Có hay không một cá tính Kiến trúc nhà ở hiện đại Hà Nội – Bài 2

Tiếp theo phần 1: Có hay không cá tính kiến trúc hiện đại Hà Nội? – Bài 1

Xây dựng nhà ở Hà Nội thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa: công nghiệp hóa sáng tạo, công nghiệp hóa bản sắc?

Hà Nội vốn được biết đến trước Đổi mới là một thành phố của công nhân, viên chức, công chức Nhà nước với các loại hình nhà ở bao cấp được sản xuất và cung ứng bởi các doanh nghiệp quốc doanh dưới chính sách kế hoạch hóa nhà ở của các ngành, địa phương. Chính quyền và các nhà thiết kế đã phải viện nhờ đến những mô hình cư trú từ các nước XHCN để kiến tạo các khu ở thông qua quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở “Thích dụng, bền vững, thẩm mỹ, kinh tế”. Nhà ở được sản xuất công nghiệp một cách “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” hàng loạt thay vì sản xuất thủ công nghiệp riêng lẻ như trước đây đã tạo nên “Cuộc cách mạng” về quan điểm kiến tạo nhà ở mà Hà Nội trở thành một trong những địa phương tiên phong về những thử nghiệm như vậy. Những khái niệm “tiền chế”, “lắp ghép”, “tiêu chuẩn hóa”, “thiết kế điển hình”… xuất hiện nhiều hơn trong lĩnh vực sản xuất nhà ở.

Quá trình công nghiệp hóa đã giúp Hà Nội bổ sung thêm một lượng lớn nhà ở vào quỹ nhà ở đô thị nhưng lại đặt thành phố trước một vấn đề mới: Việc sản xuất hàng loạt có tạo nên một kiến trúc tốt và có bản sắc khi mô hình này được nhập khẩu từ các nước khác? Nói cách khác, tính bản địa thể hiện thế nào trong quá trình công nghiệp hóa sản xuất nhà ở hay là chấp nhận sự đứt gãy kiến trúc, chấp nhận một loại hình kiến trúc “phi nơi chốn”, “phi bản sắc” để đổi lấy những giá trị vật chất đáp ứng nhu cầu cấp bách về chỗ ở?

20A01041-01

Thực tế cho thấy, bản sắc nhà ở công nghiệp hóa, kế hoạch hóa trước Đổi mới không thể hiện nhiều qua những thiết kế ban đầu (thậm chí những thiết kế này còn thể hiện sự “xa lạ” hơn cả kiến trúc thuộc địa trước đây) mặc dù các yếu tố kiến trúc bản địa đã được các nhà thiết kế nỗ lực đưa vào. Những khu nhà tập thể – sản phẩm chính của thời kỳ này – lại được “nổi tiếng”, biết đến nhiều với việc khai thác sử dụng thực tế bởi chính người dân. Họ biến những thứ kiến trúc khô cứng, công nghiệp thành những không gian “mềm dẻo” rất thủ công bằng những “tái sáng tạo” của chính họ nhằm cải biến, thích ứng không gian. Hình ảnh nguyên gốc những ngôi nhà tập thể đã bị “lẩn” ra sau những “kiến trúc mới” được “bình dân hóa” bởi người dân tạo ra một hình ảnh đặc trưng cho các khu tập thể gắn liền với những “chuồng cọp”, “lồng chim”, “bồn nước”… Nói cách khác, kiến trúc nhà ở kiểu công nghiệp đã trở thành cái nền để làm nảy nở những sáng tạo thủ công của các chủ sở hữu, chủ sử dụng nhằm cá tính hóa nhà ở theo nhu cầu sử dụng và hoàn cảnh thực tế của mỗi cá nhân nhưng vẫn đảm bảo sự đồng thuận tập thể.

20A01041-02

Tuy nhiên, dưới góc độ khác, chính sự “cứng nhắc” của công nghiệp hóa và nguyên lý hóa thiết kế theo quy chuẩn lại khiến những khu vực nhà ở này lại có “đặc trưng” riêng ngay từ đầu, nhất là khi nhìn trên không ảnh thành phố. Những tòa nhà tập thể chạy song song, cách đều nhau bởi những khoảng không gian cây xanh nằm giữa các tòa nhà đã tạo nên một cảm giác và tinh thần không gian “khác lạ” khi so sánh với những khu dân cư kế cận xung quanh. Dưới những tán cây là tất cả những hoạt động sống ngoài trời đa dạng và phong phú tạo nên sự tấp nập, nhịp nhàng của đời sống đô thị ngay chính trong đơn vị ở. Nói cách khác, “tinh thần” của các nhà tập thể không chỉ gói gọn vào không gian bên trong ngôi nhà mà thể hiện thông qua sự tương tác giữa ngôi nhà và không gian xung quanh ở nhiều cấp cao độ khác nhau.

