1. Đặt vấn đề
Đô thị hóa gắn với phát triển bền vững đang là xu hướng tất yếu của các đô thị Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong số các địa phương đi đầu về quá trình này, Quảng Ninh là một trường hợp có tính đại diện cao. Từ một tỉnh công nghiệp khai thác than lớn nhất cả nước, gắn liền với mô hình tăng trưởng “nâu” dựa trên khai thác tài nguyên, Quảng Ninh đã từng bước chuyển sang mô hình phát triển “xanh”, lấy chất lượng đô thị và quản trị thông minh làm trục xuyên suốt.
Mô hình phát triển đô thị của Quảng Ninh được kiến tạo đồng thời dựa trên bốn trụ cột có quan hệ tương hỗ: Đô thị xanh, đô thị thông minh, đô thị sinh thái và đô thị đáng sống. Đây không phải là bốn hợp phần tách biệt mà là bốn kịch bản của cùng một chiến lược phát triển tổng thể, trong đó mỗi trụ cột vừa là điều kiện, vừa là kết quả của các trụ cột còn lại.
Ngày 01/09/2026, Nghị quyết số 36/2026/QH16 của Quốc hội về thành lập thành phố Quảng Ninh chính thức có hiệu lực, đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển của Quảng Ninh. Đây không chỉ là một sự kiện hành chính, mà còn là một mô hình phát triển đô thị có thể tham chiếu cho các địa phương khác. Đồng thời, sự kiện này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhận diện, hệ thống hóa các yếu tố nền tảng, định hướng chiến lược và thách thức của quá trình kiến tạo đô thị Quảng Ninh theo mô hình xanh, thông minh, sinh thái và đáng sống.
2. Định hướng chiến lược phát triển đô thị Quảng Ninh
2.1. Đô thị xanh thông qua chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển không gian cảnh quan
Quảng Ninh có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ khai khoáng sang phát triển công nghiệp chế biến – chế tạo, dịch vụ, du lịch, logistics, kinh tế biển, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn. Song song đó, thành phố (TP) định hướng phát triển các khu công nghiệp sinh thái, khu công nghệ cao và khu phát thải ròng bằng 0 (net-zero) – Hướng tới mô hình cộng sinh công nghiệp giữa các doanh nghiệp và dịch vụ xanh; đưa tăng trưởng xanh trở thành trục xuyên suốt thay vì một chính sách bổ trợ. Về kết quả kinh tế, GRDP năm 2025 của Quảng Ninh tăng 11,89%, đưa quy mô nền kinh tế vượt mốc 368.000 tỷ đồng; sáu tháng đầu năm 2026, tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì trên 11%, cao hơn kịch bản đề ra. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi xanh không đánh đổi bằng suy giảm tăng trưởng, mà ngược lại đi kèm với hiệu quả kinh tế được duy trì ổn định.
Là trung tâm khai thác than lớn nhất cả nước, Quảng Ninh từng đối diện với các giới hạn cố hữu của mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, đó là: Suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên và rủi ro phụ thuộc vào một ngành kinh tế duy nhất. Nhận diện sớm những giới hạn này, tỉnh đã triển khai quá trình tái cấu trúc không gian và kinh tế theo hướng “xanh hóa”, trong đó nhiều khu vực từng gắn với khai thác than được cải tạo thành công viên, không gian xanh và khu đô thị mới. Điển hình như quy hoạch phân khu 4 tại các phường Hà Lầm, Hà Trung, Hà Tu, Hà Phong, Hà Khánh thuộc TP Hạ Long trước đây, chuyển đổi chức năng từ khai thác than sang khu đô thị dịch vụ, với tổng diện tích gần 4.200ha. Trong đó chú trọng giải pháp bảo tồn và phát triển không gian vùng cảnh quan theo hướng hoàn nguyên phục hồi môi trường và bảo tồn rừng ngập mặn.

2.2. Đô thị thông minh thông qua quản trị số
Điểm đặc thù trong mô hình phát triển đô thị của Quảng Ninh hiện nay là quan điểm coi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cùng vận hành và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình xây dựng đô thị thông minh. Các ngành kinh tế mới được ưu tiên phát triển gồm: Kinh tế số, kinh tế dữ liệu, logistics thông minh, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và tự động hóa, tạo nền tảng cho hệ thống quản trị đô thị dựa trên dữ liệu.
