Tổng quan về lý thuyết nơi chốn trong thiết kế Đô thị

Sự hình thành lý thuyết nơi chốn trong thiết kế đô thị
Việc thực hành, sáng tạo nơi chốn (hoặc địa điểm – place) có lẽ đã bắt đầu từ khi con người biết xây dựng nơi ăn chốn ở cho bộ lạc của mình. Và từ đó, theo lịch sử phát triển và suy tàn của những đô thị và những triều đại, những nơi chốn sinh ra rồi mất đi theo thời cuộc, như số phận của đời người. Nhưng lý thuyết hiện đại về nơi chốn có lẽ chỉ được hình thành từ khoảng giữa thế kỷ XX với sự mở màn của triết gia người Đức Martin Heidegger, người có ảnh hưởng rất lớn đến các trào lưu triết học chủ đạo hiện nay như hiện tượng học (phenomenlogy), hiện sinh luận (existentialism) và giải kiến tạo (deconstruction). Lý thuyết về nơi chốn là một phần quan trọng trong các tác phẩm viết về hiện tượng học của ông như Vấn đề của hiện hữu (The question of Being – 1958), Thơ, ngôn ngữ, tư tưởng (Poetry, language, thought – 1971)… Tư tưởng của Heidegger đã ảnh hưởng lớn đến các nhà địa lý nhân văn (như Yi-Fu Tuan, Edward Relph…) và các KTS (như Christian Norberg-Schulz, Aldo Rossi, Christopher Alexander, Peter Zumthor…) Dần dần, những nghiên cứu về địa lý, kiến trúc và đô thị dưới góc nhìn của hiện tượng học dù ít hay nhiều đã ảnh hưởng tới hầu hết các xu hướng thiết kế đô thị hiện nay, đặc biệt là trào lưu kiến tạo nơi chốn (hoặc kiến tạo địa điểm – placemaking) với những đại diện tiêu biểu như Jane Jacobs, Kevin Lynch, Gordon Cullen, Roger Trancik, Christopher Alexander, William H. Whyte, Allan Jacobs, Fred Kent…
Tuy nhiên, sự hình thành lý thuyết nơi chốn trong thiết kế đô thị không chỉ do ảnh hưởng của hiện tượng học mà còn do sự phản kháng lại mô hình đô thị hiện đại của Le Corbusier với cách tiếp cận được cho là mang tính hình thức, duy lý, hệ thống và không thân thiện. Những người xây dựng lý thuyết nơi chốn tập trung vào những giá trị mang tính cảm xúc và tinh thần của đô thị như bản sắc, lịch sử, đa dạng, thân thiện, sống tốt. Họ cũng chuyển hướng nghiên cứu, không chú trọng quy hoạch toàn đô thị, mà quan tâm đến những dự án, những địa điểm cụ thể như một không gian công cộng, một góc phố. Họ cho rằng kiến thức về đô thị cần được thu thập thông qua việc quan sát hoạt động và phản ứng của người dân trong các nơi chốn đô thị. Ý tưởng của họ là phải tạo ra những không gian hữu cơ, thân thiện, có thể đi bộ, và đa dạng công năng. Họ đặc biệt nhấn mạnh việc phải hiểu được mối quan hệ mật thiết giữa những hình thái đô thị và các yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội, tự nhiên đã tạo nên chúng. Họ tập trung vào phân tích những yếu tố cụ thể của đô thị như độ lớn của tòa nhà, chiều rộng của đường, cách tổ chức không gian công cộng. Bằng việc chú tâm vào quy mô nhỏ như khu ở, họ hướng sự quan tâm của các nhà quy hoạch vào những cảm xúc cá nhân của người dân đô thị. Trên cơ sở đó, họ phát triển phương pháp quy hoạch đô thị từ dưới lên (trong khi phương pháp của Le Corbusier được gọi là từ trên xuống). Ví dụ, Christopher Alexander đã công kích cách phân chia các chức năng khu biệt của đô thị theo phương pháp quy hoạch đô thị hiện đại, vốn coi đô thị như một đối tượng khoa học và có hệ thống kiểu như cấu trúc hình cây. Thay vào đó, ông đưa ra một ngôn ngữ mới cho đô thị, gọi là ngôn ngữ kiểu mẫu, có khả năng thích ứng trong các bối cảnh đô thị khác nhau và liên hệ mật thiết với nhu cầu, cảm xúc con người. Trong tác phẩm “Một ngôn ngữ kiểu mẫu”, Alexander đưa ra 253 kiểu mẫu với những tên gọi là những khung cảnh nơi chốn gần gũi với người dân đô thị như “ban công”, “nơi chốn linh thiêng”, “chốn cửa sổ”, “quán bia”, “cafe đường phố”, “chữa lành nơi chốn”…

