Phong cách kiến trúc nhà thờ công giáo có cấu trúc gỗ cổ truyền ở tỉnh Ninh Bình

Mở đầu

Ninh Bình là tỉnh có khá đông đồng bào theo đạo Công giáo, trên địa bàn có Toà giám mục Phát Diệm, là một trung tâm Công giáo lớn của cả nước, được Toà thánh Vatican đặc biệt chú trọng và coi Phát Diệm là “thủ đô Công giáo của Việt Nam”. Ngoài nhà thờ Phát Diệm mang tính điển hình theo phong cách Á Đông thì một số nhà thờ Công giáo khác thuộc tỉnh Ninh Bình có phong cách kiến trúc và nghệ thuật trang trí theo phong cách này, cũng bởi đây là nơi Công giáo được xâm nhập khá sớm (năm 1629 Hảo Nho đã trở thành nơi truyền giáo đầu tiên của các giáo sĩ phương Tây), nên số lượng nhà thờ tập trung khá dày đặc so với những tỉnh khác thuộc châu thổ Bắc Bộ, nhiều làng xã trở thành làng Công giáo. Hơn nữa các nhà thờ Công giáo có cấu trúc gỗ ở Ninh Bình mang những đặc trưng riêng về lịch sử hình thành, phong cách kiến trúc cũng như điêu khắc trang trí.

Nhà thờ Phát Diệm – Ninh Bình

Nội dung

1. Quá trình hình thành nhà thờ công giáo ở tỉnh Ninh Bình

Không chỉ trên bình diện xã hội mà cả trên phương diện tôn giáo, Phát Diệm còn in sâu dấu vết của giáo sĩ phương Tây truyền đạo ở xứ Hảo Nho. Đức cha Al-exandre Marcou Thành, trong tập nhật ký năm 1904 có ghi chép khá tỉ mỉ: “Hảo Nho là một xứ đạo đầu tiên của Bắc Việt, được cha Đắc Lộ, Dòng Tên, vị tông đồ thứ nhất tại xứ này thành lập, vì ngài đã tới đây, ở lại nhiều tháng, năm 1627 và tại đây đã được dựng ngôi nhà thờ Công giáo đầu tiên. Đến năm 1672 ở Bạch Bát cũng có một nhà thờ được xây dựng bằng đá 5 gian lợp dạ, nhưng qui mô rất nhỏ chỉ mang tính chất tạm thời để lấy chỗ hội họp, giảng đạo. Năm 1830 nhà thờ được xây dựng ở Phúc Nhạc và Đông Biên (nay là giáo xứ Nam Biên, xã Đồng Hướng, huyện Kim Sơn). Tuy nhiên đây chỉ là các nhà nguyện nhỏ, phải đến năm 1892 thì nhà thờ Phúc Nhạc mới được xây dựng hoàn chỉnh”.

Tính đến trước thế kỷ XIX các nhà thờ được xây dựng ở giáo phận Phát Diệm chỉ là những nhà thờ nhỏ, đắp đất, lợp dạ. Những nhà thờ được xây dựng kiên cố chỉ xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX khi đạo Công giáo được tự do hoạt động. Giai đoạn năm 1850 – đến năm 1949 là giai đoạn nhiều nhà thờ được xây dựng nhất, trong tổng số 77 nhà thờ gỗ được xây dựng thì có 66 nhà thờ được dựng trong giai đoạn này, đặc biệt giai đoạn từ năm 1900 – 1945 trải qua 4 đời vua nhà Nguyễn (Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại) nên phong cách kiến trúc nhà thờ Công giáo thời kỳ này cũng có những nét khác biệt so với thời kỳ trước. Các nhà thờ còn giữ được niên đại tuyệt đối, thường được ghi bằng chữ Hán ở vị trí nhất định trong lòng nhà thờ chính. Ví dụ nhà thờ giáo xứ Hiếu Thuận (Yên Khánh) có ghi: “Đồng Khánh tam niên tuế thứ Mậu Tý (1889) quý thu nguyệt cát nhật”; Nhà thờ chính tòa Phát Diệm: “Thành Thái tam niên (1891) ngũ nguyệt thập thất nhật lập trụ” (ghi trên thượng lương nhà thờ lớn); hay nhà thờ giáo xứ Bình Sa (Kim Sơn): “Thành Thái cửu niên tuế thứ Đinh Dậu (1897) quý thu nguyệt, thập lục nhật, kiên trụ thượng lương tu tạo”… Tuy nhiên một số nhà thờ hiện nay đã thay thế thượng lương nhưng được viết lại, còn thượng lương cũ được làm xà hồi (nhà thờ Hiếu Thuận), hoặc làm trần thiết che đi thượng lương (nhà thờ giáo xứ Phúc Nhạc, Dưỡng Điềm) nên không còn nhìn rõ dòng niên đại tuyệt đối khi xây dựng.

