Một số định hướng nhà cao tầng tại Việt Nam trong tương lai

Phối cảnh mô phỏng ngọn hải đăng Alexandria, đây từng là công trình cao nhất hành tinh
Phối cảnh mô phỏng ngọn hải đăng Alexandria, đây từng là công trình cao nhất hành tinh

Trên thế giới, nhà cao tầng, siêu cao tầng và nhà chọc trời đã được xây dựng rất nhiều trong đô thị các nước đã và đang phát triển. Đến nay, tại nhiều thành phố, nhất là các thành phố có lịch sử phát triển nhà cao tầng lâu đời như Chicago, New York… tốc độ phát triển nhà cao tầng chậm hẳn lại, ít có xây mới mà chủ yếu là cải tạo để hoàn thiện hơn. Xây dựng mới nhà cao tầng ngày nay chỉ tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển và chậm phát triển ở châu Á, châu Phi.
Việt Nam cũng là một đất nước đang phát triển mạnh nhà cao tầng. Trong khoảng hai năm gần đây, loại hình nhà cao tầng được xây dựng nhiều, và ngày càng nhiều hơn. Còn rất nhiều vấn đề bất cập và cấp bách trong thiết kế, xây dựng, thẩm định và quản lý chất lượng công trình nhà cao tầng ở Việt Nam. Điều này đòi hỏi chúng ta cần nghiêm túc nhìn lại, đánh giá và tìm con đường đi, hướng phát triển phù hợp nhất để loại hình kiến trúc nhà cao tầng đáp ứng được nhu cầu sử dụng thực tế, tránh những hậu quả khó khắc phục, nhất là trong vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái.

Sơ lược về nhà cao tầng ở Việt Nam

Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ trước kéo theo nhiều thay đổi về mặt kinh tế xã hội cũng như hạ tầng kỹ thuật của các đô thị đặc biệt là Sài Gòn. Cũng chính tại đây vào thời gian này, kiến trúc nhà cao tầng bắt đầu được du nhập vào Việt Nam. Tiêu biểu là các cao ốc: Thư viện Quốc gia, Trụ sở Việt Nam Thương tín, Bệnh viện Chợ Rẫy, Cao ốc chung cư 727 Trần Hưng Đạo, Khách sạn Palace, Khách sạn Caravel… Phần lớn nhà cao tầng thời gian này được các KTS Việt Nam thiết kế, có chiều cao khiêm tốn, cao nhất cũng chỉ khoảng 14 tầng nhưng đã đánh dấu sự xuất hiện của kiến trúc nhà cao tầng tại Việt Nam. Năm 1987 khách sạn Hà Nội cao 11 tầng được xây dựng tại Hà Nội là nhà cao tầng được xây dựng thí điểm ở miền Bắc.
Từ những năm 1990, chính sách đổi mới kêu gọi đầu tư nước ngoài cùng với sự phát triển kinh tế đã tạo điều kiện đẩy mạnh xây dựng nhà cao tầng ở một số đô thị lớn ở Việt Nam. Sự phát triển nhanh chóng thể loại nhà này đã làm thay đổi bộ mặt đô thị của cả nước, đầu tiên là ở Hà Nội và TP HCM, sau đó lan rộng ra nhiều tỉnh, thành khác.
Có thể kể đến một số công trình nhà cao tầng tiêu biểu ở Việt Nam hiện nay như sau:
– Tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark với chiều cao: 336 m gồm 72 tầng bao gồm 2 cao ốc văn phòng 50 tầng cùng với 1 tháp cao 72 tầng. Chức năng: Nhà ở, trung tâm thương mại, văn phòng và khách sạn.
– Tòa nhà Hanoi Lotte Center với chiều cao: 267 m gồm 65 tầng với 5 tầng hầm, là một tổ hợp thương mại, văn phòng, khách sạn, nhà ở.
– Toà nhà Bitexco Tower: Cao 262,5 m với 68 tầng, được thiết kế dựa theo nguyên mẫu của hoa sen, quốc hoa của Việt Nam. Với thiết kế bằng kính ấn tượng cộng thêm khu đỗ trực thăng, tháp Bitexco hiện là toà nhà cao nhất TP HCM.
– Tháp VietcomBank với chiều cao: 205 m là trụ sở mới của Vietcombank rộng 55.000 m2 và sẽ nhìn ra sông Sài Gòn. Dự kiến, tháp sẽ chính thức đi vào hoạt động trong năm 2015.
– Trung tâm Hành chính Đà Nẵng với chiều cao: 166,9 m có thiết kế giống như ngọn hải đăng và sở hữu công nghệ quản lý hiện đại, Trung tâm Hành chính Đà Nẵng là toà nhà cao nhất thành phố. Không những vậy, công trình này còn được đánh giá cao bởi tính thân thiện với môi trường.

