1. Giới thiệu
Ở những vùng khí hậu nhiệt đới ẩm như Việt Nam, kiến trúc không chỉ là câu chuyện tường, mái và không gian, mà là cuộc đối thoại với ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và nhịp điệu tự nhiên. Những trải nghiệm như ngồi dưới bóng mát mái hiên, tựa lưng trên tường gạch hay ngửi mùi gỗ cũ đều gợi ra sự giao hòa, đối thoại cảm xúc giữa con người, vật chất, ký ức và “bầu khí quyển” cảm xúc (atmosphere) sống động quanh ta. Không gian vì thế không phải khoảng trống vô cảm, mà là môi trường thấm đẫm cảm xúc và lịch sử. Tri thức dân gian đã tạo dựng ngôi nhà cổ truyền thích ứng khí hậu với vật liệu địa phương gần gũi; tận dụng gốc tre đầu cổng, cây gỗ trong vườn, tảng đất sét đáy ao, vỉa đá ong sườn đồi… để hình thành chu trình xây dựng gần gũi, thân thiện với tự nhiên. Ngược lại, đô thị hóa hiện nay đang đẩy ngành xây dựng vào quỹ đạo tuyến tính của khai thác – tiêu thụ – thải bỏ, nơi bê tông, kính, thép công nghiệp chiếm ưu thế và cắt đứt sự gắn bó với “văn hóa vật liệu” địa phương.
Bản kế hoạch Hành động Quốc gia về Kinh tế tuần hoàn của Chính phủ đến năm 2035 khẳng định yêu cầu cấp thiết của tái chế và tái sử dụng trong xây dựng. Nhưng nếu chỉ nhìn dưới lăng kính kỹ thuật hay chính sách, ta có thể sẽ bỏ qua giá trị hiện tượng học của vòng tuần hoàn vật liệu trong kiến trúc: Tái sử dụng không chỉ đơn thuần đổi hướng khỏi bãi thải chôn lấp, mà còn mang lại ký ức, văn hóa và sự đồng cảm với khí hậu. Khi kết nối chính sách từ trên xuống với những hoạt động thiết kế từ dưới lên, tái chế vật liệu trong kiến trúc và nội thất có thể trở thành việc biểu đạt văn hóa, không chỉ là giải pháp kỹ thuật. Bài viết này sẽ sử dụng lý thuyết hiện tượng học và các ví dụ kiến trúc nhiệt đới để cho thấy: Tái chế vật liệu và xây dựng thích ứng có thể kiến tạo không gian nội thất sinh thái, giàu cảm xúc và mang đậm dấu ấu địa phương.
2. Hiện tượng học của kiến trúc nhiệt đới, vật liệu tái chế trong vòng tuần hòan
Hiện tượng học có thể được xem như khái lược về kinh nghiệm ý thức, nhấn mạnh đến trải nghiệm sống động của con người thay vì những chỉ số trừu tượng. Theo Merleau-Ponty (2002), nhận thức của con người là hiện thể (perception is embodied) – Kiến trúc không chỉ được nhìn thấy mà còn được con người chạm, ngửi, nghe và ghi nhớ. Juhani Pallasmaa (1996, 2007) cũng nhắc nhở chúng ta rằng về bản chất trải nghiệm kiến trúc là đa giác quan: Không gian được cảm nhận qua làn da, chân tay, tai và mũi cũng như qua mắt. Ở các vùng khí hậu nhiệt đới ẩm như Việt Nam, những chiều kích giác quan này được tăng cường, nhấn mạnh những cảm giác thường trực, hàng ngày trên cơ thể chúng ta – Cái nóng rát bám chặt vào da, độ ẩm làm không khí dường ngột ngạt hơn, làn gió nồm Nam mát rượi ngày hè, mùa mưa phóng đại cái cảm nhận bầu không khí âm thanh, và sự giãn nở, cong vênh của vật liệu… Kiến trúc nhiệt đới, vì vậy, được “cảm” bằng cơ thể trước cả khi được “thấy” bằng mắt. Tim Ingold (2017) đưa ra khái niệm “lưới kết nối” (meshwork), chỉ ra mối quan hệ đan xen giữa con người, vật chất và môi trường. Theo đó, kiến trúc không phải một thực thể bất biến, mà là quá trình thương thảo liên tục giữa cơ thể người sử dụng, vật liệu và điều kiện khí hậu. Cách