Bằng những tư liệu có được trong quá trình khảo sát điền dã cho thấy đến trước năm 1945 nhiều làng xã ở tỉnh Ninh Bình đã trở thành làng/ xã toàn tòng, có những làng có một nhà thờ, nhưng có những làng có đến hai hay ba nhà thờ (giáo xứ Hiếu Thuận, giáo xứ Nam Biên, Phúc Nhạc, Lưu Phương, Xuân Thiện)…Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan (ảnh hưởng của thiên tai, khí hậu thất thường) hoặc nguyên nhân chủ quan (chiến tranh, hoặc sự cấm đạo của triều đình nhà Nguyễn nên nhiều nhà thờ đã bị dỡ bỏ). Vì thế nhiều nhà thờ ở Ninh Bình hiện nay không còn giữ được nguyên vẹn cấu trúc của lần khởi dựng ban đầu.

Các nhà thờ có cấu trúc gỗ cổ truyền ở Ninh Bình được dựng vào giai đoạn thế kỷ 20 có phong cách kiến trúc khác với giai đoạn thế kỷ 19. Nếu giai đoạn thế kỷ 19 các nhà thờ có cấu trúc gỗ được dựng hoàn toàn theo kỹ thuật, kiến trúc truyền thống của người Việt từ hệ khung gỗ đến hệ mái, bao che xung quanh hoặc chỉ ảnh hưởng của phong cách kiến trúc châu Âu ở những chi tiết nhỏ… thì sang thế kỷ 20, các nhà thờ hầu hết chỉ sử dụng hệ khung gỗ, mái ngói cổ truyền còn hệ bao che được kế thừa, tiếp nhận một cách có chọn lọc các phong cách kiến trúc của phương Tây. Ngay trong một nhà thờ Công giáo thì các công trình kiến trúc cũng có những mốc niên đại khởi dựng khác nhau. Thường thì nhà thờ chính (điện Thánh Mẫu) được dựng đầu tiên, sau đó trong quá trình tồn tại để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt nghi lễ, văn hóa thì bổ sung các công trình phụ trợ như: nhà quán cư phía trước nhà thờ chính (nhà thờ Hiếu Thuận, nhà thờ Phát Diệm); nhà dãy ở cạnh bên (nhà thờ Bình Sa, nhà thờ Phúc Nhạc…).

