Quy hoạch và bảo tồn lăng tẩm hoàng gia thời nguyễn

Lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn là một hệ thống công trình kiến trúc đặc biệt nằm trong quần thể di tích cố đô Huế – di sản thế giới đã được UNESCO công nhận từ năm 1993.

Theo đánh giá của giới nghiên cứu, hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn là bước phát triển vượt bậc trong lịch sử kiến trúc lăng mộ Việt Nam, đạt được những thành tựu rất lớn và hiếm có cả về quy hoạch, tổ chức không gian và nghệ thuật kiến trúc cảnh quan. Chính vì vậy, việc quy hoạch, bảo tồn một cách bền vững di sản kiến trúc quý giá này trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay là vấn đề hết sức cấp thiết. Bài viết dưới đây sẽ đề cập cụ thể về vấn đề trên, gồm các phần:

  1. Lịch sử xây dựng hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn;
  2. Những đặc điểm và giá trị nổi bật;
  3. Vấn đề quy hoạch và bảo tồn bền vững hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn.

Lịch sử xây dựng hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn

Thời Nguyễn không chỉ giới hạn trong giai đoạn vương triều Nguyễn (1802-1945) mà còn bao gồm cả thời chúa Nguyễn (1558-1775). Đây là thời kỳ xây dựng mở mang bờ cõi đất nước về phương Nam. Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa, từ đó kéo dài hơn 200 năm sau, các đời chúa Nguyễn tiếp tục xây dựng và phát triển Đàng Trong về mọi mặt, tạo dựng các cơ sở vững chắc để hình thành một nước Việt Nam hùng mạnh với lãnh thổ rộng lớn như hiện nay. Tuy nhiên, việc họ Nguyễn cát cứ ở phương Nam lại tạo nên sự chia cắt đất nước kéo dài gần 2 thế kỷ. Trong thời gian ấy, Huế đã được các chúa Nguyễn chọn lựa làm thủ phủ của Đàng Trong (1636-1775), vì vậy, Huế đã có một quá trình lâu dài để quy hoạch, phát triển, xứng tầm là đô thị hàng đầu của Đàng Trong hồi bấy giờ.

Ngay từ thời kỳ đầu, Huế đã được định hình là một đô thị cân bằng âm dương, bao gồm phần dương cơ (hoàng cung và các công trình liên quan phục vụ cho triều đình, hoàng gia) nằm ở phía Đông, trên Vương đảo kẹp giữa sông Hương phía trước mặt, sông Kim Long, Bạch Yến ở phía sau, và phần âm cơ (lăng mộ của các chúa) nằm ở phía Tây, phía thượng nguồn sông Hương. Bản đồ Bình Nam Đồ vẽ năm 1774 về Đô thành Phú Xuân đã thể hiện rõ điều đó.

Đầu thế kỷ 19, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đã quyết định chọn Huế để xây dựng kinh đô. Trên nền tảng quy hoạch Đô thành Phú Xuân thời chúa Nguyễn, vị hoàng đế đầu triều đã tiếp tục phát triển ý tưởng xây dựng một đô thị cân bằng, hài hòa với hai phần dương cơ và âm cơ rõ ràng, lấy thiên nhiên làm yếu tố chủ đạo để định hướng cho các công trình kiến trúc, theo đó sông Hương làm trục kết nối.

Với quan niệm “sống gửi thác về”, sau kiếp sống tạm trên dương gian còn có một cuộc sống vĩnh hằng ở thế giới bên kia, các hoàng đế triều Nguyễn đều rất chú trọng đến việc lựa chọn, quy hoạch lăng mộ cho tổ tiên và cho chính bản thân mình. Trong những năm 1807-1808, vua Gia Long đã cho quy hoạch, sắp xếp và trùng tu hàng loạt các lăng mộ của các vị chúa Nguyễn, các phi tử, hoàng thân… phần lớn đều nằm ở thượng nguồn sông Hương, phía Tây, Tây Nam của kinh thành Huế. Năm 1814, vua Gia Long chính thức chuẩn y và cho xây dựng Thiên Thọ Lăng theo phương án của đại thần Lê Duy Thanh (con trai Lê Quý Đôn), làm nơi táng Thừa Thiên Cao hoàng hậu, và cũng là nơi sau này sẽ an táng ông. Lăng Thiên Thọ được quy hoạch trong một vùng đất rộng lớn tới hơn 5700 mẫu (2.875 ha), có 36 ngọn núi chầu về, có khung cảnh thiên nhiên hết sức hoành tráng. Trong khu vực này có đến 7 khu lăng mộ của vua Gia Long và các thành viên trong gia đình nhà vua.

