Nghệ thuật và nơi chốn trong đô thị đương đại: Từ cảm thức xa lạ đến tái thiết không gian văn hóa

Không khó để nhận ra rằng rất nhiều khu đô thị tại Hà Nội hiện nay, dẫu mang diện mạo hiện đại và tiện nghi, nhưng đồng thời lại tạo ra cảm giác xa lạ trong lòng nhiều cư dân. Những tên gọi mang âm hưởng ngoại quốc, những hình thức kiến trúc đồng nhất, thiếu bối cảnh văn hóa bản địa, khiến nhiều người trẻ cảm thấy như đang sống ở một nơi nào đó không thuộc về họ. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, những đổi thay về mặt không gian không chỉ đề cập đến vấn đề thẩm mỹ hay chức năng, mà còn đặt ra bài toán về cảm thức bản sắc, sự gắn bó của con người với nơi chốn sinh sống.

Nơi chốn bản sắc – và sự mất kết nối

Trong trình bày tại tọa đàm “Nghệ thuật – Nơi chốn – Tri thức: Đọc lại vai trò của nghệ sĩ hôm nay” thuộc khuôn khổ tuần trưng bày Dòng chảy sáng tạo 2025 ngày 22/06/2025, TS.HS Trần Hậu Yên Thế đã tiếp dụng khái niệm: “Vô gia cư văn hóa” – Cultural homelessness – Nhằm gợi nhắc rằng: Đô thị hóa đang dẫn đến một thế hệ trẻ lơ lửng, thiếu chỗ dựa văn hóa, không còn điểm tựa vào không gian sinh sống hàng ngày. Thuật ngữ này, trong lĩnh vực tâm lý học, vốn được dùng để chỉ trạng thái khi cá nhân không còn cảm thấy gắn bó sâu sắc với bất kỳ nền văn hóa nào (Vivero & Jenkins, 1999) – Không với văn hóa gốc và cũng không với văn hóa đô thị đang sinh sống.

Hiện tượng trên, rõ ràng, không chỉ là hậu quả của sự thoái suy văn hóa, mà còn là biểu hiện rõ nét của trạng thái thờ ơ văn hóa, khi cá nhân trở nên lãnh đạm với lịch sử, phong tục, nghi lễ truyền thống. Giữa quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa, nhiều không gian đô thị trở nên đồng nhất và thiếu đặc trưng địa phương. Edward Relph (1976) gọi hiện tượng này là “Đô thị vô địa điểm”, placelessness, để chỉ những không gian mà các yếu tố văn hóa bị bào mòn bởi thiết kế, tiêu chuẩn quốc tế và các lối tiêu dùng đại chúng. Khái niệm “Nhân học văn hóa” – Cultural cringe, thường được sử dụng trong bối cảnh hậu thuộc địa, cũng là một chiều cạnh liên quan, khi cá nhân cảm thấy xấu hổ hoặc coi thường những biểu hiện văn hóa bản địa của chính mình, đồng thời thần tượng hóa những giá trị văn hóa ngoại lai. Trạng thái này không chỉ là tâm lý cá nhân mà có thể trở thành cảm thức tập thể trong xã hội hậu thuộc địa hoặc đang trong quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Không gian trưng bày “45 ngày trong Phố cổ” tại Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội 50 Đào Duy Từ. Nguồn: Nguyễn Thế Sơn

Arjun Appadurai (1996), bằng lý thuyết về các “Scapes” – Các dòng chảy toàn cầu hóa, chỉ ra rằng bản sắc ngày nay ngày càng rời khỏi nền tảng địa lý. Với dòng di cư con người – Ethnoscapes và dòng hình ảnh, truyền thông – Mediascapes, các căn tính đương đại bị tách khỏi không gian địa phương và trở nên phi lãnh thổ (deterritorialized). Con người có thể sống tại một nơi nhưng hình thành căn tính từ những yếu tố hoàn toàn không liên quan đến địa phương ấy. Điều này dẫn đến tình trạng đánh mất cảm giác thuộc về (loss of belonging) – Khi không gian sống vật lý không còn gắn liền với căn tính cá nhân.

Như vậy, những thuật ngữ trên cùng nhau cấu thành một trường từ vựng mô tả khủng hoảng bản sắc trong không gian đô thị đương đại. Tất cả những thuật ngữ trên đều phản ánh một thực tế rằng: Không gian sống không còn là nơi neo giữ ký ức, mà trở thành một chuỗi trạm dừng vô danh trong đời sống hiện đại. Trong hoàn cảnh đó, nghệ thuật xuất hiện như một khả thể mở, cho phép người nghệ sĩ tái thiết ký ức, kiến tạo bản sắc và kết nối trở lại với nơi chốn theo những cách thức mới mẻ.