hiểu này mở rộng phạm vi của kinh tế tuần hoàn: Không chỉ là vấn đề kỹ thuật của tái chế và hiệu quả vật liệu, mà còn là hiện thân của thời gian và ký ức văn hóa. Vật liệu được tái sử dụng không chỉ để kéo dài vòng đời, mà còn lưu giữ ký ức và “bầu khí quyển” của không gian. Một thanh gỗ tái dụng có thể mang dấu vết mặn mòi muối biển từ một con thuyền đánh cá; viên gạch tái sử dụng trong biệt thự thời Pháp gợi mở ký ức mơ màng về thuở hào hoa đô thị cũ; hay bộ bàn ghế thời bao cấp dùng lại trong quán cà phê có thể gợi nhớ về bối cảnh kinh tế xã hội của một giai đoạn lịch sử khó khăn… Từ những năm 1970, phản ứng trước các mô hình quy hoạch “xóa trắng” của Chủ nghĩa Hiện đại, đồng thời trong bối cảnh phong trào bảo tồn, môi trường và sự lo ngại về năng lượng, một hướng tiếp cận mới đã hình thành: Tái sử dụng và bảo tồn công trình hiện hữu, đồng thời cho phép biến đổi để duy trì sự liên tục (Lanz & Pendlebury, 2022). Trong tiến trình này, khả năng đồng cảm khí hậu trở thành cầu nối then chốt cho hoạt động tái sử dụng thích ứng. Ở kiến trúc nhiệt đới, điều đó thể hiện qua các vật liệu quen thuộc đã “sống” cùng khí hậu: Gỗ cũ thấm ẩm, tấm đan mây tre đưa gió mát vào phòng. Trong tác phẩm “Bầu khí quyển” (Atmosphere), Zumthor (2006) mô tả sức mạnh cảm quan của kiến trúc, nơi vật liệu có khả năng tương tác vô hạn, tạo nên một cảm thức đặc biệt về sự hiện diện; những điều chỉ đạt được qua trải nghiệm và thời gian. Gian triển lãm Thụy Sĩ tại World Expo 2000 của ông với tạo ra một trải nghiệm đa giác quan, cho phép người xem cảm nhận tiếng gió lùa qua khe gỗ, mùi hương tự nhiên và sự yên tĩnh như đang ở trong một khu rừng tự nhiên. Từ góc nhìn này, ánh sáng và bức xạ nhiệt không phải kẻ thù cần ngăn chặn, mà có thể được “dàn dựng” thành phần biểu diễn sinh động. Lam chắn nắng, gạch thông gió tái chế hay cánh cửa chớp cũ trở thành đạo cụ cho vở diễn của ánh sáng, bóng đổ, làm bừng sáng bầu khí quyển nội thất bằng sự đan xen giữa tĩnh lặng và sinh động. Khi đó, bầu khí quyển trở thành một dạng thức mới thể hiện tính bền vững: Nơi nuôi dưỡng sự gắn bó của con người với nơi chốn, giảm phụ thuộc vào các hệ thống kiểm soát khí hậu tiêu tốn tài nguyên. Triết lý thẩm mỹ Wabi-sabi của Nhật Bản đề cao ý nghĩa tích cực, chỉ sự giản dị, mộc mạc, khiêm tốn và sự đủ đầy về mặt tinh thần khi thoát khỏi ràng buộc vật chất. Những dấu vết của thời gian, sự không hoàn hảo trong vật liệu là thứ mang lại vẻ đẹp và giá trị sâu sắc cho một vật thể (Rognoli & Karana, 2014). Từ đó, triết lí Wabi-shabi chỉ ra khía cạnh tự nhiên của độ bền vững của vật liệu không phải là sự vĩnh cửu mà là khả năng “già đi” một cách duyên dáng của vật liệu trong các hoàn cảnh khí hậu và văn hóa tự nhiên của nó.
Như vậy, tái sử dụng tuần hoàn vật liệu không chỉ dừng ở một mô hình kỹ thuật, mà còn mở ra một hệ sinh thái văn hóa, nơi ký ức và nhận thức cùng định hình không gian kiến trúc. Trong bối cảnh đó, góc nhìn hiện tượng học đặt con người vào trung tâm, nhấn mạnh trải nghiệm cảm quan, chiều sâu thời gian và sự hòa điệu với khí hậu. Vật liệu tái tạo, tái sử dụng trở thành tác nhân trung gian, mang lại sự thoải mái, bầu không khí sinh động và gợi vang âm hưởng văn hóa trong kiến trúc.