Góc nhìn đa ngành về nơi chốn
“Nơi chốn” trong hiện tượng học
Khái niệm “nơi chốn” trong triết học có ý nghĩa khá trừu tượng và là một vấn đề nền tảng của hiện tượng học, nó được hình thành từ sự tương tác va chạm giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người với thế giới. Theo Heidegger: “Nơi chốn được khám phá bởi mối quan hệ giữa các chiều kích của bản thể học và chính trị học. Con người được bao bọc trong nơi chốn với hai chiều là ngang và dọc. Chiều ngang được xác định bởi mối quan hệ chính trị của anh ta. Chiều dọc là chiều ẩn giấu cái độc nhất hiện hữu, nhưng cũng đồng thời là nơi chốn của hiện hữu”. Nơi chốn đặt con người theo cách khám phá những rào cản bên ngoài của hiện sinh và đồng thời khai mở chiều sâu của tự do và thực tại. Nơi chốn đặt con người trên một cái nền của sự tự ý thức về bản thân mình, nó xác nhận anh ta trong thế giới này theo cách độc nhất. Nói một cách nôm na, nơi chốn là cái môi trường xung quanh con người để con người xác định sự tồn tại của mình, để cảm thấy sự hiện hữu đặc biệt của mình.
Một khái niệm khác gần giống với nơi chốn, có liên quan nhiều tới kiến trúc và đô thị, được Heidegger nghiên cứu như là một đối tượng của triết học, đó là “chốn ở” (dwelling). Chốn ở cũng là nơi cho sự hiện hữu của con người, cho cảm giác của một thực thể có sinh có diệt trên mặt đất (tức không phải là thánh thần trên bầu trời). Con người sống và ở theo cách họ giữ gìn bốn yếu tố (mặt đất, bầu trời, con người, thánh thần) trong một hiện hữu chung. Và cách để một công trình xây dựng đô thị (tòa nhà, cầu, đường, quảng trường, hồ nước, cây xanh, cột điện, ghế đá…) trở thành một chốn ở thì nó phải đảm bảo sự hài hòa và thống nhất bốn yếu tố trên, nói cách khác là sự hiện hữu đồng thời của: Con người, nơi chốn, không gian và tinh thần.
“Nơi chốn” trong địa lý nhân văn
Nói về mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh nói chung và với các địa điểm đô thị nói riêng thì chúng ta không thể không tìm hiểu khái niệm nơi chốn dưới góc nhìn của địa lý nhân văn (humanistic geography) vì đó cũng chính là mục đích nghiên cứu của ngành khoa học này. Nhà địa lý người Mỹ gốc Hoa Yi-Fu Tuan (phiên âm Hán Việt là Đoạn Nghĩa Phu), một trong những người sáng lập ngành địa lý nhân văn, đã dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu về cảm giác của con người trước các vùng đất mà anh ta trải nghiệm như sự yêu mến nơi chốn (gọi là topophilia), sự sợ hãi nơi chốn (gọi là topophobia), sự nhớ mong quê hương, cảm giác về không gian an toàn, sự trốn chạy khỏi không gian… Theo Yi-Fu Tuan, nguyên gốc từ “nơi chốn” có hai ý nghĩa: Thứ nhất, là vị thế trong xã hội; thứ hai, là vị trí trong không gian. Ý nghĩa thứ nhất thuộc về xã hội học, còn ý nghĩa thứ hai thuộc về địa lý. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, ông thấy rằng nơi chốn vượt lên trên cả vị thế xã hội hay vị trí trong không gian, nó là chính nó với sự độc đáo riêng và có những quy luật riêng. Những vấn đề chính của nơi chốn bao gồm: Tinh thần của nơi chốn, cảm giác của nơi chốn, tính cá biệt, tính ổn định của nơi chốn, mối liên hệ giữa nơi chốn với không gian và thời gian. Về mặt quy mô, nơi chốn có thể nhỏ như một góc phòng nhưng cũng có thể lớn như cả trái đất. Và một điều gợi mở hơn cả của Yi-Fu Tuan đối với những nhà đô thị học là ông kết luận rằng: “thành phố cũng là một nơi chốn”. Tức là, một thành phố sẽ có tinh thần nơi chốn chung, bản sắc nơi chốn chung. Đó là một trong những vấn đề then chốt để xây dựng thương hiệu của một đô thị.
Nhà địa lý người Canada Edward Relph cũng có những nghiên cứu đáng chú ý về nơi chốn với những khái niệm thú vị như bản sắc của nơi chốn, cái chết của nơi chốn, bên trong và bên ngoài nơi chốn, tình trạng không nơi chốn (placelessness). Relph chỉ ra rằng: “Trong thời đại của chúng ta, ý thức chân thực của nơi chốn dần dần bị lu mờ bởi sự hủy hoại vô tình các địa điểm đặc biệt, cũng như bởi sự kiến thiết những cảnh quan được quy chuẩn hóa”, ông gọi đó là tình trạng không nơi chốn trong các đô thị hiện đại.
“Nơi chốn” trong lý luận kiến trúc
Nơi chốn là vấn đề cốt lõi trong hiện tượng học kiến trúc, thể hiện mối liên hệ hữu cơ giữa con người với công trình kiến trúc và môi trường xung quanh. KTS Christian Norberg-Schulz cho rằng: “Thiết kế kiến trúc nghĩa là làm cho tinh thần nơi chốn được hiển thị và nhiệm vụ của KTS là tạo ra những nơi chốn đầy ý nghĩa để giúp cho con người sống hạnh phúc”. Norberg-Schulz đã đánh giá lại lịch sử kiến trúc thế giới từ thời cổ đại và nhìn nhận vẻ đẹp kiến trúc cảnh quan của các đô thị (như Prague, Khartoum, Roma) dưới cái nhìn của lý thuyết nơi chốn, trong đó một phong cách kiến trúc chân chính đều có hình thức kiến trúc cụ thể hóa được ý nghĩa tồn tại của con người và góp phần tìm ra cơ sở mới để con người tồn tại tốt hơn.
Tiếp thu triết lý của Heidegger và quan điểm của Norberg-Schulz, một số KTS nổi tiếng hiện nay như Peter Zumthor và Steven Holl đã có các thể nghiệm cả lý thuyết lẫn thực hành thiết kế về hiện tượng học kiến trúc nói chung và tinh thần nơi chốn nói riêng. Zumthor cho rằng: “Trong quá trình thiết kế một công trình kiến trúc, có rất nhiều kinh nghiệm và kiến thức về nơi chốn đã biết tham dự vào, nhưng người KTS phải mạnh mẽ tự chủ để tạo ra một tác phẩm có có đặc trưng cá nhân, một nơi chốn có bản sắc. Người KTS cũng phải hòa mình vào tinh thần nơi chốn, cảm thấy mình là một phần của bản chất nơi chốn, chính lúc đó nơi chốn sẽ nói với anh ta rằng thế giới là một thể thống nhất”.

