Triết lý kiến trúc nào cho Khu Hành chính tập trung cấp Tỉnh Thành?

Hiện đang có nhiều tranh luận về việc nên hay không nên xây dựng các toà nhà hành chính và các khu hành chính tập trung ở các tỉnh thành trên cả nước. Giới KTS nên nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Muốn hay không, những toà nhà hành chính tập trung từ vài chục ngàn mét vuông cho đến hàng trăm ngàn mét vuông sàn sử dụng cũng đã mọc lên ở Đồng Nai, Đà Nẵng, Bình Dương… Muốn hay không, những khu hành chính tập trung (HCTT) rộng vài chục ha cũng đã mọc lên ở Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng… Và đang có hàng loạt Khu HCTT nhiều tỉnh thành khác cũng đang trên đường chạy với vài chục mẫu đất trung tâm mỗi địa phương. Cá biệt, tỉnh Khánh Hoà đang dự kiến quy hoạch khu HCTT 126 mẫu… Có thể nói, vấn đề chạy đua xây dựng Khu HCTT cấp tỉnh, thành đã chính thức là một phong trào của cả nước. Ở góc độ phát triển chiến lược (đầu tư rất lớn và phát huy giá trị bền vững) đã ở tầm quốc gia. Đã đến lúc Quốc hội phải có tiếng nói chính thức, kịp thời về cuộc chạy đua này, về sự cần thiết, quy mô chuẩn, về triết lý kiến trúc của loại cơ quan công quyền này cũng như về những giới hạn cần đặt ra. Trước tiên, phải khẳng định rằng: Nếu chưa cần cấp bách phân định đúng – sai thì cũng phải cấp bách  tìm ra sự vừa phải, tính hiệu quả thực sự cho nhiều mặt giá trị của vấn đề xây dựng Khu HCTT. Dư luận, qua báo chí, đã và đang nóng lên về giá trị thiết thực của phong trào xây dựng các Khu HCTT hoành tráng của các Tỉnh, Thành. Giới KTS với vai trò trực tiếp trong việc xây dựng các Khu HCTT chắc chắn cũng phải có trách nhiệm góp tiếng nói bằng quan điểm chính thống về những giá trị kiến trúc quy hoạch Khu HCTT.

Trung tâm Hành chính tập trung Tỉnh Bình Thuận
Trung tâm Hành chính tập trung Tỉnh Bình Thuận

1. Triết lý kiến trúc
Mỗi thời kỳ với thiết chế xã hội nào cũng cần có biểu hiện quyền lực và uy tín, phẩm chất phù hợp với chính thể tương ứng. Hình thức các trụ sở công quyền là bộ mặt dễ cảm nhận nhất. Hệ thống chính trị của chúng ta khẳng định chính quyền là Của Dân – Do Dân – Vì Dân. Quyền lực nhân dân là to lớn, nhưng từng người dân rất dễ cảm thấy nhỏ bé, rụt rè ở nơi những “công bộc” của mình làm việc. Nhu cầu mọi mặt của nhân dân – ở đây là cộng đồng đô thị- về giao dịch công thuận lợi, về tâm lý được tôn trọng, về cảm giác thân thiện, kể cả niềm tự hào về hình ảnh đĩnh đạc hoành tráng của những công trình đại diện cho địa phương mình.

Không thể để các nhu cầu đó trở nên khiên cưỡng, giả tạo, không phù hợp thực trạng nền kinh tế… bằng sự diễn giải chủ quan dựa trên bất cứ lợi ích nào khác với lợi ích cộng đồng. Vậy, phải chăng giá trị tổng hợp các yếu tố sau đây chính là triết lý kiến trúc cho các Khu HCTT – Đó là Tiện ích –  Dân chủ – Thân thiện – Giá trị nghệ thuật cao.

2. Công năng kiến trúc
2.1 Đa tính chất đến bối rối
Khu HCTT bao gồm cả Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Nhân dân, Tỉnh uỷ, đoàn đại biểu quốc hội, các sở ban ngành, đoàn thể …Sự phức tạp thái quá về tính đa công năng dễ dẫn đến 2 thái cực kiến trúc: Hoặc vụn vặt với hàng trăm con số cộng đơn thuần, hoặc khoác đồng phục đơn điệu cho nhiều tính chất công năng khác nhau.

