Đại hội III dấu mốc lịch sử của hội kts việt nam

Từ ngày thành lập tổ chức nghiệp đoàn của giới KTS Việt Nam (bắt đầu Hội nghị KTS năm 1948 ở Liễn Sơn, Thản Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc, đã được Bác Hồ gửi thư – coi như Đại hội lần thứ nhất), đến nay đã trải qua 9 kỳ.

Do hoàn cảnh thăng trầm của đất nước, đến năm 1983, sau 25 năm, kể từ Đại hội II (4/1957) mới tiến hành được Đại hội III. Do vậy, Đại hội III của Đoàn KTS Việt Nam (tiền thân của Hội KTS Việt Nam ngày nay) được coi là dấu mốc lịch sử của giới KTS Việt Nam.

Nhìn nhận từ nhiều góc độ, có thể nói đại hội lần này có nhiều đột phá mang tính lịch sử đối với Hội, với giới kiến trúc và có nhiều tác động ảnh hưởng tích cực đến xã hội, đến nền kiến trúc nước nhà. Khi Cách mạng Tháng 8 thành công, giành độc lập (tuy ngắn ngủi), lúc đó lực lượng người làm kiến trúc rất ít, KTS lại càng hiếm, đa phần được đào tạo tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, là “thế hệ đầu” của giới KTS Việt Nam.

Sau gần 40 năm, từ thực tiễn 2 miền đều phát triển lực lượng, đã có các cơ sở đào tạo chuyên ngành kiến trúc – xây dựng trong nước, và cả các KTS được đào tạo chất lượng ở nước ngoài trở về góp sức xây dựng nước nhà. Đại hội III là dịp đầu tiên (mở đầu) giới KTS được đoàn tụ, đại diện cho gần 1000 hội viên trong không khí hòa bình, thống nhất tổ quốc.

Sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá, còn khó khăn nhưng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội rất lớn, đặc biệt các công trình hạ tầng, phục vụ phát triển kinh tế, phục vụ nâng cao đời sống mới dân sinh. Đáp ứng nhu cầu khổng lồ ấy, không ai khác ngoài KTS “thế hệ thứ 2” phải kế tục đảm đương.

Thực tế cho thấy, lớp KTS đầu tiên đã hoàn thành sứ mệnh của mình, đa phần trưởng thành và đảm nhận các trọng trách của ngành. Trong công tác Hội, họ là lãnh đạo và như bề trên thân tình của gia đình kiến trúc, tuổi hơn 70, cần có lực lượng kế tục.

Vì thế Đại hội III là dấu mốc mang ý nghĩa chuyển giao thế hệ một cách rõ ràng, nghĩa tình. 53 Ủy viên BCH TW Hội giai đoạn này hầu hết ở tuổi 40-50, đại diện hầu hết các cơ sở địa phương trên toàn quốc. Hệ thống tổ chức Hội KTS được thay đổi để thích hợp với thời kỳ này. KTS Huỳnh Tấn Phát được giao phụ trách kiêm nhiệm Hội KTS. Điều lệ Hội phải cơ cấu lại, có Đoàn Chủ tịch và Chủ tịch Hội, do KTS Huỳnh Tấn Phát đảm nhiệm, có Ban Cố Vấn, để điều hành trực tiếp hoạt động Hội có Ban Thư ký và Tổng Thư ký do KTS Nguyễn Trực Luyện đảm nhận.

Cũng tại đại hội này, Đoàn KTS được đổi tên thành Hội KTS Việt Nam. Thời kỳ ấy, đại hội các Hội mấy khi được lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước tới dự. Đây là lần đầu tiên, đại hội một Hội nghề nghiệp được chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (sau này là Thủ tướng Chính phủ) Phạm Văn Đồng đến huấn thị.

Từ Đại hội III, Hội KTS Việt Nam chuyển từ lĩnh vực thuộc quản lý của ngành xây dựng sang lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật dưới sự lãnh đạo của Ban Bí thư TW Đảng thông qua Ban Văn hóa – Văn nghệ TƯ (sau là Ban tư tưởng – Văn hóa trung ương). Thiên thời, địa lợi đã có, trong định hướng của mình, Hội đã chú trọng và khuyến khích KTS, vận động xã hội quan tâm đến giá trị nghệ thuật của lĩnh vực này, để từ phương châm thiết kế – “đẹp trong điều kiện có thể”… chuyển sang những yêu cầu “Thích nghi – Bền vững – Kinh tế – Mỹ quan” của giai đoạn mới.

Sau đại hội III, sự hồ hởi của KTS trong hành nghề cũng như các tổ chức Hội, hoạt động Hội được “tiếp lửa” trong suốt cả nhiệm kỳ cũng như giai đoạn tiếp theo đó. Nhiều cuộc thi sáng tác kiến trúc được tổ chức, các KTS Việt Nam tham gia các cuộc thi quốc tế đạt được kết quả cao.

Nhiều cuộc hội thảo bàn về nghệ thuật kiến trúc làm rõ hơn đường lối của Đảng ở Đại hội IV, Đại hội VI về phát triển kiến trúc “Coi trọng nghệ thuật kiến trúc vừa dân tộc, vừa hiện đại giản dị…”, “Phát triển nghệ thuật kiến trúc xã hội chủ nghĩa có tình hiện đại và dân tộc….” Kiến trúc được làm rõ và dần hiểu rõ là một lĩnh vực nghệ thuật, đã là nghệ thuật thì tính chất sáng tạo được xác nhận, từ đó dần rõ nét hơn trong quá trình vận hành cũng và như quản lý theo hướng tư tưởng trên.

Đại hội lần thứ III thực sự là một dấu ấn của lịch sử hoạt động Hội KTS Việt Nam. Những định hướng chiến lược của nhiệm kỳ này vẫn được tiếp tục kế thừa và phát triển hoàn thiện cho đến nay.

Hơn 30 năm đã trôi qua, mà như mới ngày nào. Nghĩ lại, không khỏi ngưng đọng khoảnh khắc vì không ít đồng nghiệp đã gác kiếm trở về với đất mẹ. Hội KTS Việt Nam đã nhiều năm đồng hành và trở thành “mái nhà chung” của giới nghề như thế.

KTS. Nguyễn Thúc Hoàng 

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 7/2017)