Không gian triển lãm “Nhà mặt phố “của Nguyễn Thế Sơn tại Viện Goethe.
Nguồn: Nguyễn Thế Sơn

Không gian sáng tạo: Một hình thức tái thiết bản sắc nơi chốn?

HS. Nguyễn Thế Sơn, với tư cách là một nghệ sĩ thị giác, đồng thời là giảng viên và giám tuyển, đã nhiều năm thực hành nghệ thuật gắn với di sản sống của Hà Nội. Hai dự án tiêu biểu của anh, “45 ngày trong Phố cổ” và “Nhà mặt phố”, có thể được xem như những dụ điển hình cho nghệ thuật như một hình thức nghiên cứu, phản biện và kiến tạo lại ký ức không gian đô thị.

Với “45 ngày trong Phố cổ” (2016) được trưng bày ở không gian Trung tâm Giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội – 50 Đào Duy Từ, Hà Nội, Nguyễn Thế Sơn dẫn sinh viên mỹ thuật của mình đi ngược lại “thói quen” thực tế mỹ thuật, vốn thường hướng về các miền quê xa lạ để lãng mạn và thi vị hóa, để thay vào đó là khảo sát phần “lõi” của Hà Nội, tức Khu Phố cổ. Tại đây, người học được khuyến khích tiếp cận thực tế, không theo lối mô tả duy mỹ, mà bằng tư duy nghiên cứu: Lựa chọn vấn đề, phỏng vấn cộng đồng, thu thập tư liệu, phản ánh hiện thực thông qua nhiều chất liệu biểu đạt. Cái được nhấn mạnh không phải là kỹ thuật mô phỏng mà là năng lực quan sát, khả năng đặt câu hỏi và sáng tạo hình thức phản ánh mang tính cá nhân nhưng bắt rễ từ không gian cụ thể. Trong ý nghĩa đó, nghệ thuật trở thành một công cụ ghi chép, vượt qua ngôn ngữ tạo hình đơn thuần, để trở thành những cấu trúc hình ảnh đa thanh, đa chất liệu, nhằm ghi lại những tầng lớp lịch sử, ký ức và đời sống đang hiện diện trong phố cổ như một bảo tàng sống.

Nếu “45 ngày trong phố cổ” tập trung vào yếu tố ký ức cộng đồng, thì dự án cá nhân “Nhà mặt phố” (2012) trưng bày tại Viện Goethe lại là một phản ứng thẩm mỹ – xã hội sắc sảo trước cơn bùng nổ xây dựng và thương mại hóa không gian sống Hậu – Đổi mới. Trong dự án này, Nguyễn Thế Sơn khảo sát sự biến đổi của kiến trúc đô thị, đặc biệt là hiện tượng “bịt mặt” nhà ống bằng các tấm biển quảng cáo lớn – Như một quá trình mà trong đó không gian riêng tư dần bị “nuốt chửng” bởi không gian công cộng. Bằng việc sử dụng kỹ thuật nhiếp ảnh phù điêu, một phương pháp lai ghép giữa ảnh, điêu khắc và vật liệu quảng cáo, nghệ sĩ song song làm nổi bật tính vật chất của không gian và đồng thời cho thấy cấu trúc quyền lực và các lớp ý nghĩa được chồng xếp lên mặt tiền đô thị. Đáng chú ý, chính những người thợ làm biển quảng cáo, vốn là chủ thể sản xuất ra những hình ảnh tràn lan ngoài đời sống, cũng tham gia vào thi công tác phẩm như một hình thức đồng sáng tạo. Ở đây, hành vi nghệ thuật không đơn độc. Nó mở ra tính cộng tác, tính công dân trong sáng tạo đô thị.

Không gian sáng tạo có đòi hỏi mô hình nghệ sĩ mới?

Điều chung giữa hai dự án của nghệ sĩ Nguyễn Thế Sơn là sự từ bỏ mô hình nghệ sĩ sáng tác dựa trên cảm xúc, trực giác – Để chuyển sang hình ảnh người nghệ sĩ như nhà nghiên cứu, người quan sát tham dự, người kể chuyện về nơi chốn. Trong tay họ, nghệ thuật trở thành một “tư liệu phản ánh sự biến đổi”, không phải chỉ lưu giữ vẻ đẹp quá khứ, mà còn chất vấn hiện tại và kiến tạo tương lai. Nơi chốn, từ đó, ngoài một tọa độ vật lý, là không gian sống, không gian ký ức, và không gian bản sắc cộng đồng. Tác phẩm nghệ thuật, thay vì “đóng khung” trong triển lãm, được hình dung như một cử chỉ gắn kết làm hiển lộ những gì đang dần bị khuất lấp bởi tốc độ phát triển đô thị chóng mặt.