Sự liên quan và ảnh hưởng của lý thuyết nơi chốn trong các xu hướng thiết kế đô thị hiện nay
Về các xu hướng thiết kế đô thị đương đại, chúng tôi tạm thời đưa ra 5 xu hướng chính dưới đây. Dù ở mức độ ít hay nhiều, chúng đều có liên quan hoặc có sự ảnh hưởng từ lý thuyết nơi chốn; Đô thị tích hợp (intergral urbanism); Đô thị sinh thái (ecological urbanism); Đô thị nén, tăng trưởng thông minh (compact city, smart growth); Phát triển theo định hướng giao thông công cộng (transit-oriented development- TOD; Kiến tạo nơi chốn (placemaking)

Khu trung tâm mua sắm 16th St.Mall ở Denver, Mỹ được thiết kế theo triết lý kiến tạo nơi chốn.
Khu trung tâm mua sắm 16th St.Mall ở Denver, Mỹ được thiết kế theo triết lý kiến tạo nơi chốn.

Đô thị tích hợp
Xét về nguồn gốc thì xu hướng đô thị tích hợp được hình thành từ cuối thế kỷ XX, là hệ quả từ đô thị hậu hiện đại (postmodern urbanism). Nó nhấn mạnh 5 giá trị của đô thị là: Tính lai tạp, tính kết nối, tính xốp, tính chân thực, tính nhạy cảm. Tính lai tạp và tính kết nối mang con người hòa trộn vào các hoạt động của đô thị ở tất cả các mức độ. Tính xốp đảm bảo sự toàn vẹn của tất cả các thành phần trong đô thị, xóa bỏ ranh giới giữa chúng, đồng thời đưa các chức năng và các không gian đô thị lan tỏa sang nhau. Tính chân thực tạo ra các giá trị xã hội lành mạnh cho đô thị như sự quan tâm chia sẻ, ngưỡng mộ, tôn trọng… Tính nhạy cảm kêu gọi chúng ta từ bỏ thói quen chỉ đạo (chủ yếu dành cho những người quản lý đô thị) mà hãy lắng nghe người dân.

Xu hướng đô thị tích hợp cho chúng ta thấy rằng mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng đô thị rất được chú ý. Đó cũng chính là mối liên hệ giữa con người với nơi chốn, không gian, và môi trường xã hội quanh mình.

Đô thị sinh thái
Từ thời cổ đại cho tới nay, vấn đề môi trường sinh thái và phát triển bền vững đô thị luôn được quan tâm. Chúng ta có thể tìm thấy xu hướng đô thị sinh thái trong các tác phẩm của Hippocrates (Hy Lạp cổ đại), Vitruvius (La Mã cổ đại), Leon Battista Alberti (Phục hưng), Ebenezer Howard (Hiện đại). Ngày nay, trước mối đe dọa của biến đổi khí hậu và tốc độ đô thị hóa quá nhanh, xu hướng đô thị sinh thái lại trở nên cấp thiết và thời sự.

Thực ra, việc tạo dựng các đô thị sinh thái cũng chính là tạo ra nơi chốn có giá trị, tạo ra môi trường sống tự nhiên tốt hơn cho con người, để mỗi cư dân đô thị được khỏe mạnh hơn, có nhiều cảm xúc tốt hơn. Kevin Lynch cho rằng những đặc điểm tự nhiên của đô thị tạo ra bản sắc, tính liên kết, tính dễ tiếp cận của hình thái đô thị, đồng thời giúp con người dễ cảm nhận thấy tinh thần và ý thức của nơi chốn.

Đô thị nén
Xu hướng đô thị nén được hình thành từ những năm 1970, sau đó được áp dụng thành công ở các đô thị có mật độ cư dân cao như Portland, Canberra, Hong Kong, Singapore. Theo Dantzig và Saaty, đô thị nén là đô thị có mật độ định cư cao, ít phụ thuộc vào xe ô tô cá nhân, có ranh giới rõ ràng với các khu vực xung quanh, có khả năng tự cung cấp đầy đủ dịch vụ, sử dụng hỗn hợp đất đai một cách đa dạng tức là phát triển các khu vực đô thị đa chức năng (cư trú, làm việc, học hành, mua sắm và giải trí), để tạo điều kiện cho phần lớn người dân hàng ngày có thể đến các nơi cần thiết chỉ bằng đi bộ, xe đạp và giao thông công cộng.