Vua Minh Mạng sau khi kế vị cha vài năm cũng đã cho người đi tìm đất xây dựng lăng mộ, phải mất 14 năm nhà vua mới tìm thấy cuộc đất ưng ý ở dưới chân núi Kim Phụng. Công cuộc xây dựng Hiếu lăng kéo dài hơn 3 năm (1840-1843) mới hoàn thành. Tổng diện tích quy hoạch khu lăng này rộng hơn 1000 mẫu (500 ha), kéo dài từ sườn núi Kim Phụng đến ngã ba Bằng Lãng.

Vua Thiệu Trị là người đóng vai trò chính trong việc hoàn thành Hiếu lăng theo đồ án quy hoạch của vua cha, nhưng ông lại không tự tìm đất và quy hoạch lăng mộ cho chính mình, do thời gian trị vì khá ngắn ngủi (1841-1847). Chính vua Tự Đức là người chọn đất và quy hoạch, xây dựng lăng mộ cho vua Thiệu Trị. Xương lăng được xây dựng khá nhanh, chủ yếu trong các năm 1847-1848 trong một vùng đồi núi thấp xen lẫn đồng bằng thoáng đãng ở làng Cư Chánh, gần dãy đồi Thiên An. Gần 20 năm sau, vua Tự Đức lại chọn khu đất ở núi Dương Xuân khá gần đó để xây dựng lăng mộ cho bản thân mình. Giữa Xương lăng và Khiêm Lăng có nhiều mối quan hệ gắn bó với nhau và nối kết bằng nhiều khu lăng mộ của các thành viên trong hoàng gia như lăng Hiếu Đông (lăng mộ thân mẫu vua Thiệu Trị), lăng Kiên Thái Vương (lăng mộ em ruột vua Tự Đức), lăng vua Đồng Khánh… Tổng diện tích khu vực này rộng ngót 440 mẫu (220 ha).

Có thể nói đây là 4 khu lăng hoàng đế được lựa chọn, quy hoạch cẩn thận, công phu. Các vị hoàng đế sau đó, từ Dục Đức, Kiến Phúc, Hiệp Hòa đến Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân đều không có cơ hội lựa chọn và xây dựng lăng tẩm cho riêng mình, vì vậy, lăng tẩm của họ đều được xây dựng hoặc tạm bợ hoặc vội vàng và không được quy hoạch bài bản. An Lăng của vua Dục Đức là một sự lựa chọn ngẫu nhiên, sau này an táng thêm vua Thành Thái và vua Duy Tân; Bồi lăng của vua Kiến Phúc phải an táng bên trong Khiêm lăng của vua Tự Đức; Tư lăng của vua Đồng Khánh phải lấy điện thờ Kiên Thái Vương (là thân phụ) để làm phần tẩm thờ… Các khu lăng tẩm này đều được xây dựng vào cuối thế kỷ 19. Chỉ sang đầu thế kỷ 20, vua Khải Định mới có cơ hội lựa chọn, quy hoạch lăng tẩm cho bản thân một cách bài bản. Ứng lăng được xây dựng ở vùng núi Châu Ê trong suốt 11 năm (1920-1931), là một công trình kiến trúc kỳ vỹ, mang nhiều yếu tố hiện đại cả về vật liệu và phong cách kiến trúc.

Như vậy, hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn, ngoài lăng mộ thời chúa Nguyễn, tựu trung chỉ có 7 khu lăng tẩm của 10 vị hoàng đế. Quá trình xây dựng kéo dài hơn 100 năm với nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, nhưng đây cũng là một đặc điểm làm nên sự phong phú, đa dạng của hệ thống kiến trúc này.

