Có một cuộc sống đã quên mình trong cuộc sống

Sáng nay dậy sớm, lên súc cái bể tắm cho bọn trẻ, mấy hôm mưa chúng không bơi, đầy nước và lá rụng, tôi nhặt được mấy con ốc hình cúc áo không biết từ đâu sinh ra. Ngó ra bên dưới, trên túm dây leo, mấy quả trứng trong cái tổ chim chào mào đã nở tự lúc nào, và dường như còn sắp ra ràng. Không phải rừng, không phải thôn quê, không phải công viên, không biệt thự, mà ở cái căn nhà phố trong hẻm nhỏ, chật chội, tù túng và đông đúc, không hiểu sao lũ chim vẫn có thể đến và dựng nhà.

Điều đó làm tôi nhớ và muốn viết gì đó về ông, Mansanobu Phukuoka.

Thực lòng tôi không muốn viết qúa nhiều về người Nhật trên trang của mình, nó, đôi khi làm khó chịu cho người muốn xem, như một món ăn cứ nhét mãi, ngon lắm rồi cũng hóa nhàm. Tôi cũng không biết nên gọi ông là một nông dân “lười biếng”, một “thiền sư” hay một nhà “tư tưởng”. Nhưng tôi chắc chắn một điều, ông là người tôn trọng tự nhiên nhất trong số những người mà tôi đọc được ở trên thế giới này.

Ông khởi xướng và dùng cả cuộc đời mình miệt mài với nó, trên nguyên tắc hạn chế tối đa sự can thiệp của con người vào tự nhiên. Không cày xới đất canh tác, không có phân bón, không có thuốc bảo vệ thực vật, không làm cỏ và không cắt tỉa, tạo cho cây trồng phát triển một cách tự nhiên nhất có thể. Nông nghiệp tự nhiên giúp tối đa hạn chế và ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước, biến dạng đa dạng sinh học và xói mòn trong khi vẫn cung cấp lương thực phong phú cho con người.

Nếu thế giới này tuân thủ nguyên tắc của ông, thì tất cả các nhà máy sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, máy nông nghiệp đều phải đóng cửa. Nền công nghiệp phụ trợ phục vụ sản xuất nông nghiệp đều phải chết, các nhà hóa học sẽ mất đi một thị phần to lớn giúp họ nghiên cứu tàn phá tự nhiên, và con người sẽ ít bị đe dọa hơn bởi những bệnh tật bắt nguồn từ thức ăn có quá nhiều dư lượng hóa chất. Thế giới sẽ quay về như thời động cơ hơi nước chưa ra đời vào thế kỉ 18. Thế giới đó, con người tồn tại như một con vật trong tự nhiên, hài hòa với tự nhiên, nương vào tự nhiên mà sống, chứ không phải tàn phá đi những gì tự nhiên ban tặng, nhân danh những phát minh và khám phá để phục vụ cho tư lợi của mình, rồi chết đi trong bệnh tật với một mớ thuốc men và chất hóa học.

Nhưng. Ngay cả ở trên đất nước của ông. Các nhà khoa học. Các nhà nghiên cứu. Các vị giáo sư khả kính. Chỉ đến. Xem. Hỏi chào. Và rời đi. Bởi nếu làm như ông, họ hoàn toàn không còn giá trị gì nữa. Bởi nguyên lí của ông rất đơn giản và trái ngược xu thế hiện đại, chỉ cần yêu tự nhiên và tôn trọng nó. Mỗi thân cây, mỗi ngọn cỏ, mỗi con sâu, tất cả đều có giá trị tương hỗ trong cộng đồng tự nhiên. Việc của con người, không phải là một dị vật toàn năng, chỉ là hãy trở thành một phần trong đó, khiêm nhường, quan sát, và nương tựa để tìm cách sống chung.

Con người đã đến, đã tàn phá, đã gieo rắc chiến tranh và thù hận, đã tự mình làm tổn thương và gây đau khổ cho chính mình và đồng loại. Sáng tạo lớn nhất của con người là tàn phá và càng ngày càng gây khó khăn hơn cho cuộc sống tương lai của con cháu chính họ.

Họ xây dựng phố xá, sáng tạo ra phương tiện đi lại, làm ra điện để chạy máy móc giúp tiết kiệm sức lao động. Nhưng lại không biết khi nào thì nên ngừng. Càng cố gắng cải tạo môi trường thích nghi với mình để cuộc sống dễ dàng và tiện lợi hơn, con người đó lại biến mọi thứ rắc tối hơn, đắt đỏ và khó tiếp cận hơn.

