“Làm ăn” & “Làm nghề” với luật kiến trúc

Mong mỏi về Luật hành nghề KTS là ước mơ từ nhiều năm của giới KTS Việt Nam kể từ giữa thập kỷ 90 đến nay. Tháng 5 /2019 tới đây, kỳ vọng về điều đó nhiều khả năng trở thành hiện thực khi Quốc Hội thông qua Luật Kiến trúc (mà trong đó nội hàm hành nghề KTS chiếm một tỷ trọng lớn). Với những người từ ở nhiều chỗ góc nhìn khác nhau, quan tâm đóng góp cho việc ra đời của Luật trong thời gian dài qua thì tất nhiên là “vui” – Nhưng niềm vui đó không hẳn giống nhau ở mọi KTS hành nghề, mà điều đó phụ thuộc mối quan tâm nhiều mức độ khác nhau của mỗi KTS với Luật. Nhưng chắc chắn mối quan tâm chủ yếu và chính đáng đối với mọi KTS là làm ăn và làm nghề sẽ có gì khác? Và khi Luật kiến trúc vận hành thì mọi việc sẽ ra sao?…

Đúng vậy, Luật không bao giờ đơn giản như một câu chuyện”trà dư tửu hậu”. Luật Kiến trúc hội tụ đủ những nhu cầu khách quan để ra đời, nhưng để ra được Luật là một sự chuẩn bị công phu nhiều mặt để cân nhắc, thuyết phục, soạn thảo, cân đối với hàng chục Luật khác có nội dung liên quan. Mỗi người không nhất thiết phải biết và hiểu hết đạo Luật hay Bộ Luật, nhưng mỗi khi một thành phần đối tượng nào nằm trong điều tiết của Luật cảm thấy quyền lợi chưa thỏa đáng, thì có thể tìm thấy ở Luật chỗ dựa, thậm chí điều kiện để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Với mỗi KTS hành nghề chuyên nghiệp, phải chăng mối quan tâm chính đáng hàng đầu là lòng tự trọng, sự tự do và bình đẳng trong quyền làm ăn và làm nghề?

Về “làm ăn”

Cơm áo gạo tiền bao nhiêu năm ăn học, có mảnh bằng đại học trong tay, chàng KTS trẻ (đúng hơn là cử nhân kiến trúc) cũng sẽ sử dụng nó để làm ăn, ít nhất nuôi được mình, nuôi được gia đình. Đã là một cuộc mưu sinh, mỗi cá nhân đều hết sức quyết liệt, linh hoạt để thích hợp với môi trường sống. Để có miếng ăn, thậm chí làm giàu, KTS cứ cố làm vui lòng Chủ đầu tư (CĐT) (mà không bị pháp luật “vịn vai”). Khi môi trường pháp luật chưa hoàn thiện, xã hội vẫn sống và phát triển với kỹ năng thích ứng linh hoạt, không hẳn tốt nhưng cũng không phạm pháp). Một môi trường vận hành nhiều năm như thế sẽ tạo những thói quen và kinh nghiệm làm việc “phù hợp và hiệu quả”. Ví dụ, công ty thiết kế thi công (hoặc liên kết quyền lợi cổ đông giữa công ty thiết kế và công ty thi công), nhận chiết khấu từ công ty phân phối vật tư thiết bị, công ty thiết kế trực thuộc công ty đầu tư địa ốc, công ty thiết kế sân sau, thân hữu…

Khi có Luật, KTS được xác nhận có quyền hành nghề cá nhân với giấy phép hành nghề KTS không bị phụ thuộc vào pháp nhân của một công ty kiến trúc. Đây là điều tốt hơn trước dù còn phải xác định tính pháp lý độc lập của cá nhân KTS hành nghề trong các quan hệ dân sự (Ví dụ: Tổ chức văn phòng KTS, quyền nhân thân trong thiết kế phương án kiến trúc…) tốt hơn bởi sẽ tránh được rủi ro như từ trước đến nay. Dự án suôn sẻ thì không phải nói gì. Nếu có chuyện “cơm không lành, canh không ngọt” với CĐT, hoặc CĐT ngưng ngang, đem thiết kế ý tưởng hay thiết kế cơ sở đi đấu thầu khai triển thì KTS không biết đường nào mà đòi quyền tác giả. “Ngậm tăm” cho nó lành!