Những đặc điểm và giá trị nổi bật

Có thể khẳng định: Trong lịch sử kiến trúc lăng mộ Việt Nam và cả trên thế giới, lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn đã đạt đến một trình độ rất cao. Nhìn trên tổng thể, hệ thống lăng tẩm này mang một số đặc điểm nổi bật sau:

– Dựa vào thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm nguồn cảm hứng chủ đạo: Các khu lăng tẩm đều được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, kỳ vỹ, yếu tố tự nhiên như núi non, dòng nước, cây cối hoa cỏ đều được khéo léo chọn lựa hoặc cải tạo lại cho phù hợp. Sự xuất hiện các công trình kiến trúc (trừ lăng vua Khải Định) đều có tính chất điểm xuyết, bổ sung vào thiên nhiên một cách hết sức hài hòa, tinh tế. Mỗi khu lăng tẩm đều có diện tích rất lớn, có khi đến hàng trăm hecta, thậm chí hàng ngàn hecta, và điều quan trọng nhất là chúng đều kết nối với nhau trong một hệ thống, tạo nên một đại cảnh vô cùng rộng lớn bao gồm toàn bộ khu vực phía Tây, Tây Nam kinh thành, phía đầu nguồn sông Hương. Và toàn bộ khu vực này lại được kết nối với phần dương cơ (kinh thành) ở phía Đông thông qua dòng sông Hương huyền thoại.

– Thể hiện sâu sắc triết lí phương Đông truyền thống: Lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn thể hiện rõ triết lí của người xưa về sự sống, cái chết, về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, trong đó con người là một thành tố không thể tách rời của tự nhiên, mỗi một con người là một tiểu ngã trong cái đại ngã chung của vũ trụ. Bởi vậy, mỗi khu lăng tẩm là ngôi nhà riêng, là thế giới riêng của mỗi vị hoàng đế nhưng lại là một phần trong hệ thống lăng tẩm hoàng gia mang tính thống nhất rất cao.

– Thể hiện cá tính của chủ nhân – các vị hoàng đế triều Nguyễn: Mỗi khu lăng tẩm đều thể hiện rất rõ tính cách, sở thích, sở trường và cá tính của vị hoàng đế chủ nhân: Lăng Gia Long hoành tráng rộng mở, đúng như tính cách của vị hoàng đế đầu triều, lấy võ nghiệp để lập thân; lăng Minh Mạng thâm nghiêm, đăng đối nhưng không kém phần thơ mộng trữ tình, phản ánh đúng tính cách của một vị hoàng đế uyên thâm Nho học nhưng có tài kinh bang tế thế; lăng Thiệu Trị tinh tế, nhẹ nhàng đúng như tính cách của vị vua giỏi về văn học; lăng Tự Đức lãng mạn như một bài thơ thể hiện tâm hồn của ông vua thi sỹ; lăng Khải Định bề thế lộng lẫy đúng tính cách của một vị vua có khiếu về mỹ thuật và ham chuộng cái mới lạ…

Lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn cũng hàm chứa những giá trị đặc biệt về nhiều mặt:

– Là nơi tập hợp các loại hình kiến trúc truyền thống phong phú đa dạng với đủ các loại hình điện, đường, lầu, các, hành lang, thủy tạ, đình, quán, cầu, cống… được xây dựng tinh tế, trang nhã với quy mô vừa phải, rất hài hòa với khung cảnh tự nhiên. Có thể nói đây chính là nơi bảo tồn quỹ kiến trúc truyền thống điển hình và phong phú nhất của nước ta hiện nay.

– Là nơi bảo tồn nghệ thuật kiến trúc vườn cảnh kiểu cung đình duy nhất còn lại ở Việt Nam trong đó có đủ cả nghệ thuật tạo đại cảnh, tiểu cảnh, nghệ thuật đắp non bộ, giả sơn, nghệ thuật xử lý dòng nước, nghệ thuật trồng cây, hoa cỏ và kết hợp các loại thực vật theo mùa, theo thời tiết, môi trường… Đây chính là nguồn tư liệu thực tế sinh động vô giá, làm cơ sở để nghiên cứu phục hồi những khu vườn cảnh hoàng gia của cố đô Huế.