3. Tái sử dụng vật liệu trong kiến trúc: “Triệu hồi” và diễn giải lại quá khứ
Thiết kế tái sử dụng vật liệu trong kiến trúc nhiệt đới không chỉ dừng lại ở những thử nghiệm rời rạc mà đã hình thành các dạng thức và cách tiếp cận gắn liền với hoạt động đời thường trong công trình kiến trúc, tạo ra tinh thần nơi chốn và trải nghiệm cảm quan sâu sắc. Công trình Bảo tàng lịch sử Ninh Ba của KTS Wangshu sử dụng hàng triệu viên đá, gạch, ngói cũ được thu gom từ các tòa nhà bị phá dỡ trong quá trình đô thị hóa. Các vật liệu này được xây dựng bằng kỹ thuật truyền thống địa phương đã đánh thức kí ức truyền thống về đô thị. Tương tự như vậy là công trình Bảo tàng Đạo Mẫu của KTS Nguyễn Hà được xây dựng với hàng nghìn viên gạch cũ, ngói cổ từ những ngôi nhà đã bị phá. Những vật liệu này gợi lại bầu không khí cảm xúc thâm nghiêm, trầm mặc cũng truyền tải những thông điệp đầy ý nghĩa nhân văn của tín ngưỡng dân tộc cho người tham quan. Ngôi nhà 2HIEN ở Tây Ninh của Creative Architects cho thấy cách ngói cũ từ căn nhà đã xây trước được tái sử dụng để khơi dậy ký ức và cảm giác thân thuộc trong không gian gia đình. Kết hợp với tường gạch thô không trát, lớp ngói cũ phủ màu thời gian mang lại cảm giác thân thuộc, bình yêu của gia đình.
Những phế liệu từ Xưởng đóng tàu Ba Son được KTS Nguyễn Hòa Hiệp, văn phòng A21, sử dụng sáng tạo trong các thiết kế của mình. Những thanh kèo thép, ngói cũ, xích sắt mỏ neo, cọc gỗ gia cố nền sứt sẹo được hồi sinh lại trong không gian nội thất Khách sạn The Myst, kể lại những chuyện về một thủa kể lại câu chuyện bi hùng về một di tích lịch sử của Sài Gòn xưa. Triển lãm Tay nắm cửa là những phế liệu được KTS Nguyễn Hòa Hiệp biến tấu gợi nhớ đến câu nói của Pallasmaa (1996) “Tay nắm cửa là cái bắt tay của ngôi nhà. Cảm nhận xúc giác kết nối chúng ta với thời gian và truyền thống; thông qua ấn tượng của việc cầm chạm, ta dường được như nắm tay với vô vàn thế hệ trước”. Những vật liệu tái chế trong Saigon House cũng của anh đã tạo ra một không gian kiến trúc có thể kể cho con cháu của người chủ nhà về những kỷ niệm gắn với ngôi nhà, để họ trân trọng nơi mình đã lớn lên.
Cửa chớp vốn có nguồn gốc từ quá trình thích ứng điều kiện khí hậu của thời thuộc địa, đến nay đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của kiến trúc địa phương. Những cửa chớp này rất phổ biến ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua nhờ khả năng thông gió của chúng. Công trình Vegan House của KTS Đặng Đức Hòa tái sử dụng những cánh cửa chớp nhiều màu sắc, tạo ra một sắc diện mộc mạc, thống nhất từ bên ngoài đến nội thất bên trong công trình. Màu sắc đa dạng của các cánh cửa nên sự nổi bật cho công trình, hòa hợp với những món đồ cũ của gia chủ thu thập trong nhiều năm (Lê, 2016). Tất cả tạo nên cảm xúc về một không gian văn hóa truyền thống xưa cũ. Tương tự như vậy là công trình Collage House của S+PS Architects là một bức tranh chắp ghép độc đáo, lấy cảm hứng từ chính sự hỗn hợp của bối cảnh đô thị Mumbai (Archdaily, 2016). Mặt đứng công trình được tạo thành từ vô số các cánh cửa sổ và cửa ra vào cũ, thu thập từ những ngôi nhà bị phá dỡ khắp thành phố. Sân trong công trình được kết hợp giữa các ống kim loại vừa là cột kết cấu, vừa là ống thoát nước mưa. Tất cả kết hợp đồng thời tạo nên một tác phẩm điêu khắc độc đáo.
Những ví dụ trên còn cho thấy việc sử dụng tuần hoàn của vật liệu trong kiến trúc nhiệt đới là một quá trình tái định dạng chức năng. Ngói cũ thành vật liệu che phủ mặt đứng hoặc vật liệu xây dựng phần thân, gỗ thuyền biến thành đồ nội thất, cửa chớp tiếp tục làm trung gian khí hậu. Nhờ đó, sử dụng tuần hoàn không chỉ là chính sách hay kỹ thuật, mà thấm vào đời sống thường nhật, duy trì một bầu không khí và nghi thức văn hóa. Các công trình kể trên, qua những vật liệu được tái chế, đã góp phần đưa con người quay lại với những gì dường như đã trở thành ký ức, mang lại hơi thở lịch sử, mà không “Bảo tàng hóa” không gian kiến trúc.
