Tạo lập không gian sống tốt ở nông thôn – Nhìn từ phía sinh kế của người dân

Vì sao bây giờ, việc tạo lập không gian sống tốt ở nông thôn lại trở thành mối quan tâm lớn, được kỳ vọng nhiều đến thế? Phải chăng nông thôn đã phải trả giá quá lớn cho sự tăng trưởng của hơn 10 năm về trước?

Một số câu hỏi

Sau khi đã qua thời kỳ “Thuần nông”, bước vào giai đoạn “Tiền chuyển đổi” bắt đầu từ đổi mới năm 1986, kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong nhiều năm vẫn mải miết tăng trưởng theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào thâm dụng các yếu tố đầu vào, năng suất cây trồng vật nuôi, thị trường dễ tính, giá rẻ và đã chạm đến giới hạn về hiệu quả. Sức ép tăng trưởng trong cơ chế thị trường, cùng với sự cọ sát của Công nghiệp hóa, Đô thị hóa, khoảng cách ngày càng doãng ra so với đô thị khiến nông thôn buộc phải sản xuất nhiều hàng hóa giá trị gia tăng thấp bằng cách khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại cảnh quan, môi trường, giá trị văn hóa truyền thống. Hiệu quả nông nghiệp thấp khiến nguồn lực xã hội và tài nguyên chảy sang phục vụ công nghiệp, dịch vụ, càng làm biến dạng khuôn mặt nông thôn. Chuyển sang thời kỳ “Chuyển đổi” từ năm 2010, chúng ta loay hoay tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới, mà trước hết tìm kiếm các nguồn lực mới. Trong số các nguồn lực mới đó có nguồn lực mềm là giá trị của không gian cảnh quan, kiến trúc, văn hóa truyền thống, tri thức bản địa độc đáo của các vùng miền một thời bị quên lãng, mai một. Chính vì thế, đổi mới tư duy về phát triển nông nghiệp, nông thôn là sự tất yếu. Nông thôn mới (NTM) đang được xây dựng từ 2010 đến nay phải là nông thôn có không gian sống tốt – một không gian có cảnh quan sáng, xanh, sạch, đẹp; kiến trúc hài hòa giữa văn minh và truyền thống, hiện đại và bản sắc; kế thừa và chuyển biến tích cực về văn hóa, vừa rèn rũa truyền thống đạo đức, vừa bổ sung các tố chất của con người hiện đại, hội nhập quốc tế; có cuộc sống vật chất sung túc, sinh kế ổn định cho mọi gia đình. Đó là không gian sống của làng quê khá giả, thịnh vượng, văn minh, nhưng bản sắc và thanh bình, là chiếc nôi của văn hóa dân tộc, là trụ đỡ, chịu đựng dẻo dai trước những biến động của xã hội, bên cạnh các đô thị hiện đại, sôi động. Một không gian như vậy đòi hỏi phải có sự thương lượng hài hòa, tối ưu giữa các mặt phát triển của nông thôn, phải có chất lượng tốt hơn của tăng trưởng kinh tế. Nói một cách nôm na, tăng trưởng kinh tế phải dựa trên sự khai thác bền vững tiềm năng của văn hóa, cảnh quan kiến trúc, môi trường.

Du lịch sông nước ĐBSCL

Từ nhận thức đến hành động thực tế luôn có khoảng cách. Phải chăng vai trò của các động lực nói trên đang được khai thác hiệu quả?

Thực ra, mới chỉ có du lịch là ngành kinh tế đang tập trung khai thác tiềm năng này. Từ năm 2010, ngành du lịch Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng. Năm 2019 là năm thứ 2 liên tiếp Việt Nam giữ vững danh hiệu “Điểm đến hàng đầu châu Á” do Giải thưởng Du lịch Thế giới (WTA) 2019 bình chọn, đạt trên 18 triệu khách quốc tế, gấp 3,6 lần so với 5 triệu khách năm 2010. Cảnh quan, sinh thái, kiến trúc, văn hóa các vùng quê thu hút mạnh không chỉ du khách quốc tế, mà du khách nội địa cũng tăng nhanh: Năm 2017 đạt 73,2 triệu lượt, tăng 2,6 lần so với 28 triệu lượt năm 2010. Tổng thu từ du lịch tăng trên 5 lần trong 7 năm (2010-2017), từ 96 nghìn tỷ lên 510 nghìn tỷ, đóng góp trên 7% GDP và tác động lan tỏa trên 13,9% GDP(1).