Vậy nên, chuyện làm ăn của KTS vốn muôn hình vạn trạng, có thêm Luật KTS sắp ra thì cũng chỉ là thêm một tình huống mới của chuyện làm ăn thôi, không có gì phải lo.

Cái lo nếu có, chỉ là một số “thói quen” kiểu cũ, bỏ đi thì cũng có chút vật vã!

“Làm nghề”

Đây mới là vấn đề nghiêm túc, đáng bàn. Bởi là vấn đề đáng bàn nên Luật Kiến trúc mới có hơn 20 năm “đau đẻ”. Thực ra, nhiều nội hàm của Luật Kiến trúc có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều Luật khác: Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Dân sự, Luật Đấu thầu… Tuy rằng nội dung quản lý kiến trúc và hành nghề KTS chiếm một tỷ trọng lớn.

KTS là một nghề được cả thế giới công nhận, nhưng hành nghề ở Việt Nam không/ chưa có luật trong khi các nước trong khu vực Asean,thế giới đã có từ rất lâu thì có nghĩa chúng ta đang hành nghề chưa được “danh chính ngôn thuận” với thế giới, cho dù các công trình và dự án tại Việt Nam đang phát triển “hot”, và đó là lý do chất lượng công trình xây dựng thuộc tầm trung mà chi phí xây dựng lại cao – Thật khó quy trách nhiệm cho rõ ràng.

Trong Luật Kiến trúc có giải thích từ ngữ một số điều quan trọng – Đó là cụm từ “thiết kế phương án kiến trúc”. Dịch vụ kiến trúc có rất nhiều việc và nhiều công đoạn cho mỗi việc, nhưng KTS (hoặc nhóm KTS) thiết kế phương án kiến trúc mới có quyền tác giả đầy đủ hoặc ít nhất là quyền nhân thân). Vậy phương án kiến trúc phải được xác định là một công việc quan trọng, có sản phẩm và quyền tác giả độc lập đối với các dịch vụ kiến trúc liên quan tiếp theo (hoặc kèm theo), có quyền kiểm soát và /hoặc nghĩa vụ phê duyệt các dịch vụ này. Điều này cho phép KTS tác giả không bị gánh nặng của hồ sơ chi tiết thi công làm phân tán sức lao động (trừ trường hợp KTS tác giả tự nguyện tổ chức cung cấp dịch vụ này theo quy định quản lý chung).

KTS tác giả làm công trình bằng hợp đồng dân sự/ kinh tế cụ thể với một CĐT (tư nhân hoặc pháp nhân) nhưng lại chịu trách nhiệm với cả cộng đồng. Làm sao để giữ tiếng nói độc lập về chuyên môn trong khi phải thỏa mãn yêu cầu của đối tác? Đây là vấn nạn mà KTS hành nghề nào cũng gặp phải. Giỏi thuyết phục, ứng xử khéo thì thuận lợi. Không giỏi thì nhượng bộ dần, có khi hy sinh cả quyền lợi của chính CĐT (mà CĐT không biết). Hóa ra KTS bị áp lực vi phạm đạo đức hành nghề mà không có hành lang an toàn bảo vệ. Trong chuyện làm ăn, nguyên tắc “thuận mua vừa bán” có lý của nó. Trong tạo tác kiến trúc, chuyện làm nghề, cái lý đó có nội hàm nguy hiểm như hiện tượng “đồng huyết” trong chất lượng của một nền kiến trúc về lâu dài.

Ai đó vỗ ngực xưng là người yêu nghề, chắc chắn mong muốn bảo vệ lấy “danh giá” của nghề. Chắc chắn chấp nhận sự ràng buộc cá nhân để công bằng với cả môi trường hành nghề tốt đẹp.

Trong Đại hội KTS Thế giới UIA ở Bắc Kinh năm 1999, KTS Tadao Ando trong bài tham luận của mình đã nói: “Tôi có lời khuyên đến với các bạn trẻ: Đừng chọn nghề kiến trúc nếu chưa khẳng định mình là người sống có tinh thần trách nhiệm cao”. Còn hơn cả sự chọn lựa cá nhân, các Đoàn KTS trên thế giới luôn đặt trách nhiệm đào tạo rèn luyện thế hệ KTS trẻ qua thời gian thực hành bắt buộc (trung bình 5 năm) để được thi lấy chứng chỉ hành nghề. Vì với loại nghề “ông đồ già, con hát trẻ” như nghề kiến trúc, không CĐT nào đem đồng vốn khổng lồ của mình cho người khác… rút kinh nghiệm. Khối lượng công việc đa dạng và quy mô ở các văn phòng KTS, cùng kinh nghiệm cá nhân của KTS chủ trì, là cơ hội để dành cho các lứa KTS kế tục. Đó cũng là một hình thức cam kết về trách nhiệm của cộng đồng KTS với xã hội.