Mặt đứng nhà thờ Hiếu Thuận (Ninh Bình)
Mặt đứng nhà thờ Phúc Nhạc (Ninh Bình)

2. Nét riêng biệt trong kiến trúc nhà thờ công giáo có cấu trúc gỗ cổ truyền ở tỉnh Ninh Bình

Tuy xuất hiện muộn hơn so với những công trình kiến trúc dân gian của người Việt hàng thế kỷ, nhưng khi đạo Công giáo vào Việt Nam đã được khúc xạ và nhanh chóng hòa hợp vào trong đời sống của người dân Việt, điều đó thể hiện rõ qua phong cách kiến trúc các nhà thờ Công giáo có cấu trúc gỗ cổ truyền ở tỉnh Ninh Bình:

2.1. Nét riêng được thể hiện qua bố cục tổng thể

Các nhà thờ thường được đặt ở vị trí quan trọng, đầu mối giao thông hoặc gần các đường lớn, tiện đường đi lại; Phía trước nhà thờ chính là quảng trường lớn (chia thành từng ô) – ảnh hưởng bởi qui hoạch kiến trúc của phương Tây (nhà thờ giáo xứ Bình Sa nằm gần đường 480; nhà thờ giáo xứ Phúc Nhạc, nhà thờ Phát Diệm, nằm gần đường quốc lộ 10…). Đối với nhà thờ chính tòa Phát Diệm thì vị trí được lựa chọn càng trở nên quan trọng, bởi nơi đây còn đặt Tòa giám mục địa phận để giải quyết các vấn đề hành chính trong giáo phận; đồng thời việc lựa chọn vị trí cũng khẳng định uy thế trong giáo hội: được đặt ở trung tâm của giáo phận, bởi đây là nơi qui tụ của các giáo dân trong khu vực và cũng là nơi giải quyết các vấn đề hành chính, các sự kiện quan trọng…

Việc lựa chọn vị trí, thế đất, hướng đều theo kiểu thức kiến trúc cổ truyền của người Việt, bao giờ cũng được chú trọng chọn nguồn nước ở phía trước (nếu không có nguồn nước tự nhiên thì sử dụng hồ nước nhân tạo như nhà thờ Phát Diệm, nhà thờ Bình Sa, Hiếu Thuận, Phúc Nhạc…). Cảnh quan sân vườn cũng được sử dụng các nguyên tắc kiến trúc cổ truyền với việc tận dụng địa hình, mặt nước tự nhiên là những yếu tố tạo cảnh. Trong khi đó các nhà thờ phương Tây thường chọn đặt ở những trục đường chính, phía trước là quảng trường rộng lớn. Các công trình kiến trúc trong nhà thờ Công giáo ở Ninh Bình được phân bố dàn trải thành các công năng sử dụng khác nhau chứ không tích hợp vào công trình chính như các nhà thờ phương Tây. Nếu các nhà thờ ở Phương Tây có sự tích hợp công năng sử dụng vào nhà thờ chính nên kiến trúc nhà thờ chính có qui mô rất lớn, nổi bật so với các công trình dân dụng xung quanh, thường được đặt trên các trục giao thông chính, tiện đường đi lại… thì các công trình kiến trúc ở nhà thờ Công giáo ở tỉnh Ninh Bình nói riêng lại có sự phân tán theo kiến trúc cổ truyền của người Việt và vị trí được lựa chọn gần với trung tâm, đường đi lại và nơi tập trung đông dân cư… Các công trình phụ trợ (nhà quán cư, nhà dãy, gác chuông…) có thể được dựng sau so với công trình chính, nhưng lại có sự phân bố có nét tương đồng với tổng thể của các đình, đền, chùa…

Một số nhà thờ ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ có quy mô lớn, có mặt bằng chữ thập tương tự với các nhà thờ Công giáo ở phương Tây với hai cánh phía sau gần cung Thánh (có chức năng khá linh hoạt, là không gian thờ phụng của một vị Thánh, nơi trang trí theo chủ đề vào các dịp lễ Giáng sinh, Phục sinh… đồng thời là nơi bổ sung chỗ ngồi cho cộng đoàn…). Tuy nhiên cấu trúc này không thấy ở nhà thờ Nam – Ninh Bình. Kiến trúc của nhà thờ chính vẫn có chiều cao nổi trội, mang tính trang nghiêm, nổi bật tính độc tôn của Thiên Chúa, nhưng lại đã có sự dung hòa với cảnh quan kiến trúc cổ truyền của người Việt bởi các công trình bao quanh, các yếu tố hàng cây, mặt nước… So với các nhà thờ châu Âu, nhà thờ Công giáo có cấu trúc gỗ truyền thống ở Ninh Bình có xu hướng đóng và tĩnh hơn, chiều cao khiêm tốn hơn so với những nhà thờ phương Tây, đồng thời có tỉ lệ phù hợp với khung cảnh làng quê Việt Nam.