Cùng với đó, các loại hình du lịch mới ở nông thôn bắt đầu phát triển khá tốt. Một số mô hình độc đáo, hấp dẫn được du khách đón nhận, trở thành thương hiệu như: tour một ngày làm nông dân ở làng rau Trà Quế, Hội An (Quảng Nam); tour du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long; các Tour thưởng ngoạn phong cảnh ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải, Sapa, Pù Luông, Mai Châu; tour du lịch nông nghiệp CNC ở Đà Lạt… Dịch vụ homestay ngày càng được khai thác phổ biến hơn ở nông thôn, miền núi. Nhiều sản phẩm nông nghiệp đã tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch, tiêu thụ tại chỗ và được quảng bá rộng rãi như: Đào, mận Sơn La, Lào Cai; hoa Tam Giác Mạch Hà Giang; hoa và nông sản ôn đới Đà Lạt; các loại trái cây nhiệt đới miệt vườn Tây Nam Bộ, các sản phẩm làng nghề… Có thể nói, du lịch nông thôn kết hợp bản sắc văn hóa, cảnh quan, kiến trúc với các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bản địa đã đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cho nhiều địa phương.

Trong gần 10 năm qua, đầu tư của ngành du lịch chủ yếu tập trung nâng cấp năng lực các doanh nghiệp, cơ sở dịch vụ, cơ sở lưu trú (tăng gần 2 lần trong 7 năm 2010-2017), nhất là cơ sở lưu trú cao cấp (4 – 5 sao). Vẫn chưa thúc đẩy sự trăn trở, làm mới lại quy hoạch phát triển nông thôn; chưa tạo được làn sóng đầu tư dưới hình thức các dự án phát triển du lịch dành cho các cộng đồng làng quê.

Hầu hết các hoạt động du lịch nông thôn vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, đơn điệu, trùng lặp giữa các địa phương có điều kiện tương đồng, chưa phát huy được giá trị cốt lõi của bản sắc văn hóa truyền thống, sự tinh tế, dấu ấn đặc trưng vùng, miền. Nhiều mô hình khai thác đã lâu năm, nhưng không được đầu tư làm mới, vẫn dựa vào tài nguyên tự nhiên, thậm chí còn hủy hoại nó. Cơ sở hạ tầng và các điểm nhấn mới chưa hoàn chỉnh. Tình trạng đô thị hóa, nhường đất cùng không gian cảnh quan cho Khu công nghiệp và các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường là nguy cơ hiện hữu. Chưa kể đến những bất cập, mâu thuẫn chậm được giải quyết giữa bảo tồn di sản với sinh kế và đời sống người dân; những hạn chế về tính liên kết chuỗi giá trị giữa các bên khai thác du lịch, về nguồn nhân lực và các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch…

Du lịch mùa hoa Tam giác mạch ở Hà Giang

Nhưng, phải chăng du lịch cũng đang đi vào vết xe đổ cũ, khi chỉ biết khai thác tài nguyên có sẵn, tăng trưởng nhiều, nhưng đầu tư, bồi đắp trở lại cho lâu dài vẫn còn ít. Việc khơi thông tiềm năng của văn hóa, cảnh quan, kiến trúc vì thế còn bất cập?

Không ai khác, chính là cộng đồng người dân nông thôn là chủ thể, là nguồn lực và là người hưởng thụ không gian đó. Với tư cách chủ kinh tế hộ, họ từng là người tàn phá tài nguyên, ô nhiễm môi trường vì sinh kế bằng mọi giá trong khung khổ mô hình tăng trưởng cũ(2). Sinh kế nhờ du lịch là động lực tốt, nhưng không phải mọi làng bản đều có thể trở thành điểm du lịch nông thôn, trong khi ở đâu cũng đều phải tạo lập không gian sinh thái, văn hóa cho người dân. Vậy là, khi phác thảo từng nội hàm của không gian sống tốt, chúng ta đều phải liên hệ, chuyển hóa nó thành nguồn lực cho phát triển kinh tế, mà người dân nông thôn được sử dụng cho sinh kế của mình. Hay nói cách khác, cần tìm kiếm, khôi phục, khởi nghiệp sinh kế, phát triển sản phẩm, tạo ra các giá trị mới dựa vào nguồn lực của cảnh quan, sinh thái, văn hóa, sao cho đủ để thu hút được cộng đồng tham gia vào không gian sống tốt. Đó chính là vấn đề đặt ra cho xây dựng NTM bền vững.