Ở các đô thị nén, vì đi bộ và sử dụng giao thông công cộng là chính nên tính liên kết cộng đồng rất lớn. Bên cạnh đó, cảm giác và ý thức nơi chốn tại các công trình giao thông (vỉa hè, đường đi bộ, điểm dừng đỗ xe công cộng) rất dễ nhận ra.

Phát triển theo định hướng giao thông công cộng
Được hình thành từ những năm 1930 ở Hoa Kỳ, nhưng chỉ thực sự phát triển từ sau thế chiến II khi nó được sử dụng cho sự nở rộ của mô hình đô thị nhảy cóc (sprawl) ở Bắc Mỹ. Ngày nay, TOD được coi là yếu tố cốt lõi của đô thị phát triển bền vững, nhằm giảm tải tắc nghẽn giao thông và ngăn chặn sự bành trướng của đô thị bình thường thành các siêu đô thị. Nội dung cơ bản của TOD là lấy định hướng phát triển hệ thống giao thông công cộng làm cơ sở quy hoạch phát triển đô thị, lấy đầu mối giao thông làm điểm tập trung dân cư để từ đó hình thành tiếp hệ thống giao thông phân tán, đồng thời chú trọng tới bán kính phục vụ cho người đi bộ.

Xu hướng TOD có vai trò lớn trong việc bảo đảm ý thức và bản sắc nơi chốn cho toàn bộ đô thị. Bởi nếu đô thị bị quá tải và phình to quá mức nó rất dễ bị đánh mất bản sắc và tinh thần nơi chốn.
Kiến tạo nơi chốn

Kiến tạo nơi chốn là xu hướng thiết kế đô thị được ảnh hưởng nhiều nhất từ lý thuyết nơi chốn. Tất nhiên, nó cũng được hình thành đồng thời với những nghiên cứu lý thuyết nơi chốn trong đô thị, bắt đầu từ những năm 1970. Về cơ bản hiện nay, mục tiêu của kiến tạo nơi chốn là tạo ra những địa điểm đô thị với các yêu cầu:
– Mỗi nơi chốn có một đặc trưng, bản sắc riêng;
– Ở mỗi nơi chốn phải phân biệt được không gian công cộng và riêng tư;
– Xung quanh mỗi nơi chốn là những khu vực hấp dẫn người dân;
– Mỗi nơi chốn cần được đến và đi dễ dàng;
– Hình ảnh của nơi chốn cần dễ hiểu;
– Nơi chốn có thể thay đổi và thích ứng dễ dàng;
– Nơi chốn cần đa dạng và có nhiều lựa chọn

Lý thuyết nơi chốn ở Việt Nam
Hiện nay, lý thuyết nơi chốn trong kiến trúc, quy hoạch và thiết kế đô thị đã được giới thiệu ở Việt Nam và cũng đã có những nghiên cứu về nó. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và thực hành thiết kế vẫn chưa bài bản và chưa thể tạo thành một xu hướng để có thể ảnh hưởng tới giới KTS trong nước. Đó là sự đáng tiếc bởi nếu chúng ta nhìn lại truyền thống quy hoạch và thiết kế đô thị ở Việt Nam thì lý thuyết nơi chốn đã được sử dụng từ rất lâu, ví dụ như thuật phong thủy. Chúng ta hãy đọc lại “Chiếu dời đô” của Lý Thái Tổ để thấy rằng yếu tố nơi chốn đã ảnh hưởng thế nào tới quyết định lựa chọn Thăng Long – Hà Nội là kinh đô của nước ta:
“… Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.”

Một mặt là kinh nghiệm truyền thống được ẩn giấu trong những lớp ngôn từ huyền hoặc, một mặt là xu thế đương đại của thế giới, lý thuyết nơi chốn là thứ đáng để những người hoạt động trong lĩnh vực kiến trúc và đô thị ở Việt Nam quan tâm, nghiên cứu và thực hành.

KTS Vũ Hiệp
Đại học Giao thông vận tải