Phối cảnh tòa nhà - Keangnam Hanoi Landmark
Phối cảnh tòa nhà – Keangnam Hanoi Landmark

Một số vấn đề tồn tại trong quy hoạch kiến trúc, xây dựng và môi trường trong nhà cao tầng ở Việt Nam

Có rất nhiều vấn đề cần bàn đến về thực trạng nhà cao tầng ở Việt Nam, có thể nêu ở một số vấn đề tồn tại sau:

1.Quy hoạch nhà cao tầng

Hiện nay, Nhà nước vẫn chưa có những chính sách phù hợp cho vấn đề quản lý xây dựng nhà cao tầng. Mặc dù, vẫn có một số quy định, hướng dẫn của Bộ Xây dựng về chỉ tiêu số tầng cao và mật độ xây dựng cho các công trình nhưng thực tế vấn đề quản lý xây dựng các nhà cao tầng không phải lúc nào cũng đúng với quy định. Có rất nhiều cao ốc do tư nhân bỏ tiền ra đầu tư với quy mô nhỏ nhằm làm văn phòng hoặc cho các công ty thuê, diện tích đất xây dựng chỉ khoảng 100-200m2 với số tầng cao phổ biến từ 9-15 tầng. Các cao ốc dạng này hầu hết đều được xen cấy vào các dãy phố mặt tiền, với mật độ xây dựng 100%. Xung quanh không có khoảng trống dành cho cây xanh, mặt nước, vỉa hè không đủ rộng, không có khoảng lùi theo tiêu chuẩn, phần lớn đều không có tầng hầm để xe, hoặc có thì nhỏ không đáp ứng đủ diện tích cho người sử dụng công trình…. Các nhược điểm trên trước mắt làm xấu đi bộ mặt cảnh quan chung của các khu phố, nguy hại hơn, về lâu dài sẽ làm ảnh hưởng đến các vấn đề sinh khí hậu, môi trường xung quanh.
Các công trình cao tầng có quy mô lớn, do nhà nước hoặc các công ty lớn đầu tư xây dựng được quan tâm hơn trong vấn đề quản lý quy hoạch – Khoảng lùi, dân số, diện tích xây dựng, tổng diện tích sàn xây dựng, cây xanh, giao thông, … đảm bảo tuân thủ theo Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, Tiêu chuẩn thiết kế chuyên ngành,… Nhưng cũng mới chỉ giải quyết chủ yếu cơ bản từng công trình riêng lẻ, chưa thể kiểm soát tốt nhất đến quy hoạch nhà cao tầng cho cả một khu đô thị, nhất là các thành phố đã có một quá trình phát triển nhà cao tầng như Hà Nội, TP HCM…. Các quy hoạch chi tiết đã được các cấp thẩm quyền phê duyệt, tuy nhiên vì nhiều lí do và những quy định nên chủ đầu tư đã triển khai không đúng như quy hoạch được duyệt, dẫn đến tình trạng phải điều chỉnh quy hoạch, ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư và tiến độ hình thành dự án cũng như tiến độ vào ở của người dân nếu như có nhu cầu mua chung cư.

2.Hình thức kết cấu và vật liệu xây dựng nhà cao tầng

Hanoi Lotte Center

hai-hung-thang-may-toa-nha-ha-noi-lotte-center-roi-tu-do-tu-tang-63-xuong_20140926011509122Các công trình cao tầng ở Việt Nam phát triển chậm hơn các nước khác trên thế giới hàng chục năm, nhất là trong hình thức kết cấu chịu lực và vật liệu xây dựng. Cho đến nay, hình thức chịu lực chính của các nhà cao tầng từ Bắc đến Nam chủ yếu vẫn là kết cấu khung bê tông chịu lực. Vấn đề không phải là chúng ta không có điều kiện học hỏi, áp dụng công nghệ mới hay sử dụng vật liệu ưu việt hơn trong xây dựng nhà cao tầng, mà là chúng ta chưa có khả năng tự sản xuất các vật liệu đạt tiêu chuẩn hoặc tự thi công theo phương pháp mới. Nếu cứ nhập từ nước ngoài vào thì chi phí xây dựng bị đẩy lên cao, nhà đầu tư không thể đáp ứng. Chính vì vậy kết cấu khung bê tông cốt thép luôn là lựa chọn số một.