Tư tưởng OCOP trong xây dựng NTM bền vững và nhu cầu kết nối giữa tạo lập không gian sống tốt với phát triển kinh tế nông thôn

Quá trình thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM 10 năm qua đã cho chúng ta có cách nhìn đầy đủ, thấu đáo hơn và là cơ hội thực hiện việc phát triển tích hợp các mảng kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, lấy người dân làm trung tâm trong mô hình NTM, trong đó chú trọng đến động lực phát triển của văn hóa, cảnh quan, kiến trúc. Quyết định 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018(3) là một bước thể chế hóa điều đó, ghi rõ quan điểm phát triển nội lực và gia tăng giá trị của kinh tế nông thôn dựa trên các giá trị văn hóa; đề ra mục tiêu xây dựng 8-10 mô hình làng văn hóa-du lịch; nêu rõ trong 06 nhóm sản phẩm OCOP có nhóm Du lịch nông thôn, bán hàng(4) và cho phép triển khai các dự án thành phần rất quan trọng là Dự án mô hình mẫu làng/bản văn hóa du lịch; Dự án phát triển thương hiệu sản phẩm OCOP; Dự án một số vùng sản xuất, dịch vụ nông thôn trọng điểm quốc gia (đại diện cho một số khu vực sinh thái – văn hóa có lợi thế); Dự án Trung tâm thiết kế sáng tạo phát triển sản phẩm OCOP gắn với giới thiệu, quảng bá sản phẩm OCOP tại các vùng trọng điểm. Có thể thấy, các dự án này đều khai thác tối đa nguồn lực tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa địa phương phục vụ phát triển kinh tế.

Trong Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP (ban hành bởi Quyết định 1048/QĐ-TTg ngày 21/8/2019, sau đó được điều chỉnh bằng Quyết định số 781/QĐ-TTg ngày 08/6/2020) đã lượng hóa sự phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và tính độc đáo bản địa. Cả 06 nhóm sản phẩm OCOP (chứ không chỉ du lịch) đều có quỹ điểm dành cho việc phát huy các giá trị này. Trong đó, câu chuyện xuất xứ màu sắc bản địa là bắt buộc phải có trong cơ cấu giá trị của các loại sản phẩm OCOP(5).

Du lịch làng nghề ở Hà Nội

Ai là chủ thể xây dựng không gian sống tốt ở nông thôn? Họ cần gì? Phải chăng với bất cứ ai, sinh kế luôn là động lực? Việc tôn tạo, giữ gìn cảnh quan sinh thái, truyền thống văn hóa, tạo lập không gian sống tốt ở nông thôn có phải chỉ dành cho phát triển du lịch?

Riêng về du lịch, mặc dù khung khổ chỉ giới hạn bởi 8-10 mô hình làng văn hóa – du lịch (một con số quá nhỏ so với 8.926 xã, hàng chục ngàn làng bản, hơn 5411 làng có nghề, 2008 làng nghề và 115 nghề truyền thống đã được công nhận), nhưng việc đưa OCOP là Chương trình trọng điểm trong xây dựng NTM đã giúp tạo ra phong trào rộng lớn về du lịch nông thôn, được hỗ trợ bởi các nguồn lực cụ thể. Tháng 12/2018 tại Lai Châu, Chương trình xây dựng NTM đã tổ chức Hội nghị toàn quốc đầu tiên về phát triển du lịch nông thôn. Các bộ, ngành đã thống nhất đề nghị Chính phủ cho phép triển khai “Đề án xây dựng NTM gắn với phát triển kinh tế du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các địa phương giai đoạn 2020 – 2025” với trọng tâm là “Chương trình phát triển du lịch nông thôn giai đoạn 2020- 2025” thuộc Chương trình xây dựng NTM. Đây là một hướng đi quan trọng để phát triển hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam có giá trị gia tăng cao, đảm bảo tính bền vững và cạnh tranh cao trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030(6).

Một trong những sản phẩm thành công của du lịch OCOP, quảng bá nét đẹp và không gian sống tốt ở nông thôn là Du lịch Làng quê Yên Đức (Đông Triều, Quảng Ninh). Người dân chỉnh trang nhà cửa, đường làng, ngõ xóm sạch sẽ, tạo diện mạo xanh, sạch, đẹp. Đến đây, ngoài việc tham quan cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hóa, du khách còn có dịp vào tận nhà dân tìm hiểu về kiến trúc nhà ở truyền thống, nề nếp gia đình, phong tục thờ cúng tổ tiên, sinh hoạt văn hóa cộng đồng (lễ hội, làn điệu dân ca, dân vũ, như chèo, quan họ, múa rối…); tìm hiểu nghề làm quạt, làm chổi và trải nghiệm nông nghiệp làng xã (chủ yếu là tự cung tự cấp) thông qua hoạt động làm vườn, thu hoạch rau quả, vơ cỏ, câu cá, mò cua, bắt ốc…

