Nhìn lại các chính sách hành nghề KTS

Tầm quan trọng của hành nghề KTS
Đã từ nhiều năm nay, các hội viên Hội KTS Việt Nam mong đợi một chính sách hành nghề KTS toàn diện, có tính hội nhập cao trong xu thế toàn cầu hóa và phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước nhà.
Năm 2014, theo đề nghị của Bộ Xây dựng và nguyện vọng của đại đa số các hội viên, Hội KTS Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu Dự thảo Luật hành nghề KTS. Dự thảo Luật hành nghề KTS đầu tiên này đã thể hiện quyết tâm chính trị cao của giới KTS – Vì sự nghiệp xây dựng một nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, dân tộc và bền vững trong tương lai. Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã đánh giá cao chất lượng dự thảo và tinh thần, trách nhiệm của Hội KTS Việt Nam, đồng thời ủng hộ sự cần thiết phải sớm ban hành Luật hành nghề KTS.
Các cuộc gặp mặt giữa Hội KTS Việt Nam với các đại diện của Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành liên quan cũng đã khẳng sự cần thiết phải có một đạo luật (dù tên là gì: Luật Kiến trúc, Luật KTS hay Luật Hành nghề KTS)… làm nền tảng để xây dựng các chính sách hành nghề KTS ở Việt Nam một cách hệ thống, nhằm cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về kiến trúc, phục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đã nhiều lần, Hội KTS Việt Nam gửi tờ trình Ủy Ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng chính phủ, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp Đề án xây dựng Luật hành nghề KTS. Tuy nhiên, những mong muốn chính đáng và quyết tâm trên vẫn chưa được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phúc đáp. Phải chăng đây là vấn đề nhỏ, không mấy quan trọng? Phải chăng Luật hành nghề KTS là vấn đề riêng của giới KTS? Phải chăng Luật Hành nghề KTS là cần thiết, nhưng chưa cấp bách…? Những câu hỏi trên đã là nỗi băn khoăn lớn của giới KTS, những người vì sự nghiệp kiến trúc Việt Nam. Khẳng định tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của công tác hành nghề KTS, Thủ tướng Chính phủ, tại Quyết định số 112/2002/QD-TTg ngày 03/09/2012 đã chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế hành nghề KTS trên cơ sở thực hiện nghiêm ngặt chế độ KTS đăng ký; quy định đạo đức của người đăng ký; năng lực nghề nghiệp xin đăng ký; trình tự thủ tục đăng ký; quy định chế độ hành nghề KTS; cho phép kết hợp tư cách đơn vị thiết kế và tư cách cử nhân KTS đăng ký”.
Điều đáng quan ngại ở đây chính là những người có thẩm quyền đã bỏ qua những cơ hội, để ra một quyết sách rõ ràng về một công việc thực sự có lợi cho dân, cho nước, không chỉ trước mắt và cả về lâu dài. Bởi vì quốc gia nào cũng phải nỗ lực xây dựng một nền kiến trúc riêng. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, kiến trúc luôn là khoa học và nghệ thuật tổ chức môi trường sống cho con người, là sự phản ánh trung thành sự phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ của khoa học công nghệ và các giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật của thời đại. Việc này đòi hỏi phải có chính sách tạo điều kiện, thu hút nhân tài, tích hợp các nguồn lực lớn nhỏ của dân tộc và nhân loại.

Đại lộ Thăng Long (Hà Nội)
Đại lộ Thăng Long (Hà Nội)

Nhìn lại các chính sách hành nghề KTS ở Việt Nam
Trong hơn hai mươi năm qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về hành nghề KTS, cụ thể:

1. Ngày 16/4/1993, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã có Quyết định số 91/BXD-DT về việc ban hành Quy chế hành nghề KTS, trong đó đã có quy định yêu cầu đối với việc hành nghề KTS, việc xét, cấp chứng chỉ hành nghề KTS, nghĩa vụ, quyền hạn và xử lý vi phạm trong hành nghề KTS.
2. Ngày 25/8/1993, Bộ Xây dựng có Thông tư hướng dẫn chi tiết về thủ tục đăng ký và cấp chứng chỉ hành nghề KTS.
3. Ngày 17/4/1993, Bộ trưởng Xây dựng đã có Quyết định số 92/BXD/GĐ ban hành Quy chế khảo sát xây dựng, thiết kế quy hoạch xây dựng, thiết kế công trình xây dựng.
4. Năm 2003, Luật Xây dựng đã được Quốc hội ban hành và năm 2009, Luật Quy hoạch đô thị được Quốc hội ban hành. Một trong ba trụ cột lớn của các Luật trên là quy định điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng và thiết kế quy hoạch đô thị. Các quy định của Quốc hội tại các Luật trên đã được Chính phủ quy định chi tiết trong Nghị định số 12/02/2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và Nghị định số 37/2010/ND-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch
5. Về các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách có liên quan đến hành nghề KTS ở Việt Nam:

  • Đến nay, Nhà nước đã ban hành khoảng 100 văn bản quy định và định hướng cho công tác hành nghề KTS, nổi bật hơn cả là Bộ luật Dân sự, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch Đô thị, Luật Sở hữu trí tuệ và các định hướng chiến lược như: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020; Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2025, Định hướng phát triển Kiến trúc Việt Nam đến năm 2020; Nghị định số 38/2010/ND-CP ngày 07/04/2010 của Chính phủ về quản lý không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị…
  • Ngày 24/01/2003, Bộ Văn hóa thông tin và Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư liên tịch số 04/2003/TTLT-BVHTT-BXD, hướng dẫn về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc để cụ thể hóa các Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 và Nghị định số 60/CP ngày 6/6/1997 thi hành Bộ Luật Dân sự của Chính phủ

6. Năm 2014, Quốc hội ban hành Luật Xây dựng, trong đó dành toàn bộ chương VIII quy định điều kiện năng lực hoạt động xây dựng cho tổ chức, cá nhân thuộc các lĩnh vực: Quy hoạch xây dựng, khảo sát xây dựng; thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng, chỉ huy trưởng công trường, giám sát thi công xây dựng, kiểm định xây dựng; định giá xây dựng …

Ngày 18/06/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2015/ND-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng, trong đó đã cụ thể hóa việc cấp chứng chỉ hành nghề cho cá nhân và chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng cho các tổ chức trong nước, nước ngoài.
Mặc dù số lượng những văn bản được ban hành có liên quan đến hành nghề KTS là đáng kể, nhưng lại thiếu cụ thể đối với nghề kiến trúc, chưa phù hợp với yêu cầu quản lý đối với nghề mang tính đặc thù. Nhiều quy định còn chung chung, nặng về hình thức, không phù hợp với thông lệ quốc tế và ít có tác dụng đối với việc đào tạo xây dựng đội ngũ KTS hành nghề chuyên nghiệp và các điều kiện để KTS có thể cung cấp các dịch vụ đạt chất lượng; ngoài ra, chưa phát huy được vai trò của Hội KTS Việt Nam trong việc tham gia phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước là Bộ Xây dựng trong việc đào tạo lại KTS và việc thiết lập một tổ chức quản lý hành nghề KTS thống nhất đó là “Đoàn KTS Việt Nam” (Board of Architects).
Luật hành nghề KTS: Đừng để quá muộn!
Hơn 20 năm qua, công tác hành nghề KTS ở Việt Nam đã không đi đúng hướng, không cập nhật với xu thế của thời đại và các nước trong khu vực. Các cơ sở đào tạo đại học, cấp bằng KTS ngày càng nhiều. Cả nước đã có khoảng 20.000 KTS, nhưng trong số đó chỉ có khoảng 20, 30% KTS hành nghề, song họ lại không được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và thái độ hành nghề thường xuyên để có khả năng đảm nhiệm trách nhiệm to lớn mà nhà nước và nhân dân giao phó trong quá trình hành nghề.
Xu thế toàn cầu hóa và các cam kết của Việt Nam đối với tổ chức quốc tế đòi hỏi sự kết nối và liên thông pháp luật về hành nghề KTS. Thật đáng buồn trong số 11 thành viên khối ASEAN, chỉ còn vài ba nước chưa có Luật hành nghề KTS, trong đó có Việt Nam.
Hành nghề KTS không phải là công việc riêng của các KTS mà chính là lợi ích của nhân dân và toàn xã hội. Do đó, không nên quan niệm cho rằng đây là một việc nhỏ, chỉ mang tính hoạt động nghề nghiệp mà nó chính là vấn đề của tương lai – Vì sự phát triển bền vững của cả quốc gia.
Ngoài ra, trong xã hội dân sự hiện đại, quản lý hoạt động hành nghề KTS không phải là việc riêng của các cơ quan quản lý nhà nước. Hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực này phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của công chúng và hội nghề nghiệp, đó chính là Đoàn KTS.
Cuối cùng, sự nghiệp xây dựng một nền kiến trúc hiện đại, dân tộc và bền vững đòi hỏi phải có một đội ngũ KTS có đức, có tài, có hành lang pháp luật hành nghề công khai, minh bạch và thuận lợi với sự tham gia tích của toàn dân, tạo điều kiện cho sự nghiệp kiến trúc Việt Nam phát triển xứng tầm trong thế giới hội nhập.
Từ những nhận thức trên, những người có trách nhiệm và thẩm quyền về xây dựng chính sách hành nghề KTS cần nắm bắt cơ hội để sớm đưa ra quyết định, đừng để quá muộn.

PGS.TS.KTS Trần Trọng Hanh

( Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11 -2015 )