Khi chưa có luật, trong làm ăn thì “áp phe” kiến trúc chắc dễ có tiền hơn là “làm nghề” trong vai trò KTS chuyên nghiệp. Vậy khi có luật, dù chưa tạo đủ điều kiện ngay, thì cũng có khung pháp lý để hiệu chỉnh dần vì lợi ích chung của xã hội trong đó có giới làm nghề thật sự /chân chính. Đó không phải là ân huệ – Đó là sự công bằng.

Chất lượng làm nghề chung của giới chỉ được đảm bảo tốt nhất bằng lòng tự trọng thể hiện qua “quyền chịu trách nhiệm” của cộng đồng KTS hành nghề.

Chứng chỉ hành nghề, cần tư thế pháp lý, có thể do chính quyền ký (trong giai đoạn qúa độ, theo thông lệ thế giới đó là một hội đồng do Nhà nước bổ nhiệm). Nhưng việc chuẩn bị con người, giới thiệu, kiểm tra kỹ năng kiến thức… theo dõi tính hành nghề liên tục, kỷ luật… đều do một hội đồng của tổ chức xã hội nghề nghiệp quản lý (theo quy định của pháp luật). Trong giai đoạn quá độ của Luật, chúng ta thấy không ai đảm nhận vai trò này tốt hơn Hội KTS Việt Nam.

Một vấn đề cuối cùng của làm nghề, đó là năng lực thực tế để bảo vệ quyền tác giả (tác quyền). Điều này mà không rõ ràng, thì không thể kích thích tinh thần sáng tạo trong sáng tác kiến trúc. Luật có nói đến quyền tác giả của cá nhân KTS (hoặc tập thể). Nhưng một công trình kiến trúc được xây dựng hoàn chỉnh ngày nay, bao gồm rất nhiều đóng góp của các nhà tư vấn lĩnh vực khác: Kết cấu, kỹ thuật M&E, thiết bị, PCCC, điện nhẹ, dự toán… Do thói quen từ thời bao cấp, các công trình thiết kế chỉ được công nhận hoàn thành khi có đầy đủ hồ sơ thiết kế chi tiết thi công và tổng dự toán được phê duyệt. Điều này vô tình ràng buộc quyền lợi của quyền tác giả với tình trạng triển khai dự án của CĐT.

Nếu vì lý do bất khả kháng, công trình không đi tới đích, mặc nhiên cũng sẽ “quên” luôn quyền lợi của tác giả phương án (dù đã được chấp thuận). Sự không rõ ràng này làm thành tập quán xấu trong xã hội: Không có quy trình độc lập, đầu tư tương xứng cho thiết kế phương án kiến trúc và đảm bảo quyền tác giả đầy đủ trong các quy chế quản lý nhà nước. Vấn đề này thời gian qua đã minh chứng một nguyên tắc đơn giản: Không đầu tư tương xứng, không thu được kết quả tương xứng. Các cuộc thi kiến trúc quốc tế, đầu tư rất công phu và tốn kém, chẳng qua là để tìm một phương án có giá trị tác phẩm xứng đáng – Mà vì điều đó, với một số công trình đặc thù, đôi lúc tỷ lệ phần trăm của thiết kế phương án đối với giá thành xây dựng là rất cao và không cần bàn cãi.

Có thể còn nhiều vấn đề khác đang được quan tâm. Nhưng đối với chuyện “làm ăn” và “làm nghề” KTS chuyên nghiệp với Luật Kiến trúc sắp ban hành là một bước tiến quan trọng. Và như nhiều Luật Kiến trúc sư các nước trong khu vực, không ai ngăn cản chuyện hoàn thiện nhiều lần cho phù hợp. Điều quan trọng là chúng ta phải có đối tượng để hoàn thiện.

KTS Nguyễn Văn Tất
Phó Chủ tịch Hội KTS TP HCM

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2019)