Nhu cầu hiện đại hóa bản sắc kiến trúc nhà ở Hà Nội từ sau 1986

Chính sách Đổi mới một lần nữa đã làm thay đổi diện mạo của nhà ở đô thị Hà Nội. Mất khoảng hơn 10 năm, từ 1986 đến 1996, Hà Nội loay hoay tìm con đường riêng để phát triển nhà ở đô thị, mà lúc này chủ yếu “trông chờ” và “cậy nhờ” vào khu vực nhà ở tư nhân khi khu vực nhà nước gần như rút lui trong việc cung ứng nhà ở. Bởi vị thế thủ đô, người Hà Nội cho thấy sự năng động của mình thông qua mong muốn đa dạng hóa kiểu dáng ngôi nhà của họ vì đó đôi lúc còn là những “biểu tượng” hay “tuyên ngôn” thẩm mỹ của mỗi gia đình. Nền kinh tế bao cấp đã trói buộc việc cải thiện ngôi nhà của họ trong một thời gian dài, vì vậy nền kinh tế mở đã khiến họ trở thành những người nhanh nhạy và cởi mở bằng cách tiếp nhận, thử nghiệm nhiều kiến trúc mới để định hình nên phong cách nhà ở Hà Nội. Chẳng hạn như trào lưu kiến trúc “em ơi Hà Nội chóp” của những năm đầu thập kỷ 90 đặc trưng bởi các loại mái chóp hỗn tạp khác nhau xuất hiện đồng loạt trong thành phố thường được giải thích bởi sự mong muốn “cá tính hóa” ngôi nhà sau một thời gian dài nhà mái bằng (hay còn gọi là “nhà hộp”) lên ngôi nhưng lại còn thiếu tri thức về kiến trúc (Phạm Thanh Hà, 1996). Hay sau đó lại thịnh hành kiểu kiến trúc nhại cổ, giả cổ: nhiều kiến trúc nhà ở xây mới nhưng lại tái hiện hình thức xưa cũ rặt các chi tiết “kiến trúc Pháp cổ”, “kiến trúc cổ điển Hy-La”… với “ban công bụng chửa”, “thức cột, cửa vòm, con tiện”, “mái măng-sác”… Và với mỗi “cơn dịch làm khác” trong kiến trúc nhà ở đó thì vùng tâm dịch luôn là Hà Nội và tác nhân làm lây lan dịch không chỉ là người dân vốn thiếu tri thức về thẩm mỹ kiến trúc mà ngay cả các kiến trúc sư “thừa” hiểu biết cũng tham gia và thúc đẩy.

20A01041-03

Đây cũng là thời gian đánh dấu sự nở rộ kiểu nhà tư nhân chạy dọc các trục phố mới mở của Hà Nội với chiều rộng mặt tiền phổ biến 4-5m, chiều sâu 15-20m tạo nên các mảnh đất khoảng 60-100m2 cùng cấu trúc không gian phổ biến là 2 lớp phòng ở trước và sau kẹp cầu thang và khu WC vào giữa, cao 4-5 tầng, trong đó tầng 1 thường dành cho việc kinh doanh buôn bán, các tầng giữa để ở và tầng trên cùng gọi là “tầng tum thang” dành cho sân vườn và phơi phóng, ban công chạy suốt chiều dài mặt nhà và hệ thống cửa gỗ sơn đen là những đặc trưng chính của loại nhà này. Thường được gọi là “nhà chia lô” hay “nhà lô phố”, được người dân ưa chuộng vì “có đất có trời”, đây còn được xem là một kiểu “nhà ống” mới của Hà Nội với chiều sâu được rút ngắn lại rất nhiều, còn chiều rộng được tăng lên so với nhà ống truyền thống trong khu phố cổ. Gần một thập kỷ, loại nhà này như là “cứu cánh” cho kiến trúc nhà ở Hà Nội khi việc bao cấp nhà ở chấm dứt nhưng lại chưa tìm được mô hình sản xuất nhà ở nào phù hợp. Mặc dù thế, loại nhà này lại chưa hẳn nhận được sự chấp nhận hưởng ứng trong suốt 10 năm tiếp theo, đặc biệt là đối với giới chuyên môn về kiến trúc và đô thị bởi lý do chúng góp phần “băm nát mặt đứng đường phố”. Mãi đến năm 2005, Bộ Xây dựng mới chính thức ban hành tiêu chuẩn thiết kế cũng như tên gọi chính thức “nhà liên kế” cho loại nhà ở này.

