và nhà đầu tư có chất lượng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Bởi vậy, vấn đề không còn chỉ là mở thêm khu, tăng diện tích hay lấp đầy đất công nghiệp, mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị đất đai, vốn đầu tư và lao động; chuyển từ phát triển dựa nhiều vào yếu tố đầu vào sang phát triển dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nói cách khác, cần chuyển từ tư duy “phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp” sang “kiến tạo một hệ sinh thái các cực tăng trưởng”; từ “thu hút dự án” sang “kiến tạo chuỗi giá trị”; từ chú trọng “hạ tầng vật chất” sang một cấu trúc hạ tầng thế hệ mới, trong đó hạ tầng giao thông, năng lượng và logistics được kết nối đồng bộ với hạ tầng số, dữ liệu và hạ tầng đổi mới sáng tạo.
Trong hệ sinh thái đó, mỗi không gian cần được định vị rõ chức năng trên cơ sở lợi thế khác biệt, nhưng đồng thời phải liên kết và bổ trợ cho nhau trong một cấu trúc phát triển thống nhất.
Ở phía Tây, Khu kinh tế ven biển Quảng Yên cần tiếp tục được định vị là cực tăng trưởng về công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, cảng biển và logistics, gắn kết trực tiếp với Hải Phòng và vùng Đồng bằng sông Hồng. Bước phát triển tiếp theo của Quảng Yên cần phải hướng tới hình thành các cụm liên kết ngành, mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh, trung tâm logistics, R&D, đào tạo và chuyển giao công nghệ.
Ở phía Đông, Vân Đồn cần phát triển dựa trên những lợi thế khác biệt về biển, sân bay, cảnh quan và khả năng kết nối quốc tế – Hướng tới phát triển kinh tế biển, du lịch – dịch vụ chất lượng cao, logistics hàng không, kinh tế số, đổi mới sáng tạo và các mô hình kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Đối với Móng Cái, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ tư duy phát triển “hoạt động cửa khẩu” sang “kinh tế cửa khẩu thế hệ mới”. Cửa khẩu không chỉ là nơi hàng hóa đi qua, mà phải trở thành hạt nhân của logistics, kho vận, chế biến, thương mại điện tử xuyên biên giới, dịch vụ và chuỗi cung ứng quốc tế. Việc triển khai Cửa khẩu thông minh Móng Cái – Đông Hưng mở ra hướng phát triển rõ nét hơn, trong đó dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, IoT và các nền tảng số được ứng dụng để nâng cao năng lực thông quan và quản trị cửa khẩu.
Tuy nhiên, điều quan trọng là các không gian đó không phát triển riêng lẻ. Quảng Ninh đã tạo được bước đột phá lớn về giao thông với hệ thống cao tốc, sân bay, cảng biển và cửa khẩu. Giai đoạn tiếp theo cần tiến thêm một bước: Từ kết nối hạ tầng sang kết nối kinh tế; từ các tuyến giao thông sang các hành lang phát triển. Giá trị thực sự của hạ tầng nằm ở những dòng chảy mà nó tạo ra: Dòng vốn, dòng hàng hóa, dòng công nghệ, dòng dữ liệu, dòng nhân lực và dòng tri thức.
Cùng với việc kết nối các cực tăng trưởng, Quảng Ninh cần từng bước xây dựng hình hài của KCN thế hệ mới. Một KCN hiện đại sẽ phải là KCN sinh thái, thông minh và công nghệ cao; có hạ tầng số đủ mạnh; ứng dụng các hệ thống quản trị thông minh về năng lượng, môi trường và logistics; thúc đẩy sản xuất số, tự động hóa, AI, robot và IoT; đồng thời tạo điều kiện hình thành quan hệ cộng sinh công nghiệp giữa các doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng và từng bước giảm phát thải.
Tầm nhìn xa hơn là phải tạo ra những không gian tăng trưởng mà nguồn lực cốt lõi không còn phụ thuộc chủ yếu vào việc mở rộng quỹ đất. Một KCN truyền thống khi được số hóa, xanh hóa và kết nối với R&D có thể trở thành một không gian tăng trưởng mới; một cửa khẩu khi vận hành trên nền tảng dữ liệu và AI có thể tạo ra năng suất mới; một sân bay khi gắn với logistics, thương mại và công nghiệp hàng không có thể hình thành một hệ sinh thái kinh tế mới.
Đó chính là sự chuyển dịch từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng không gian vật chất sang tăng trưởng dựa vào gia tăng “mật độ giá trị” của không gian – bằng công nghệ, dữ liệu, tri thức và đổi mới sáng tạo.
Với lợi thế đặc biệt về địa kinh tế, đồng thời sở hữu biển, biên giới, cửa khẩu, cảng biển, sân bay quốc tế, cao tốc và hệ thống KKT, KCN đa dạng, Quảng Ninh có đầy đủ điều kiện để kiến tạo một cấu trúc phát triển mới. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên mới, lợi thế địa lý chỉ thực sự trở thành năng lực cạnh tranh khi được cộng hưởng với khoa học – công nghệ, dữ liệu, nguồn nhân lực và chất lượng thể chế.
Bởi vậy, phát triển các KKT, KCN và KKT cửa khẩu trong giai đoạn tới không đơn thuần là tổ chức lại không gian vật chất, mà phải là quá trình tái cấu trúc không gian kinh tế trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh; từng bước chuyển từ các KKT riêng lẻ thành hệ thống các cực tăng trưởng, từ các tuyến giao thông thành hành lang kinh tế, từ KCN truyền thống thành hệ sinh thái công nghiệp xanh và thông minh, từ cửa khẩu truyền thống thành cửa khẩu số và trung tâm logistics xuyên biên giới, từ thu hút vốn sang thu hút công nghệ, tri thức và chuỗi giá trị.
Đó cũng chính là cách để các KKT, KCN và KKT cửa khẩu không chỉ là những “địa bàn phát triển”, mà thực sự trở thành những không gian kiến tạo tương lai của Quảng Ninh, góp phần xây dựng Quảng Ninh trở thành một cực tăng trưởng năng động của phía Bắc, tiên phong trong kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao và hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.
Trương Mạnh Hùng
Phó Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2026)





