3.Môi trường sinh khí hậu

Hầu hết các nhà cao tầng xây dựng ở Việt Nam ít chú trọng vấn đề tạo môi trường sinh khí hậu. Một trào lưu khá phổ biến trên thế giới và cũng đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay là đặt quá cao mục tiêu kinh tế trong thiết kế và kinh doanh nhà cao tầng. Để đạt mục tiêu đó, bằng các giải pháp kiến trúc như giảm mọi diện tích lưu thông, giao tiếp, hành lang, cây xanh, giếng trời, sân trong, cả kết cấu che nắng, và các giải pháp kỹ thuật xây dựng như giảm chiều dày tường bao ngoài, giảm kích thước các cấu trúc thành phần theo chiều đứng, giảm chiều cao sàn đến sàn, tăng số tầng nhà…, người ta có thể đạt được tối đa diện tích sử dụng bên trong trên mỗi tầng sàn và diện tích tối đa của công trình đối với vị trí đất xây dựng. Số tầng càng cao khả năng thu hồi vốn càng lớn, chủ đầu tư vì lợi ích này cũng đã xem nhẹ, không chú ý nhiều đến vấn đề tiết kiệm năng lượng và thân thiện đối với các nhà ở cao tầng, khó có thể đạt được gọi là nhà cao tầng sinh thái.
Người thiết kế khi đó có thể lạc quan do tạo được chi phí xây dựng nhà cao tầng thấp nhất, nhưng như cảnh báo của KTS Ken Yeang – “Hậu quả là kiến trúc sẽ trở nên đơn điệu như những chiếc boong-ke”.
Một số nhà cao tầng không chỉ không hài hoà với xung quanh mà thậm chí còn phá vỡ cảnh quan đẹp. Một số khác quá chú trọng về hình thức kiến trúc hoặc áp dụng nguyên dạng cao ốc nước ngoài, quá nhiều kính, không được thiết kế thông gió, che nắng… không phù hợp với điều kiện khí hậu vùng nhiệt đới của Việt Nam. Điều này rất ảnh hưởng đến vấn đề môi trường sinh khí hậu, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động, sinh hoạt, tâm sinh lý của con người.

4. Thẩm mỹ nhà cao tầng

Kiến trúc nhà cao tầng ở Việt Nam khá đa dạng về thẩm mỹ.
Về mặt hình khối có 3 dạng chủ yếu: Dạng tháp, dạng tấm, kết hợp tấm và tháp.

Về mặt xu hướng kiến trúc, các cao ốc tập trung vào các kiểu sau:

– Nhắc lại kiến trúc cổ Châu Âu.

– Kiến trúc hiện đại.

– Kiến trúc hậu hiện đại.

– Loại trào lưu kiến trúc chiết trung.

Có những công trình thành công, tạo thẩm mỹ tốt góp phần làm đẹp bộ mặt của đường phố trong đô thị, cảnh quan tốt, phù hợp với xung quanh như khách sạn Hilton (Hà Nội), cụm kiến trúc cao tầng trên quảng trường Công xã Paris, Quảng trường Mê Linh, Quảng trường Lam Sơn (xử lý kiến trúc theo trục Công viên 23-9, trục Nguyễn Huệ – Hàm Nghi, trục Tôn Đức Thắng (TP HCM))… Nhưng cũng tồn tại các nhà cao tầng có hình thức xấu, xử lý hình khối, mặt đứng không tinh tế, trở thành những cục bê tông thô kệch hoặc theo hình thức kiến trúc chắp vá, vay mượn, không theo kiểu kiến trúc nào.

Một số giải pháp giúp định hình hướng đi cho kiến trúc nhà cao tầng ở Việt Nam.