– Là nơi còn lưu giữ, bảo tồn những quan niệm và thực hành rất tiêu biểu về phong thủy của người Việt Nam đặc biệt là quan niệm về cuộc đất “vạn niên cát địa”, cách chọn thế đất, thế núi, dòng nước, tàng phong, tụ thủy, cách tầm long, điểm huyệt…

Vấn đề quy hoạch và bảo tồn bền vững hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn

Hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn vốn là một quần thể kiến trúc có quy mô rất lớn, chiếm trọn cả một vùng lưu vực sông Hương với diện tích hàng trăm km2. Tuy nhiên, việc quy hoạch, quản lý và bảo tồn hệ thống kiến trúc này đến nay vẫn còn nhiều bất cập, ngoài 7 khu lăng tẩm hoàng đế và một số lăng hoàng hậu, hoàng thân, lăng chúa Nguyễn được công nhận và đưa vào danh sách bảo vệ thì vẫn còn không ít lăng mộ các phi tần, hoàng tử, công chúa, hoàng thân… chưa được kiểm kê và khoanh vùng bảo vệ.

Bản thân việc khoanh vùng bảo vệ các khu lăng tẩm hoàng đế theo Luật Di sản văn hóa cũng không thể bao quát hết được diện tích nguyên thủy của các di tích này do tình trạng phát triển dân cư và sản xuất nông nghiệp ở các khu vực xung quanh di tích. Điều đó còn tạo ra sự cô lập, chia cắt của một số khu lăng tẩm với hệ thống chung và với sông Hương- dòng sông vốn được xem là tuyến đường kết nối giữa âm phần và dương cơ, giữa vùng lăng tẩm và kinh thành. Bên cạnh đó, một số yếu tố phong thủy vốn gắn liền với di tích như những ngọn núi (vốn được chọn làm tiền án, hậu chẩm hay thế tay ngai, có khi cách xa khu lăng vài cây số), rừng cây, dòng suối, cánh đồng… không được bảo vệ nghiêm ngặt do nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích. Mặt khác, việc phát triển dân cư và xu hướng đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng hiện nay càng tạo ra áp lực lớn cho các khu lăng tẩm. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần phải có sự quy hoạch, bảo tồn hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn một cách phù hợp và kịp thời.

Điều thuận lợi hiện nay là tỉnh Thừa Thiên Huế đang phối hợp với tổ chức Koika (Hàn Quốc) để tiến hành quy hoạch hai bên bờ sông Hương; Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trong nhiều năm qua cũng đã phối hợp chặt chẽ với Đại học Waseda nghiên cứu, bảo tồn cảnh quan các khu lăng tẩm hoàng gia ở vùng thượng nguồn sông Hương.

Thiết nghĩ, việc quy hoạch, bảo tồn hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn cần phải đáp ứng được một số yêu cầu cấp thiết sau:

  • Cần phải mở rộng khoanh vùng bảo vệ các di tích để gìn giữ, bảo tồn bền vững yếu tố phong thủy, cảnh quan nguyên thủy của các khu lăng tẩm; từ đó tái tạo, phục hồi các yếu tố cảnh quan tự nhiên đã bị tác động hay bị hủy hoại;
  • Việc mở rộng không gian bảo vệ các khu lăng tẩm còn phải tạo ra sự kết nối mang tính hệ thống liên hoàn giữa các khu di tích và sông Hương nhằm tạo nên sự liên kết thống nhất của toàn bộ khu vực lăng tẩm hoàng gia ở vùng Tây, Tây Nam kinh thành (Âm phần trong quy hoạch nguyên thủy), và thông qua sông Hương để kết nối với khu vực phía Đông, bao gồm cả kinh thành Huế và những vùng phát triển mới (phần dương cơ);
  • Cần phải chú ý nghiên cứu bảo tồn, phục hồi quỹ kiến trúc đa dạng ở các khu lăng tẩm hoàng gia. Đây là điều hết sức cần thiết để bảo tồn bền vững quỹ kiến trúc truyền thống nhất là kiến trúc cung đình thời Nguyễn nói riêng và kiến trúc cung đình Việt Nam nói chung.

Thay lời kết

Trong định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới của cố đô Huế, UNESCO cũng đã khuyến nghị các Quốc gia thành viên và chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế cần có những chính sách ưu tiên để mở rộng vùng đệm của khu di sản, bảo vệ một cách bền vững các giá trị cảnh quan và phong thủy, đồng thời lập hồ sơ tái đề đề cử cho khu di sản Huế trong đó có hệ thống lăng tẩm hoàng gia thời Nguyễn với tiêu chí đề cử mới là Cảnh quan văn hóa. Đó chính là định hướng phù hợp nhất để bảo vệ di sản vô giá này.

ThS.KTS Đỗ Thị Thanh Mai

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2018)