2.2. Kiến trúc nhà thờ Công giáo ở Ninh Bình thường sử dụng phong cách kiến trúc châu Âu kết hợp với phong cách kiến trúc cổ truyền

Song song với các nhà thờ được xây dựng với kiến trúc và kỹ thuật xây dựng của người phương Tây thì ở các làng quê Việt Nam nói chung và Ninh Bình nói riêng đã dựng lên nhà thờ có phong cách kiến trúc của riêng mình bằng việc kết hợp giữa bộ khung gỗ cổ truyền, mái ngói kết hợp với mặt tiền được dựng theo phong cách của người phương Tây nhưng có phần khiêm nhường hơn, không cao vút mà tỉ lệ phù hợp với bộ khung gỗ. Người ta đã quay dọc ngôi nhà gỗ cổ truyền, trổ cửa và xây gác chuông ở đầu hồi hoặc tách hẳn ra có cấu trúc và hình thức thỏa mãn với các qui định về xây dựng nhà thờ.

Các nhà thờ chính có mặt tiền được dựng theo kiểu kiến trúc cổ truyền với tam môn, ngũ môn thì phần chái kiệu được xây thành một gian, phía trên là lầu, gác mái dựng theo phong cách kiến trúc cổ truyền của người Việt thì tỉ lệ giữa phần mái ngói với tầng lầu không chênh lệch nhau quá lớn. Phần mái vươn hẳn ra phần khối xây tạo thành một gian chái kiệu khá lớn (Nhà thờ Phát Diệm, Nhà thờ Cách Tâm, Nhà thờ Hảo Nho…). Loại hình nhà thờ có kiến trúc truyền thống chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong số những nhà thờ được khảo sát và đây là loại hình nhà thờ tiêu biểu ở tỉnh Ninh Bình, ở các tỉnh khác không có loại hình nhà thờ có mặt tiền dựng theo lối kiến trúc này.

Đối với các nhà thờ chính có phía trước dựng theo kiểu kiến trúc Gothic thì kiêm luôn cả gác chuông, nên phần tháp cao, nhọn, phía dưới tạo thành gian chái kiệu (các nhà thờ: Tự Tân, Dũng Thủy, Minh Nghĩa). Các nhà thờ chính có phía trước dựng theo kiểu kiến trúc Tây Ban Nha thì chỉ là một tường hồi mỏng, tạo diện trang trí, không tạo thành gian chái kiệu như 2 kiểu thức kiến trúc trên (các nhà thờ: Lưu Thành, Bình Thuận). Các nhà thờ chính có phía trước dựng kiểu hai bên có tháp chuông, kết hợp ở chính giữa là tường hồi theo phong cách kiến trúc Tây Ban Nha (Dưỡng Điềm, Phúc Nhạc).

Khi mới khởi dựng, trong khuôn viên của nhà thờ chỉ có một công trình chính, nhưng trong quá trình tồn tại các nhà thờ đã bổ sung thêm các hạng mục công trình mới phù hợp với thực tế hoạt động truyền giáo cũng như tập tính sinh hoạt tôn giáo của người Việt. Các yếu tố cảnh quan và phong thủy cũng được chú ý khi dựng các công trình phụ trợ cho phù hợp với không gian cảnh quan kiến trúc của nhà thờ. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn, nhưng nhà thờ Công giáo chịu ảnh hưởng của văn hóa kiến trúc cổ truyền của người Việt. Các nhà thờ giáo xứ, nhà thờ giáo họ qui mô và mặt bằng tổng thể có phần khiêm nhường hơn so với nhà thờ chính tòa, nhà thờ giáo họ quy mô nhỏ hơn nhà thờ giáo xứ. Các hạng mục công trình cũng ít hơn, chỉ bao gồm nhà thờ chính, nhà dãy, nhà giáo lý, tháp chuông (có thể độc lập hoặc gắn liền với nhà thờ chính), một số nhà thờ có thêm nhà quán cư, hồ nước phía trước… Một số nhà thờ còn có đền thánh tử đạo (Phúc Nhạc, Hảo Nho)…