2.2 Cần phân bậc công năng  các Khu HCTT để có chủ trương phù hợp.
Có thể có hai lĩnh vực để phân loại, đó là tính chất ngành nghề và cấp hành chính. Ví dụ, một trụ sở UBND, HĐND, Tòa án… thì tính chất pháp quyền hay những giá trị biểu trưng chắc chắn không thể thiếu. Trong khi trụ sở của cơ quan văn hóa thể thao du lịch thì chắc là mọi người chờ đợi ở đó một cảm giác tươi tắn khác hơn … Điểm thứ hai của vấn đề phân loại này là cấp công trình. Cũng cùng một ngành chuyên môn, một thể loại công trình nhưng nó thuộc cấp quốc gia, TP hay quận huyện, phường xã… Dù cùng một ngành,  khối lượng công việc và tính chất công việc của từng cấp có khác nhau. Có cấp trực tiếp với người dân, có cấp thì không. Ở đây có thể có rất nhiều ví dụ để quyết định công năng nổi trội ở mặt nào, cấp nào, quy mô và tính thuận tiện, mức độ quan trọng của tính biểu trưng trong mỗi cấp kiến trúc.
Ví dụ ở cấp quận, huyện, có  điều rất tế nhị khi HĐND và UBND ở chung. Đó là HĐND quyền lực lớn hơn (có quyền bổ nhiệm UBND) nhưng lại có quy mô làm việc khiêm tốn hơn. Do vậy, bố cục kiến trúc cơ quan công quyền này  gặp không ít khó khăn khi giải quyết tính biểu trưng tương xứng. Hay trụ sở HCTT cấp quận, huyện có vẻ như rất hợp lý để vừa đủ chỗ làm việc cho các phòng chuyên môn,  vừa đủ bề thế của một trụ sở công quyền mà vẫn đảm bảo một cự ly phục vụ tương đối đều cho địa bàn nhỏ. Mô hình HCTT cấp quận, huyện chuyển lên quy mô cấp tỉnh, thành có vẻ như không còn thuận tiện nữa vì chiếm không gian quá lớn và khối lượng giao tiếp đặc thù của từng sở rất khác nhau như sở GD-ĐT, sở GTVT, sở Xây dựng, sở Thương mại du lịch… sẽ xuất hiện sự không tương thích trong giải pháp bố trí không gian.

3. Quy mô kiến trúc và quy hoạch khu HCTT
Quy mô xây dựng khu HCTT lớn hay nhỏ chưa phải là vấn đề nếu như phù hợp với quy mô và hợp lý về công năng kiến trúc và chức năng đô thị. Với những gì đang diễn ra, cần thiết lý giải mấy yếu tố sau:
– Những đô thị lớn của Việt Nam như TP HCM, Đà Nẳng có Khu HCTT khoảng 2ha. Thế nhưng đô thị thủ phủ của các Tỉnh, Thành khác (nhỏ hơn nhiều về mọi mặt) dựa trên lý giải nào để đầu tư đất  xây dựng các  Khu HCTT lớn hơn 10 lần, cá biệt tới 60 lần so với TP HCM?
– Quy chuẩn diện tích sàn bình quân trụ sở hành chính đã áp dụng nhiều năm qua khoảng 12m2 đến 15m2/ CBNV. Khi làm TTHCTT diện tích này đã tăng lên 2,5 đến 3 lần.(40m2/CBNV.) Và có vẻ còn tăng trong các dự án tiếp theo. Vậy thì chuẩn nào là giới hạn?
– Đã  một thời các chuyên gia từng cảnh báo hội chứng “trục đô thị tối đèn” khi hàng loạt các trụ sở công quyền được quy hoạch nằm dọc hai bên một  trục lộ gọi là “trục hành chính” đô thị. Lý do là không có cấu trúc dân cư và dịch vụ lân cận nên ngoài giờ hành chính cả trục đường thiếu vắng hoạt động. Về đêm, trục đô thị này không có lý do sáng đèn, chưa kể nhân đó còn bị kẻ xấu lợi dụng khai thác. Một khu HCTT bao gồm nhiều con đường như thế đóng góp như thế nào cho sinh hoạt đô thị và sẽ được tổ hợp cách nào vào trong quy hoạch đô thị? Có thể một đồ án kiến trúc xuất sắc sẽ làm nên hình ảnh và không gian kiến trúc chấp nhận được, nhưng liệu sự hình thành một khu vực chuyên biệt  rộng lớn chỉ dành cho cán bộ công chức sẽ giúp ích được gì cho sự cảm nhận về một chính quyền thân thiện của dân?