4. Hướng về một tương lai tuần hoàn trong sử dụng vật liệu kiến trúc nội thất
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh, thiết kế tuần hoàn nổi lên như một định hướng tất yếu của kiến trúc nhiệt đới, vừa đáp ứng nhu cầu sinh thái, vừa đảm nhiệm vai trò gìn giữ văn hóa. Thông qua việc tái sử dụng vật liệu, cải tạo thích ứng và kế thừa tri thức thủ công, nó tạo nên những không gian giàu ký ức và cảm xúc, đồng thời gợi mở một bản sắc kiến trúc địa phương mới.
Tuy vậy, các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng và vật liệu thường ưu tiên bê tông, thép và kính sản xuất công nghiệp. Các vật liệu tái sử dụng thường chỉ được sử dụng trong các công trình quy mô nhỏ, thiếu đi một quy định tiêu chuẩn kiểm định kỹ thuật để có thể đưa vào các dự án quy mô lớn. Bên cạnh đó là nhận thức của xã hội. Nhiều khách hàng, nhà quản lý và thậm chí đôi là khi là KTS đồng nhất “cái mới” với cái hiện đại và cái tốt, trong khi “cái đã qua sử dụng” thường đồng nghĩa với “cái rẻ tiền” hoặc “lạc hậu”. Vượt qua định kiến không phải việc đơn giản, mà đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong cách nhìn nhận, định giá giá trị của chúng ta – Không dựa trên tính mới lạ, mà trên độ bền, cảm xúc và hiệu năng. Những điều này phần nào lại đi ngược lại với tư duy phát triển và tiến bộ hiện đại.
Trong bối cảnh đó, dù còn vấp phải rào cản về quy chuẩn kỹ thuật, định kiến thị trường và nhận thức xã hội, xu hướng này đã bắt đầu được thể chế hóa qua Kế hoạch hành động Quốc gia về Kinh tế tuần hoàn 2022 – 2035. Tuy nhiên, nếu chỉ giới hạn ở khía cạnh kỹ thuật hay hiệu quả năng lượng, thì chúng ta có thể bỏ qua những khía cạnh tiềm năng vật liệu tái tạo; như trải nghiệm cảm quan, bảo tồn kiến thức truyền thống và sự kết nối cộng đồng. Lý thuyết hiện tượng học vì vậy cung cấp một nền tảng lý thuyết quan trọng để gắn kết giữa kỹ thuật và ký ức, đổi mới và truyền thống, toàn cầu và địa phương. Đây cũng là con đường để kiến trúc Việt Nam phát triển một cách bền vững, nhân bản và giàu ý nghĩa trong bối cảnh những thách thức môi trường và xã hội ngày càng gia tăng.
KTS Nguyễn Mạnh Trí
Nhóm Lý thuyết và Lịch sử Kiến trúc, Đại học Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2025)
Tài liệu tham khảo
- Archdaily (2016, August 11): Collage House / S+PS Architects – Archdaily. https://www.archdaily.com/786059/collage-house-s-plus-ps-architects
- Ingold, T (2017): On human correspondence – Journal of the Royal Anthropological Institute, 23(1), 9–27. https://doi.org/10.1111/1467-9655.12541
- Lanz, F., & Pendlebury, J (2022): Adaptive reuse: A critical review – The Journal of Architecture, 27(2–3), 441–462. https://doi.org/10.1080/13602365.2022.2105381
- Lê, T. (2016, August 11): Vegan House [Block Architects] – Tạp chí Kiến trúc. https://www.tapchikientruc.com.vn/sang-tac/vegan-house-block-architects.html
Merleau-Ponty, M (2002). Phenomenology of perception: An introduction – Routledge. - Pallasmaa, J (1996). The eyes of the skin: Architecture and the senses (01-0418247). Academy Editions; Ariane. http://ariane.ulaval.ca/cgi-bin/recherche.cgi?qu=01-0418247
- Pallasmaa, J (2007): Embodied Experience and Sensory Thought – Educational Philosophy and Theory, 39(7), 769–772. Ariane Articles. https://doi.org/10.1111/j.1469-5812.2007.00374_2.x
- Rognoli, V., & Karana, E (2014): Toward a New Materials Aesthetic Based on Imperfection and Graceful Aging – In Materials Experience (pp. 145–154). Elsevier. https://doi.org/10.1016/B978-0-08-099359-1.00011-4
- Zumthor, P (2006): Atmospheres: Architectural environments, surrounding objects. Birkhäuser.






