Kiến trúc nhà thờ chính được dựng theo phong cách kiến trúc cổ truyền của người Việt với bộ khung kết cấu gỗ, hệ mái ngói… Mặt tiền có sự pha trộn giữa các phong cách kiến trúc, nhưng vẫn tuân theo những qui định về cơ sở thờ tự của Giáo hội. Mặt bằng kiến trúc nhà thờ chính của nhà thờ Nam là ngôi nhà có bộ khung gỗ cổ truyền kiểu bít đốc được quay dọc, nội thất được chia thành 4 thành phần: gian chái kiệu, lòng nhà thờ (gian giáo dân), cung Thánh, gian mặc áo lễ. Lối vào chính ở gian chái kiệu; kế đó là gian giáo dân (lòng nhà thờ), mở cửa 2 bên; cuối cùng là cung Thánh và gian mặc áo lễ.

Trong kết cấu bộ khung gỗ được làm theo mô típ với các bộ vì kiểu dân gian được liên kết với nhau bằng hệ thống xà dọc xà ngang vững chắc. Theo Giám mục Đông – địa phận Tây Đàng Ngoài có thư chung gửi cho các xứ đạo trong địa phận qui định: “Từ nay về sau khi làm nhà thờ mới nên đổi kiểu cũ quen làm 6 hàng cột, mà làm theo kiểu mới trốn hàng cột vì tiện mà dễ coi hơn; còn cửa bít đốc cuối đừng xây mỏng tường và khỏi nóc cao quá kẻo lúc gió bão không chịu được…. một là mặt hậu và dưới phải bưng kín; hai là không được để cái gì trong gầm bàn thờ” . Áp dụng theo qui định của giám mục, các nhà thờ Công giáo có cấu trúc gỗ truyền thống ở Ninh Bình được dựng sau qui định này, hầu hết đều được làm 4 hàng chân cột, trốn hàng cột ở gian cung Thánh là chủ yếu, còn lại là 6 hàng chân, bởi những nhà thờ này được xây dựng trước năm 1906 khi chưa có quy định chung của tòa Giám Mục như: nhà thờ chính tòa Phát Diệm, Nhà thờ Hiếu Thuận, Nhà thờ Phúc Nhạc,Nhà thờ Hảo Nho…

Bộ khung gỗ thường có kích thước lớn, chiều cao nổi trội nhằm tạo không gian lớn hơn so với các di tích tôn giáo tín ngưỡng. Khung nhà thờ chính Nhà thờ Phát Diệm gồm 6 hàng chân có chiều rộng 18m, bước gian 6m, độ cao thượng lương tới nền ở Nhà thờ Phát Diệm đạt tới 13,54m; ở Nhà thờ Phúc Nhạc có chiều rộng 10m, độ cao thượng lương tới nền là 12m… Vì nóc có nhiều kiểu nhưng phổ biến là kiểu vì giá chiêng chồng rường có chạm khắc; đặc biệt là các vì nóc, vì nách ở cung Thánh hầu hết được làm kiểu vì kèo cuốn vòm để nâng cao vòm trần, tăng độ cao cho lòng cung Thánh; vì nách cũng thường được làm nhiều kiểu, trong đó phổ biến là vì nách kiểu chồng rường đi liền với vì nóc giá chiêng chồng rường; kết cấu đỡ hiên thường làm bẩy chéo.