Về mặt hạ tầng, hệ thống giao thông và không gian đô thị được quy hoạch đồng bộ theo mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng hiện đại (TOD), với tuyến đường sắt Hạ Long – Móng Cái đóng vai trò trục “xương sống” kết nối toàn đô thị. Cách tiếp cận tích hợp số – xanh có ý nghĩa quan trọng. Đô thị thông minh không được xây dựng như một lớp hạ tầng công nghệ phủ lên bề mặt đô thị truyền thống, mà được thiết kế đồng thời với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát thải thấp. Ngay cả các đơn vị hành chính ở vị trí địa lý bất lợi như đặc khu Cô Tô cũng được đưa vào diện đầu tư hạ tầng số đồng bộ; phản ánh nỗ lực bảo đảm tính bao trùm về không gian của quá trình chuyển đổi số. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, sự thiếu hụt chuyên gia, kỹ sư công nghệ cao và một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh đang là điểm nghẽn lớn đối với mục tiêu xây dựng đô thị thông minh.
2.3. Đô thị sinh thái thông qua quy hoạch không gian gắn với bảo tồn hệ sinh thái
Theo Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 được duyệt, cấu trúc không gian phát triển được tổ chức theo 03 hành lang phát triển và 05 trung tâm động lực, gồm: Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Quảng Yên và Di sản Yên Tử, Vịnh Hạ Long. Khu vực phía Đông được định hướng trở thành động lực tăng trưởng mới dựa trên kinh tế cửa khẩu, trong khi khu vực phía Tây tập trung phát triển mô hình đô thị di sản, phát huy giá trị văn hóa – lịch sử và hệ sinh thái đặc thù. Mô hình quy hoạch đa cực, phân tán chức năng theo lợi thế so sánh của từng tiểu vùng cho phép giảm áp lực tập trung dân số và hạ tầng lên một số khu vực có giá trị sinh thái nhạy cảm. Các cực đô thị được tổ chức xung quanh các đầu mối giao thông, tăng cường mật độ và dịch vụ theo nguyên tắc phát triển định hướng giao thông công cộng TOD. Phát triển hạ tầng chiến lược, xanh, thông minh, phát triển hạ tầng tích hợp đa phương thức, mang đặc thù đô thị biển đảo.
Tính chất “sinh thái” của mô hình đô thị Quảng Ninh được thể hiện rõ nhất ở yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng và bảo đảm sức bền của hệ sinh thái – đặc biệt có ý nghĩa đối với Quảng Ninh khi địa bàn TP bao trùm các khu vực có giá trị đa dạng sinh học và di sản thiên nhiên đặc biệt như Vịnh Hạ Long. Định hướng chiến lược của Quảng Ninh là phát triển xanh, bảo vệ và phát huy giá trị đa dạng sinh thái đồi rừng, biển đảo, thích ứng chống chịu với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững. Việc phát triển kinh tế biển bền vững, du lịch sinh thái, năng lượng sạch và kinh tế tuần hoàn cũng được xác định là nền tảng để thích ứng với biến đổi khí hậu trong dài hạn, thay vì chỉ dừng ở mục tiêu tăng diện tích cây xanh hay công viên đô thị.
2.4. Đô thị đáng sống nâng cao chất lượng sống và công bằng xã hội
Bên cạnh các thúc đẩy tăng trưởng về kinh tế, chiến lược phát triển công nghệ và sinh thái, quá trình phát triển đô thị của Quảng Ninh dành sự quan tâm đáng kể cho các yếu tố xã hội: Đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, cùng việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phát triển hài hòa giữa các vùng, miền. Về mặt lý luận phát triển đô thị bền vững, đây là biểu hiện của việc dịch chuyển thước đo thành công từ các chỉ số tăng trưởng kinh tế đơn thuần sang các chỉ số phúc lợi xã hội và chất lượng sống – phù hợp với xu hướng quốc tế trong đánh giá tính “đáng sống” của đô thị, vốn không chỉ dựa trên cơ sở vật chất mà còn dựa trên khả năng tiếp cận dịch vụ công, mức độ công bằng xã hội và chất lượng môi trường sống.
Việc Quảng Ninh đáp ứng đầy đủ 7/7 tiêu chuẩn để thành lập TP (tỷ lệ đô thị hóa đạt 81,23% năm 2025, cao hơn nhiều so với ngưỡng tối thiểu 45% theo quy định) là điều kiện cần về mặt hạ tầng và quản trị, song tính đáng sống của một đô thị còn phụ thuộc vào khả năng phân phối công bằng các thành quả phát triển giữa các khu vực trung tâm và ngoại vi, giữa đô thị và các đơn vị hành chính có vị trí địa lý khó khăn hơn như đặc khu Cô Tô… Sự phân tán giữa các cực phát triển như Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái, Quảng Yên được giải quyết bằng cơ chế điều phối vùng hiệu quả nhằm giảm nguy cơ tạo ra chênh lệch về chất lượng sống giữa các khu vực trong cùng một đô thị thuộc mô hình phát triển của Quảng Ninh.