4. Hiệu quả vận hành các trung tâm HCTT
– Việc vận hành tập trung một tòa nhà hoặc tổ hợp nhà siêu lớn như Khu HCTT là một lợi thế. Những tòa nhà lớn này bao giờ cũng cần có bộ máy quản trị bảo trì, bảo dưỡng điều phối rất lớn và có hệ thống chứ không đơn giản là con số cộng của nhiều tổ hợp nhỏ. Hiệu quả có được trong trường hợp này là phải đầu tư hệ thống toà nhà thông minh và quản trị chuyên nghiệp. Nếu không thì độ phức tạp của một Khu HCTT rất lớn sẽ gây lãng phí vì sơ sài trong quản trị.
– Khi đã tổ hợp tập trung thì phải khai thác lợi ích về quản trị, về vận trù, để có thể tận dụng hết công suất các phần dịch vụ (Trưng bày quảng bá, phòng họp, đội xe, tạp vụ, phòng khách…). Điều này sẽ thể hiện ở diện tích sàn sử dụng trên mỗi CBNV giảm đi so với tổ chức phân tán. Hiện đang có hiện tượng ngược lại, nên cần làm rõ các chuẩn mực tính toán.

5. Cân đối đầu tư cho khu HCTT
Để có dữ liệu cân đối đầu tư các Khu HCTT cần tính đúng, tính đủ trong nội dung dự án.Các con số căn bản cần đưa vào bài tính đầu tư Khu HCTT cấp tỉnh hiện tại:
– Giá đất 12.000 tỉ (Bình quân 20 ha đất trung tâm đô thị. Giá thấp nhất theo chuẩn đất trung tâm đô thị khoảng 60 triệu/m2)
– Vốn xây dựng công trình 2000 tỉ (bình quân 70.000m2 x 30 triệu)
– Ngân sách đầu tư quản trị chuyên nghiệp, bảo trì…. Hình dung một con số khái quát như trên  để có cơ sở cân nhắc sức khỏe kinh tế xã hội đối với các Trung tâm HCTT khi dòng Kiến trúc này trở thành mục tiêu chạy đua của tất cả Tỉnh, Thành phố trong cả nước.

6. Kết luận
Thời gian qua, cuộc chạy đua xây dựng Khu HCTT của các Tỉnh, Thành phố trên cả nước sôi dần lên từng ngày. Dư luận cũng “sôi” theo khi những khu HCTT bắt đầu lộ diện và đi vào hoạt động. Nhiều góc độ xem xét, nhiều ý khen chê, nhưng nổi bật lên là tâm lý lo ngại tăng dần vì nhiều chuẩn giá trị chưa định mức, mà qui mô xây dựng, quy mô đầu tư cứ to dần, tăng dần. Gánh nặng ngân sách xây dựng cũng tăng dần lên vai người dân đóng thuế. Đã đến lúc phải huy động trí tuệ của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu và cả người dân với cuộc mưu sinh  tất bật hàng ngày – Để Quốc Hội  nhanh chóng có cơ sở phán quyết, đặt các Khu HCTT về đúng bản chất công năng, đúng lộ trình phát triển, cân bằng với điều kiện  kinh tế xã hội của đất nước…

KTS Nguyễn Văn Tất