Vào giai đoạn sau, đặc biệt là những năm gần đây, nhà liên kế đã được đầu tư sáng tạo nhiều hơn trong việc đa dạng hóa cách thức tổ chức cấu trúc không gian bên trong lẫn thẩm mỹ mặt đứng bên ngoài. Các trào lưu kiến trúc của nhà liên kế được thử nghiệm để phá bỏ “công thức thiết kế” trước đây của loại hình nhà ở này. Có thể kể đến trào lưu vintage – khai thác những yếu tố “kiến trúc cũ” (kiến trúc truyền thống, kiến trúc thuộc địa hay kiến trúc thời kỳ bao cấp) được làm mới trong bối cảnh hiện tại cùng những vật liệu đương đại đã tạo nên nét thú vị cho ngôi nhà. Đặc biệt hơn khi trào lưu này kết hợp cùng với việc đưa cây xanh, thiên nhiên vào bên trong mỗi ngôi nhà tạo ra những “khoảng thở” càng làm tinh thần sáng tạo kiến trúc rõ ràng hơn, đem lại một bản sắc mới trong xử lý không gian nhà phố.

Bên cạnh khu vực nhà ở dân tự xây, những năm cuối thập kỷ 90, một mô hình kiến tạo nhà ở mới cũng xuất hiện dựa trên những thay đổi quan điểm về giá trị đất đai, chia sẻ quy hoạch và cung ứng nhà ở theo dự án: nhà ở trong các khu đô thị mới (KĐTM) với 3 loại hình phổ biến: chung cư, biệt thự và nhà liên kế đi cùng các dịch vụ tiện ích công cộng cấp cơ sở tạo nên những môi trường cư trú kiểu “đơn vị ở” khép kín. Đáng chú ý nhất trong các loại hình nhà ở cung ứng bởi các dự án KĐTM là nhà chung cư và biệt thự khi đã “phổ thông hóa” được chúng vào đời sống xã hội. Sự xuống cấp các khu tập thể đã làm cho người Hà Nội dần “ác cảm” với nhà chung cư và các KĐTM đã thay đổi được quan điểm đó khi chuyển hình thái kiến trúc từ nhà tập thể dạng thanh dài đồng nhất 5 tầng thành những chung cư mới dạng tháp, cao phổ biến khoảng 9-12 tầng trong thời gian đầu xuất hiện và hiện nay là 25-30 tầng cùng với những yếu tố kiến trúc hay trang thiết bị mới như thang máy, ống đổ rác, tầng hầm… Nhà biệt thự, sau gần nửa thế kỷ không được phát triển bởi việc đề cao tính “quân bình chủ nghĩa” trong cung ứng nhà ở, thì giờ đây được phát triển trở lại nhằm đáp ứng nhu cầu về một loại nhà ở cao cấp ngay trong lòng đô thị.

20A01041-04

Các KĐTM cũng góp phần “hiện đại hóa” không gian đô thị, đặc biệt là khu vực đô thị mới mở rộng trên các vùng đất nông nghiệp ven đô trước đây. “Cảnh quan thành phố đã thay đổi đáng kể, với việc xây dựng các tòa nhà chọc trời ở các khu đô thị mới bên ngoài phố cổ, đáng chú ý nhất ở phía tây của thành phố” (DivyaLeducq, Helga-JaneScarwell, 2018). “Mạng lưới đô thị hiện hữu mà người dân tự nhận dạng nhanh chóng được thay thế bằng một thành phố “hiện đại”, một hình thức đô thị mới không quen thuộc với hầu hết cư dân của thành phố” (Stephanie Geertman, 2010).