Trung tâm Hành chính Đà Nẵng

491Trong thời gian không xa, Việt Nam sẽ xuất hiện những toà nhà siêu cao tầng. Khác với các loại công trình kiến trúc khác có thể dễ dàng phá bỏ hoặc xây dựng mới nếu không phù hợp, nhà cao tầng, siêu cao tầng với kích thước đồ sộ, trọng lượng lên tới hàng chục nghìn tấn vật liệu xây dựng sẽ gặp khó khăn rất nhiều. Chính vì vậy, chúng ta cần có cái nhìn nghiêm túc, thận trọng trong công tác thẩm định, thiết kế, xây dựng nhà cao tầng, để tránh hậu quả, nhất là cho vấn đề môi trường sinh thái, nhiều khi tốn tiền của, công sức gấp nhiều lần cũng chưa chắc đã khắc phục được.

1. Về mặt quy hoạch

Chiều cao nhà cao tầng phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của hệ thống giao thông theo chiều đứng. Một trong các vấn đề gặp phải của nhà siêu cao tầng là sự liên hệ giao thông giữa các phần của tòa nhà rất khó khăn. Di chuyển theo chiều đứng chủ yếu phụ thuộc vào thang máy. Để đảm bảo cho sự thích nghi của con người, tốc độ thang máy chỉ có giới hạn nhất định. Tuy nhiên, với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển như ngày nay, vấn đề này hoàn toàn có thể khắc phục – Với sự thông dụng của hệ thống cáp treo, của đường sắt trên không, và có thể tưởng tượng xa hơn đến sự phát triển các hệ thống giao thông tối tân khác. Khi đó, mối liên hệ ngang giữa các phần của các nhà siêu cao tầng sẽ trở nên mật thiết, dễ dàng, mô hình phát triển đô thị theo chiều đứng mới thật sự hoàn thiện và đúng với ý nghĩa của nó. Trong mỗi đô thị, tuỳ theo quy mô to nhỏ khác nhau, cần hướng tới việc quy hoạch vị trí các nhà cao tầng tập trung theo từng cụm. Trong mỗi cụm quy hoạch theo hệ thống mạng lưới ô vuông có môđun. Điều này sẽ tạo cơ sở thuận lợi cho việc lắp đặt thêm các hệ thống giao thông trên cao lúc cần thiết trong tương lai.

2. Về vấn đề lựa chọn hình thức kết cấu và thi công

Hình thức kết cấu chủ yếu của nhà cao tầng ở Việt Nam hiện nay là khung bê tông cốt thép. Bê tông có ưu điểm chịu lực tốt, bền và là dạng vật liệu thông dụng, giá thành rẻ nhưng không thể tái sử dụng; nhước điểm lớn là nặng nề. Có thể hình thức này sẽ giúp nhà đầu tư tiết kiệm được chi phí xây dựng trước mắt, nhưng về lâu dài sẽ khó khăn và tốn kém hơn nhiều lần trong chi phí cải tạo hay phá bỏ khi công trình quá hạn sử dụng. Vì vậy, chúng ta không nên quá nóng vội, lấy số lượng nhà cao tầng được xây làm thước đo cho tốc độ đô thị hoá, hiện đại hoá mà phải lấy chất lượng và khả năng thích ứng trong tương lai làm tiêu chuẩn, nhất là các công trình nhà siêu cao tầng sau này. Để đạt được điều đó, cần chú trọng nghiên cứu, học hỏi, nhập khẩu các công nghệ hiện đại, sử dụng các vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường, đảm bảo các yếu tố tiện nghi, kỹ thuật, dễ dàng tháo lắp và tái sử dụng sau này, giúp hạn chế tối đa lượng rác thải xây dựng không thể tái sử dụng.

3. Về phát triển nhà cao tầng theo xu hướng bền vững

Đó là hướng thiết kế nhà ở bảo đảm được sự phát triển bền vững và đa dạng sinh học của các đô thị, đem lại một môi trường trong sạch, vệ sinh, trong đó con người và mọi dạng sinh học được phát triển cân đối, hài hoà, tốt đẹp, không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai.