Họ bắt buộc phải cho con cái đến trường từ 18-23 năm để học, để biết cách sinh tồn trong hệ sinh thái phức tạp và nguy hiểm mà họ đã tạo ra. Họ từ chối thích nghi với môi trường tự nhiên. Họ phải thích nghi với những gì họ đã tạo ra. Buổi sáng họ phải ra khỏi môi trường gia đình từ 7h30 để hòa mình vào môi trường khác đến tối mịt mới trở về nhà trong mệt mỏi.

Tôi nhớ, một nông dân Thái đã nói, “Bốn nhu cầu cơ bản của loài người là: thức ăn, nhà ở, quần áo và thuốc men. Nó phải thật rẻ và dễ tiếp cận với loài người. Đó là văn minh.”

Tức là nếu bạn khiến 4 thứ này khó khăn hơn và rất khó để mọi người có thể tiếp cận, thì đó là phản văn minh.

Bạn có nhận ra mọi thứ xung quanh chúng ta nay đều thật khó để có. Chúng ta có quá nhiều người tốt nghiệp đại học, có quá nhiều trường đại học khắp thế giới, có quá nhiều người thông minh trên thế giới. Nhưng cuộc sống lại ngày càng khó khăn và khó khăn hơn.

Vậy ta đã làm khó nó cho ai?

“Loài chim làm tổ trong một hoặc hai ngày.
Loài chuột đào hang trong một đêm.
Nhưng loài người ưu việt như chúng ta phải mất 30 năm để có một căn nhà và nhiều người không thể tin rằng họ có thể có một mái nhà trong cuộc đời này.”

Đọc ông, biết về cuộc đời ông, tôi hiểu được một điều. Không phải tư tưởng và văn chương đã xoá nhoà nổi đau của nhân loại, mà chính là cây cỏ. Sẽ chẳng ai nhìn thấy sự thảm khốc của một cuộc chiến trên triền đồi năm xưa, nếu nơi đó giờ cây đã mọc xanh tươi và gọi mời lời ca từ chim chóc. Chúng luôn hiến dâng những mảng màu và âm thanh làm nhạt nhoà mọi vết thương và những nổi bi ai đau đớn, như muôn thuở thái bình.

Tôi đã từng thấy đâu đó, một nghĩa trang chỉ hơi có chút uốn lượn được bọc bởi một màu của cỏ xanh mướt như chở che cho những cây thánh giá trắng toát xếp hàng. Cảm giác như những người chết được sống trong vĩnh hằng, thanh thản, bằng an trong bàn tay chở che của chúa. Nhưng nếu không có cỏ xanh, hàng hàng lớp lớp cây thánh giá trắng đó nằm trơ trọi trên đất nâu, thì sẽ chẳng ai thấy chúa trời đâu ngoài nỗi đau xé lòng và nổi buồn muôn thuở của nhân loại trước sự mất mát đó. Chính cỏ cây, chứ không phải chúa, đã hiến dâng sắc màu của mình cho người sống được thấy thanh bình từ bãi tha ma, và người đã chết được ấm áp khi che mình bởi áo cỏ.

Có một cuộc sống đã quên mình trong cuộc sống. Tôi đã thấy nó nhiều lần trên một dòng sông.

Đó là nơi con sông nhỏ xuôi mình chảy về xuôi. Trên sông nơi tôi hay đi qua luôn có mấy con thuyền. Trên con thuyền luôn có ít nhất một người còn sống. Người giặt áo rồi phơi. Người tay gõ mạn thuyền tay thả lưới. Người cầm sào chống thuyền như không muốn nó đi nhanh, mà có vẻ như đang hãm để nó trôi thật chậm. Đôi kẻ nằm gác chân lên mạn thuyền ầu ơ ru con hoặc nằm như đang ngủ.

Bên sông có một bãi ngô. Bãi ngô đó bốn mùa đều có hai màu lá. Dù xuân hạ thu đông thì luôn có một thửa ruộng vàng phai màu nắng và một thửa thẩm xanh nâng đỡ những ngọn hoa ngô màu nâu đang vươn mình cho cây trổ hạt. Chúng gần như sống ngoài thiên hạ và loài người, mặc cho ai qui ước rằng phải mùa thu lá vàng mới được rụng, rằng phải mùa xuân cây mới nẩy lộc đơm hoa.

Mọi thị phi đúng sai phải trái hơn thua được mất thành bại vinh nhục đều theo thời gian rơi xuống như lá ngô vàng rồi theo mưa hoá thân vào đất lạnh. Chỉ có cỏ cây vươn mình vẫn sống, luôn ngước ngọn đến phía trên cao nơi có mặt trời, như thái bình muôn thuở.

Giờ đây. Khi mùa thu tới, em có thấy lá vàng bay không?
Còn tôi. Đã thấy nó nhiều lần trên một dòng sông. Có một cuộc sống đã quên mình trong cuộc sống. Như cỏ cây.

Lê Dũng – TCKT.VN
© Tạp chí kiến trúc