Không chỉ du lịch, nhờ thúc đẩy phát triển và nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm đa dạng, bao trùm hầu hết mọi hoạt động sinh kế của người dân, OCOP còn tạo ra hướng đi mới về phát triển kinh tế tổng hợp, bền vững dựa trên các giá trị của văn hóa, cảnh quan, kiến trúc. Vì thế, Chương trình OCOP và Xây dựng NTM là cây cầu kết nối liên ngành trong phát huy các loại động lực mềm phục vụ sinh kế người dân.

Một số đề nghị

Có lẽ ngoài các kiến giải về chuyên môn, chuyên đề này nên có kiến nghị về các giải pháp và phương thức tổ chức, chung tay tạo lập không gian sống tốt ở nông thôn để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xây dựng NTM bền vững.

Nên chăng cần cụ thể hóa một cách chính thức, để đề xuất với Chương trình xây dựng NTM các tiêu chí/chỉ tiêu cơ bản về không gian sống tốt ở nông thôn phù hợp với từng vùng miền, sắc tộc, tôn giáo và cấp độ mới của nông thôn (NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu), có thể tích hợp với Bộ tiêu chí NTM giai đoạn 2021-2025?

Nên chăng cần đề xuất xây dựng các mô hình thực tế về NTM kiểu mẫu gắn kết chặt chẽ giữa văn hoá, cảnh quan, kiến trúc với sinh kế và phát triển cộng đồng, phát triển du lịch nông thôn? Theo đó, Chương trình xây dựng NTM giai đoạn tới cho triển khai một số dự án điển hình, trình diễn cho từng loại mô hình, trên cơ sở lựa chọn các làng quê tiêu biểu cho các vùng miền, tộc người theo các tiêu chí hợp lý. Từ kết quả của các mô hình sẽ bổ sung thêm và cụ thể hóa các tiêu chí mềm cho NTM bền vững kiểu mẫu theo các mặt khác nhau?

Nên chăng đề xuất một mạng lưới kết nối chính thức nhiều chuyên ngành để tập hợp lực lượng, gồm đại diện các cơ quan quản lý nhà nước (đầu mối là Văn phòng Điều phối nông thôn mới TW); các Trường, Viện nghiên cứu; một số NGO, các hội, hiệp hội ngành nghề; các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp về văn hóa, dân tộc học, kiến trúc, cảnh quan sinh thái, môi trường, du lịch cộng đồng, kinh tế nông thôn, ngành nghề truyền thống…? Mạng lưới này cần được tổ chức và hoạt động theo những cơ chế, quy định mềm, linh hoạt, thiết thực và hiệu quả; có chương trình/kế hoạch hoạt động cụ thể, được đảm bảo về nguồn lực và các điều kiện cần thiết.

TSKH Bạch Quốc Khang
Cố vấn Ban Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2016-2021
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2020)


Ghi chú

  • (1) Nguồn Tổng cục Thống kê từ năm 2010 đến 2017, 2019.
  • (2) Lấy phá rừng làm ví dụ: có tới 40-50% diện tích rừng bị mất cho mục đích sản xuất nông nghiệp; 90% vụ cháy rừng do người dân đốt dọn nương rẫy lan ra…
  • (3) Quyết định 490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2018-2020.
  • (4) Tên nhóm này được điều chỉnh lần cuối vào 6/2020 tại Quyết định số QĐ 781-TTg về việc sửa đổi Quyết định 1048/QĐ-TTg ngày 21/8/2019 thành “Dịch vụ du lịch cộng đồng và điểm du lịch”.
  • (5) Trong thang chấm điểm công nhận mọi loại sản phẩm OCOP đều dành quỹ điểm cho câu chuyện sản phẩm, trí tuệ/bản sắc địa phương, nguồn gốc ý tưởng, xuất xứ sản phẩm, phong cách bao bì… Riêng sản phẩm du lịch có thêm vị trí, kiến trúc, đồ ăn uống, lưu niệm… là những yếu tố then chốt làm nên chất lượng du lịch.
  • (6) Được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, TT&DL phê duyệt tại Quyết định 2714/QĐ-BVHTTDL ngày 03/8/2016

Trang thông tin này có sự phối hợp của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung Ương