Tháp Bitexco TP. HCM
20110412103543!Bitexco_Financial_TowerThiết kế nhà ở cao tầng bền vững, trước hết là thiết kế thích ứng với khí hậu, tạo lập được một môi trường sống vệ sinh, tiện nghi. Cụ thể là thiết kế tận dụng tối đa năng lượng mặt trời, ánh sáng tự nhiên, gió, sử dụng cây xanh, mặt nước, sử dụng lại nước sinh hoạt, tiết kiệm năng lượng nhân tạo, và tài nguyên thiên nhiên, sử dụng năng lượng tái tạo, giảm thải các chất ô nhiễm vào môi trường, từ lúc công trình xây dựng, trong suốt quá trình vận hành cho đến khi phá dỡ.
Thiết kế nhà ở bền vững còn quan tâm đến mọi hoạt động của con người, từ công việc, học tập, đến sinh hoạt văn hoá, chính trị, xã hội và mọi nhu cầu dịch vụ phục vụ con người như giao thông, giải trí, giao tiếp…

Nhà cao tầng theo xu hướng nhà ở bền vững áp dụng cho điều kiện ở Việt Nam cần đáp ứng được các yêu cầu sau:

– Thích ứng với khí hậu vùng nhiệt đới của địa phương.

– Tiếp cận khí hậu sinh học (sinh khí hậu) trong việc thiết kế các công trình nhà cao tầng

– Mức độ tiện nghi và không gian sinh hoạt,làm việc phù hợp với người Việt Nam.

– Giảm thiểu tối đa tiêu thụ năng lượng, tận dụng năng lượng tự nhiên.

– Đạt được giá trị thẩm mỹ tốt, lâu dài.

– Phù hợp với cảnh quan và môi trường.

               Phát triển bền vững                                                                                Nhà ở bền vững

image001-hhhhhhhhhhhhhh
Hai sơ đồ về khái niệm Phát triển bền vững và Nhà ở bền vững

 E1: năng lượng ( Energy)
E2: môi trường (Environment)
E3: sinh thái (Ecology)
S1: xã hội (Society)
S2: bền vững (Sustainable)

Xây dựng nhà cao tầng và đặc biệt là nhà siêu cao tầng là tất yếu vì những ưu điểm của loại hình nhà này, và do sự thúc đẩy của nhiều yếu tố kinh tế xã hội khác. Do đặc điểm kỹ thuật xây dựng và tổ chức cuộc sống khác với nhà thấp tầng, nên cũng nảy sinh nhiều vấn đề có liên quan đến năng lượng và môi trường sinh thái. Đó chính là lý do của sự hình thành và phát triển kiến trúc nhà cao tầng sinh thái, bởi vì chính loại hình kiến trúc này sẽ giải quyết mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá tất yếu và sự phát triển bền vững của các đô thị. Nhà cao tầng sinh thái là tất yếu để phát triển nhà cao tầng theo xu hướng nhà ở bền vững tại Việt Nam và cũng là xu hướng chung ở các đô thị trên toàn thế giới.

Kết luận

Qua đây có thể đánh giá sơ qua về tình hình phát triển kiến trúc nhà cao tầng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay và những đề xuất một số giải pháp hướng đi cho nhà cao tầng ở Việt Nam tương lai. Những vấn đề đã nêu trong nội dung chỉ là một phần nhỏ trong hàng loạt vấn đề trong thiết kế, xây dựng nhà cao tầng hiện nay. Qua đây có thể giúp các KTS và những người quan tâm thấy được tính cấp thiết của việc quản lý, thẩm định, phê duyệt, đánh giá một cách nghiêm túc về ảnh hưởng của nhà cao tầng tới môi trường sinh thái và một loạt các vấn đề kinh tế xã hội. Từ đó chỉ ra sự cần thiết nghiên cứu, phát triển loại hình kiến trúc nhà cao tầng sinh thái, một hướng đi đúng, nhằm phục vụ quá trình đô thị hoá ở Việt Nam theo hướng đi tích cực, bền vững cho tương lai.

Tài liệu tham khảo:

1.Trần Xuân Đỉnh (2010), Thiết kế nhà cao tầng hiện đại – Tập 1, NXB Xây dựng, Hà Nội.
2. Trịnh Hồng Đoàn, Nguyễn Hồng Thục, Khuất Tân Hưng (2012), Kiến trúc nhà cao tầng – Tập 1, NXB Xây dựng, Hà Nội.
3. Ken Yeang (1996), The Skyscraper bioclimatically considered, Academy Editions, London
4.Archiworld (2008), Sky Scraper, Puplisher Jeong, Kwang Young, Korea.

Ths.KTS Trần Trung Hiếu – Sở Kiến trúc – Quy hoạch Hà Nội

( Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 07 -2015 )