3. Giải pháp thúc đẩy phát triển thành phố Quảng Ninh theo hướng đô thị xanh, thông minh, sinh thái và đáng sống
3.1. Mối quan hệ tương hỗ giữa bốn trụ cột
Mô hình đô thị Quảng Ninh vận hành theo nguyên tắc tương hỗ chặt chẽ giữa các trụ cột chiến lược: Đô thị xanh cung cấp nền tảng tài nguyên và không gian cho đô thị sinh thái; đô thị thông minh cung cấp công cụ quản trị và giám sát nhằm hiện thực hóa các mục tiêu xanh và sinh thái; đô thị đáng sống là thước đo cuối cùng phản ánh mức độ thành công của 03 chiến lược xanh, sinh thái và thông minh đối với đời sống người dân.
Tuy nhiên, Quảng Ninh cũng đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc, bao gồm: Phân tán không gian phát triển, khoảng trống nhân lực công nghệ cao, áp lực nâng chuẩn phát triển lên tầm khu vực, và yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng với bảo tồn hệ sinh thái di sản. Đây là những điểm nghẽn xuyên suốt cả bốn trụ cột, đòi hỏi được giải quyết đồng thời thay vì theo từng hợp phần riêng lẻ trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
3.2. Điều chỉnh cơ chế chính sách phát triển đô thị Quảng Ninh phù hợp xu hướng và điều kiện mới
Để phát triển hài hòa giữa các trụ cột, Quảng Ninh cần chú trọng đầu tư một số chính sách chiến lược cho giai đoạn phát triển tiếp như sau:
- Tăng cường cơ chế điều phối liên vùng giữa các trung tâm động lực (Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Quảng Yên, và di sản Yên Tử, Vịnh Hạ Long) cần có cơ chế điều phối liên vùng nhằm hình thành chuỗi giá trị kinh tế khép kín, tránh phát triển phân tán, trùng lặp và chồng lấn về chức năng và nhiệm vụ;
- Đầu tư chiến lược vào nguồn nhân lực công nghệ cao thông qua hợp tác với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, thu hút chuyên gia quốc tế và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại địa phương;
- Thiết lập bộ chỉ số giám sát tính bền vững đô thị (môi trường, phát thải, chất lượng sống) song song với các chỉ số tăng trưởng kinh tế, làm cơ sở đánh giá định kỳ hiệu quả của mô hình phát triển;
- Bảo đảm hài hòa giữa phát triển hạ tầng và bảo tồn hệ sinh thái di sản. Sự cân bằng giữa phát triển hạ tầng với bảo vệ và phát huy giá trị hệ sinh thái di sản là cơ sở cốt lõi phát triển đô thị sinh thái. Đặc biệt tại các khu vực có giá trị đặc biệt như Vịnh Hạ Long, thông qua đánh giá tác động môi trường chặt chẽ và cơ chế giám sát độc lập.
4. Kết luận
Quảng Ninh là đô thị có nhiều lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên ưu đãi. Chiến lược phát triển TP Quảng Ninh theo mô hình xanh, thông minh, sinh thái và đáng sống không chỉ nhằm phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy giá trị di sản thiên nhiên; mà còn đáp ứng mưu cầu xã hội, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững trước những biến thiên bất thường của tự nhiên. Chiến lược này không chỉ thể hiện rõ vai trò và vị thế của tỉnh, tầm nhìn chiến lược của cán bộ lãnh đạo; mà còn là sự đồng lòng của cộng đồng xã hội cho mục tiêu phát triển Quảng Ninh trở thành đô thị hạnh phúc.
Quá trình kiến tạo TP Quảng Ninh theo mô hình xanh, thông minh, sinh thái và đáng sống là bài học có giá trị cho các đô thị Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thành công bước đầu của Quảng Ninh không chỉ nằm ở việc đáp ứng các tiêu chuẩn hành chính mà quan trọng hơn, nằm ở cách tiếp cận tích hợp giữa chuyển đổi kinh tế, quy hoạch không gian, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng sống như những trụ cột đồng thời, thay vì quá trình thực hiện tuần tự.
THS.KTS Đỗ Xuân Điệp
Giám đốc Sở Xây dựng Quảng Ninh
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2026)
Tài liệu tham khảo
– Hữu Việt (31/12/2025): Những kết quả nổi bật trong phát triển KT-XH năm 2025, Báo Quảng Ninh điện tử, https://baoquangninh.vn/tit-trang-dau-an-trong-phat-trien-kt-xh-nam-2025-post3390838.html;
– Kim Cương (22/06/2026): Quảng Ninh kiến tạo đô thị hiện đại, xanh, thông minh trong “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, Báo Nhân Dân điện tử, https://nhandan.vn/quang-ninh-kien-tao-do-thi-hien-dai-xanh-thong-minh-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-post970807.html;
– Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1123/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075;
– Quốc hội (2026), Nghị quyết số 36/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam về việc thành lập TP Quảng Ninh.





