Sau những “say sưa” về kiến tạo giá trị vật chất mới cho thành phố, trước những ảnh hưởng bởi tính cạnh tranh trong thị trường bất động sản do xu hướng toàn cầu hóa, các KĐTM đang được chú trọng nhiều hơn vào tổ chức môi trường ở có tính “nhận diện riêng biệt”. Tuy nhiên, với những KĐTM nằm trong khu vực đô thị (mở rộng) của Hà Nội, đôi lúc những biểu hiện “nhận diện riêng biệt” đó lại mang tới những ý nghĩa tiêu cực trong cảm nhận của cộng đồng và xã hội, tác động biến đổi cấu trúc không gian tổng thể khu vực, đặt ra những thách thức đối với việc tạo lập bản sắc cho KĐTM (Lê Xuân Hùng, 2016). Do đó, các KĐTM ngày càng chú ý hơn về:

  • Thay đổi cách tiếp cận về mỹ cảm và thị hiếu không gian: Các khu nhà ở trong KĐTM ban đầu chú trọng nhiều đến thị cảm hình học thông qua hình khối và độ cao công trình dẫn đến 2 “công thức” tổ chức không gian phổ biến (1) cao ở ngoài, thấp ở trong hoặc ngược lại (2) thấp ở ngoài, cao ở trong. Về sau, yếu tố hình thức đã dần được xử lý “mềm dẻo” hơn, biến đổi đa dạng hơn, chú ý đến thị hiếu, thị trường hơn, các yếu tố về địa hình (ao, hồ, đồi, núi…) đã được tận dụng để giúp kiến trúc có “biểu cảm” và “tình cảm” hơn;
  • Chuyển dần từ chú trọng duy nhất giá trị vật chất sang cân bằng với các giá trị phi vật chất: ban đầu hầu hết các KĐTM chỉ quan tâm vào phát triển nhà ở, đa dạng các mẫu nhà bán chạy bởi việc “buộc phải” gắn với mục đích của nhà đầu tư về khía cạnh thương mại, bán nhanh, thu hồi vốn nhanh. Vì vậy, các hạ tầng xã hội không được quan tâm, thường được đầu tư sau, bị chiếm dụng hoặc thậm chí biến đổi thành các chức năng “thương mại” khác. Nhưng thực tế cho thấy, những KĐTM hấp dẫn và đáng sống, có bản sắc là những khu vực hoàn chỉnh và đồng bộ cả 2 yếu tố vật chất (phần “xác”) và phi vật chất (phần “hồn”).

Sự xuất hiện ồ ạt và hàng loạt các KĐTM đã làm cho loại nhà ở trong các dự án trở nên khó khăn hơn trong việc tiếp cận khách hàng nếu không tạo được bản sắc riêng, được xem như một “giá trị gia tăng” phi vật chất cho khách hàng bên cạnh việc cung ứng các giá trị vật chất. Từ đó, những biến thể của các KĐTM ra đời dựa trên việc khai thác và đáp ứng thị hiếu của các phân khúc và phân loại người tiêu dùng khác nhau (Trần Minh Tùng, 2018). Điển hình như các khái niệm về KĐTM sinh thái, KĐTM khép kín, KĐTM thông minh… ngày càng trở nên phổ biến hơn tạo nên những cá tính riêng biệt. Chính những thử nghiệm hay tích hợp các hướng tiếp cận mới đã làm nhà ở Hà Nội ngày càng đa dạng hơn, có màu sắc hơn, hợp thời hơn và cũng vị lai hơn. Nhà ở cũng khoác thêm một giá trị thặng dư khi nó trở thành một loại hàng hóa đặc biệt lưu thông trên thị trường.

Kết luận

Như vậy, bức tranh tổng thể nhà ở hiện đại Hà Nội có vẻ như được tạo nên từ nhiều miếng ghép nhỏ tích lũy vào theo thời gian tạo nên sự hỗn tạp bởi tính khác biệt, đứt gãy về kiến trúc của các loại hình nhà ở bởi những hoàn cảnh xuất hiện khác nhau nhưng lại cùng đồng tồn tại trong một khu vực lãnh thổ tập trung. Quay trở lại với quan niệm “bản sắc là cái khác biệt để phân biệt với những yếu tố khác” thì có thể khẳng định rằng nhà ở hiện đại Hà Nội rõ ràng là có bản sắc, có khác biệt với những thành phố khác cho dù sự khác biệt đó nhận được sự phản hồi là tích cực hay tiêu cực. Bản thân các loại hình nhà ở hiện đại hiện hữu tại Hà Nội đều có ở các thành phố khác, tuy nhiên, do sự tập trung dân cư và mật độ xây dựng cao, Hà Nội trở thành mảnh đất màu mỡ hơn các thành phố khác trong việc thử nghiệm và phát triển các loại hình nhà ở, tạo nên những cách thức kiến tạo hay những biến thể riêng của mình. Có thể thấy bản sắc kiến trúc nhà ở hiện đại Hà Nội thể hiện qua những mảnh ghép nhỏ trong bức tranh đa sắc, đa phong cách:

  • Những ngôi nhà ống trong khu phố cổ được “Pháp hóa”, sau đó được “tập thể hóa” tạo nên sự bất ngờ thú vị trong hình thái kiến trúc nhà ở dưới ảnh hưởng của giao lưu văn hóa, chính sách đô thị cũng như thích ứng cuộc sống;
  • Những biệt thự Pháp với sự đa dạng phong cách ảnh hưởng từ bên ngoài nhưng lại được điều biến bản địa thể hiện những cách ứng xử kiến trúc linh hoạt. Đôi lúc, với một số biệt thự, những lãng mạn trong kiến trúc tạo hình lại được thực tế hóa bởi nhu cầu sử dụng mới gây nên bởi quá trình “tập thể hóa”, mặc dù hiện đang gây khó khăn cho nhà quản lý trong việc xử lý các vấn đề nhà ở đa chủ thể, nhưng đã tạo nên một kiểu cư trú “không giống ai”;
  • Những khu tập thể đi cùng với các nhà tập thể nghèo nàn và đơn điệu về kiến trúc nguyên gốc nhưng lại hấp dẫn về “thần thái” bởi các hoạt động sống bên ngoài các công trình lẫn những cách thức mở rộng không gian, tự cải thiện nhu cầu ở dựa trên những thỏa thuận “ngầm” giữa các chủ thể, đảm bảo quyền lợi các cá nhân lẫn tập thể, tạo nên một văn hóa không gian cư trú đặc thù của Hà Nội;
  • Những khu đô thị mới đang loay hoay đi tìm bản sắc trong nỗ lực trật tự hóa, bền vững hóa quá trình sản xuất nhà ở chuyển từ các hoạt động tự xây riêng lẻ của người dân sang cung ứng hàng loạt và kiểm soát chặt chẽ chất lượng bởi các dự án tạo ra một trào lưu “nhà ở mới” ở Hà Nội với các từ khóa thường được nhắc đến như “hiện đại”, “tiện nghi”, “đồng bộ”…

20A01041-06

Lịch sử Hà Nội từ xưa đến nay, từ vinh quang đến đau khổ, luôn diễn ra giữa hai thế giới Á, Âu. Nhìn lại quãng thời gian đầy biến động của Hà Nội trong khoảng hơn một thế kỷ trở lại đây, rõ ràng do hoàn cảnh, thành phố chưa có đủ thời gian và điều kiện cần thiết để xác lập hệ giá trị kiến trúc và kiến trúc nhà ở cho riêng mình khi chịu ảnh hưởng nhiều từ các tư tưởng ngoại lai. Tuy nhiên, người dân cũng như các nhà thiết kế luôn mong muốn cải biến để thích ứng với cuộc sống theo cách riêng của mỗi gia đình, mỗi cá nhân. Đến khi “thoát” khỏi những tư tưởng đó, gần như chưa có sự chuẩn bị, một lần nữa các xu hướng, trào lưu kiến trúc thế giới lại ùa vào cùng với sự mở cửa, hội nhập dẫn đến Hà Nội và các thành phố khác của Việt Nam càng “chới với” trong việc tạo dựng bản sắc kiến trúc nhà ở hiện đại, nói cách khác, tìm ra được những giá trị “truyền thống mới” nhằm bản địa hóa (localization) kiến trúc nhà ở trong bối cảnh toàn cầu hóa (globalization). Để dung hòa và kết hợp được hai quá trình tưởng chừng trái ngược nhau này như trong thuật ngữ mới xuất hiện gần đây “glocalization” được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu khi ghép 2 quá trình trên lại với nhau, Hà Nội, rõ ràng là có lợi thế cả về bề dày văn hóa lịch sử lẫn vị thế và tầm ảnh hưởng bởi đặc thù địa chính trị của mình để tại nên một “văn hóa kiến trúc nhà ở” cho riêng mình cũng như góp phần định hướng cho các địa phương xung quanh.

TS.KTS. Trần Minh Tùng
ThS.KTS. Nguyễn Thùy Dương
Bộ môn Kiến trúc Dân dụng, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường Đại học Xây dựng

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2019)