Bộ khung gỗ nhà thờ Hiếu Thuận (Ninh Bình)
Bộ khung gỗ nhà thờ Phúc Nhạc (Ninh Bình)

Trang trí chạm khắc được thể hiện trên mọi chất liệu: gỗ, đá, vôi vữa với các đề tài trang trí phong phú đa dạng, nhưng điểm đặc biệt là những đề tài Công giáo được chạm lẫn, phù hợp với hoàn cảnh, phong tục tập quán của người Việt, chúng được lồng ghép với bối cảnh của người Á Đông, làm cho nó không xa lạ mà thân quen phù hợp với phong tục tập quán truyền thống của người Việt. Trang trí ở bên ngoài chủ yếu được thể hiện ở mặt tiền nhà thờ với các đề tài hoa lá cách điệu: hoa sen, hoa cúc… hoặc được đắp nổi các câu đối, hoành phi bằng chữ Hán để diễn đạt tư tưởng của Công giáo. Quanh nhà thờ còn có các trụ biểu có nét tương đồng với các công trình tôn giáo tín ngưỡng. Điểm đặc sắc là ở nhà thờ Phát Diệm xuất hiện các phù điêu Thánh tích, diễn tả cuộc đời chúa Jesu… mà các nhà thờ Nam ở các khu vực khác không có hình thức trang trí này. Gương mặt các tượng Thánh mang nét Á Đông, mặc trang phục truyền thống như áo dài, khăn xếp, mũ cánh chuồn (phù điêu ở nhà thờ Phát Diệm). Tỷ lệ tượng người, con vật không được cân đối lắm và không có những mảng khối lớn theo phong cách mỹ thuật phương Tây, mà mang đặc tính của mỹ thuật dân gian Việt Nam.

Trang trí trên vì nóc nhà thờ Bình Sa (Ninh Bình)
Trang trí trên vì nách nhà thờ Hiếu Thuận (Ninh Bình)

Các yếu tố trang trí hòa hợp trong tổng thể của nhà thờ Công giáo (song cửa đốt trúc, kìm nóc con triện, chạm khắc tứ linh tứ quí, tường hoa chữ vạn, búp sen, trụ biểu…), thể hiện sự tiếp tu kế thừa các yếu tố văn hóa ngoại lai một cách có chọn lọc, để các yếu tố này hòa quyện mà không tách rời với các yếu tố truyền thống dân gian Việt Nam và trở thành bản sắc riêng của văn hóa Việt Nam. Đây có thể là sự tìm tòi, thể nghiệm của ông cha ta khi dựng lên một nhà thờ Công giáo theo phong cách của riêng mình.

2.3. Trong khuôn viên nhà thờ xuất hiện nhiều các công trình phụ trợ với công năng khác nhau

Các công trình phụ trợ có xu hướng tách rời nhau, chứ không tích hợp vào công trình chính như nhà thờ Công giáo châu Âu, đây là sự thích ứng, linh hoạt đáp ứng chức năng sinh hoạt cộng đồng của người Việt theo đạo Công giáo. Tuy các công trình này được dựng vào các thời điểm khác nhau, nhưng có nét tương đồng với vị trí của các công trình phụ trợ trong kiến trúc cổ truyền như: Hành lang (nhà dãy) dựng hai bên nhà thờ chính, phương đình (nhà quán cư), tháp chuông được dựng ở phía trước nhà thờ chính (Nhà thờ giáo xứ Bình Sa, Nhà thờ giáo xứ Hiếu Thuận, Phúc Nhạc…). Còn đối với một số nhà thờ có mặt tiền dựng theo phong cách phương Tây thì thường gắn liền với tháp chuông, bên dưới là các cửa ra vào (Nhà thờ giáo họ Tự Tân, Nhà thờ giáo họ Phú Mỹ).

Mái phổ biến làm kiểu 1 tầng 2 mái hoặc 2 tầng 4 mái lợp bằng ngói di, đặc biệt bao che hai bên hồi nhà thờ hiện nay nhiều nhà thờ vẫn còn giữ lại được hệ khung cửa gỗ bức bàn hoặc cửa ván gỗ kết hợp với chắn song con tiện… một số nhà thờ thì lại có sự kết hợp giữa bộ khung kiến trúc gỗ với thành phần bao che theo phong cách phương Tây, tạo nên một nét riêng không có ở các nơi khác.

Lời kết

Lịch sử truyền giáo vào địa phận tỉnh Ninh Bình khá sớm, xuất hiện từ đầu thế kỷ 17 và Hảo Nho được ghi nhận là nơi đặt chân đầu tiên của các giáo sĩ phương Tây vào Ninh Bình. Khi đó các cơ sở thờ tự cũng đã hình thành, nhưng vật liệu xây dựng cũng như qui mô chỉ mang tính chất tạm thời, mục đích chỉ để lấy chỗ giảng giáo lý. Phải đến nửa sau thế kỷ 19 công cuộc xây dựng các nhà thờ mới bắt đầu được chú ý hơn. Kiến trúc nhà thờ có sự pha trộn giữa kiến trúc phương Tây và phương Đông. Nhiều nhà thờ có mặt tiền theo phong cách kiến trúc phương Tây nhưng bộ khung kiến trúc lại theo kiến trúc cổ truyền của người Việt, có sự dung hòa giữa bố cục tổng thể với các thành phần kiến trúc. Mặc dù nhà thờ chính mang phong cách kiến trúc Á Đông nhưng vẫn giữ tinh thần uy nghi, mang tinh thần của đạo Công giáo.

ThS. Nguyễn Thị Xuân
Viện Bảo tồn di tích
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 02-2025)


Tài liệu tham khảo
1. Ban Tôn giáo – Dân tộc tỉnh Ninh Bình (2007): Điều tra, khảo sát đánh giá hiện trạng cơ sở thờ tự và hệ thống tổ chức đạo Công giáo phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
2. Ban chấp hành đảng bộ Kim Sơn (1991): Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn, Tập 1.
3. Nguyễn Hồng Dương (2007): Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802-1883), Nxb. Tôn giáo, HN.
4. Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Bình (1994): Những kiến trúc mang đậm tính dân tộc của một số nhà thờ Công giáo (chủ yếu qua nhà thờ Phát Diệm), Tạp chí Dân tộc học số 4 (84).
5. Nguyễn Đỗ Hạnh (2013): Không gian kiến trúc cảnh quan các nhà thờ Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ, đề tài nghiên cứu, tư liệu Viện Bảo tồn Di tích.
6. Những thư chọn trong các thư chung các đấng Vicario Apostólico và Vicario Provincicale về dòng ông thánh Du Minh gô đã làm từ năm 1759. Quyển thứ nhất, Quyển thứ 2, in tại Kẻ Sặt, 1903.
7. Nguyễn Thị Xuân (2012): Nhà thờ Công giáo có cấu trúc gỗ truyền thống ở tỉnh Ninh Bình, đề tài nghiên cứu, tư liệu Viện Bảo tồn Di tích.
8. Viện Bảo tồn Di tích (2005): Nhà thờ Phát Diệm (thị trấn Phát Diệm – Kim Sơn – Ninh Bình), Tư liệu Viện Bảo tồn di tích.
9. Viện Bảo tồn di tích (2013): Nhà thờ giáo xứ Bình Sa (Lai Thành- Kim Sơn- Ninh Bình), tư liệu Viện Bảo tồn di tích.
10. Viện Bảo tồn di tích (2014): Nhà thờ giáo xứ Hiếu Thuận (Yên Khánh- Ninh Bình), tư liệu Viện Bảo tồn di tích.