Từ những thực hành nghệ thuật diễn ra trong không gian đô thị cụ thể như “45 ngày phố cổ” hay “Nhà mặt phố”, có thể nhận thấy: Nghệ thuật không dừng lại ở việc phản ánh xã hội mà còn tham gia tích cực vào việc định hình lại ký ức và bản sắc của nơi chốn. Khái niệm “Nơi chốn” ở đây không chỉ là một không gian vật lý, mà là tổng hòa của trải nghiệm sống, ký ức tập thể và các mối quan hệ xã hội gắn bó với địa điểm cụ thể. Trong bối cảnh ấy, các không gian sáng tạo đang nổi lên như những thiết chế đương đại, góp phần phục dựng cảm giác gắn bó và tinh thần cộng đồng giữa lòng đô thị hiện đại. Nhiều không gian sáng tạo ngày nay được hình thành từ các nhà xưởng cũ, khu tập thể, đình làng hoặc những kiến trúc có giá trị lịch sử chưa được chính thức bảo tồn. Đây là những địa điểm vừa lưu giữ dấu tích thời gian, vừa mang tiềm năng chuyển hóa để thích ứng với nhu cầu văn hóa mới. Việc “tái thiết”, trong trường hợp này, không đơn thuần là cải tạo hay phục hồi kiến trúc, mà hướng đến việc khơi dậy đời sống văn hóa từng hiện diện nơi đó, bằng những hoạt động như trưng bày, trình diễn, giao lưu, giáo dục và tham dự nghệ thuật.

Triển lãm “Cảm thức Đông Dương” trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo 2025 thực sự là một hoạt động giáo dục nghệ thuật diễn ra tại không gian di sản sáng tạo.
Nguồn: Ngô Xuân Phú

Không gian sáng tạo, vì thế, không vận hành như các thiết chế văn hóa truyền thống vốn mang tính cố định và hành chính. Chúng linh hoạt hơn, mang tính thử nghiệm và có khả năng tạo ra đối thoại liên tục giữa nghệ sĩ, cộng đồng và không gian. Tại đây, nghệ thuật không đứng ngoài quan sát mà trực tiếp tham gia vào đời sống, chất vấn thực tại, đồng thời khơi gợi lại những ký ức có nguy cơ bị lãng quên. Những can thiệp này không nhằm mục tiêu bảo tồn theo lối nguyên trạng, mà mở ra khả năng sống mới cho những địa điểm từng bị bỏ quên. Theo cách đó, không gian sáng tạo không đơn thuần là nơi trưng bày sản phẩm nghệ thuật mà trở thành môi trường cho sự kiến tạo bản sắc. Bản sắc văn hóa không được hiểu như một giá trị cố định phải gìn giữ, mà là một quá trình liên tục được thương thuyết, chia sẻ và tái định hình qua tương tác và thực hành. Nghệ thuật sẽ đóng vai trò trung gian, giúp kết nối con người với nơi họ đang sống, làm sáng tỏ các mối quan hệ vô hình trong không gian, đồng thời thúc đẩy một mô hình phát triển đô thị chú trọng đến chiều sâu văn hóa.

Không gian sáng tạo vừa là nơi tiếp nhận các sản phẩm nghệ thuật hoàn thiện, vừa là nơi hình thành tư duy nghệ thuật mới, là giao điểm giữa quá khứ (di sản) với tương lai (ý tưởng và phương pháp). Lúc này, người nghệ sĩ không còn đơn thuần là cá nhân sáng tạo mang tính bản năng, mà trở thành một chủ thể tri thức – Người sản xuất, khảo cứu và chất vấn xã hội. Tại bộ môn Nghệ thuật thị giác, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, mô hình đào tạo nghệ sĩ theo hướng nghiên cứu-thực hành được hiện thực hóa qua các dự án của sinh viên với nhiều phương pháp, phương tiện biểu đạt khác nhau, như photomontage (ghép ảnh), photo-weaving (đan ảnh), sắp đặt, video art, hay thực địa cộng đồng. Sinh viên phải bắt đầu từ việc khảo sát hiện trường, lựa chọn đối tượng, tiếp cận lý thuyết, tiến hành điền dã và phản tư trước khi chuyển hóa thành hình thức biểu đạt nghệ thuật phù hợp.

Nghệ thuật đương đại cần được gắn với phương pháp nghiên cứu học thuật, từ đó hình thành hình ảnh người nghệ sĩ như một nhà nghiên cứu – người phản biện chứ không chỉ minh họa cho các lý thuyết có sẵn. Khái niệm mô hình “Nghệ sĩ là nhà sản xuất tri thức” (producer of knowledge) do Caroline Thuc Ha (2022) đề xuất đã mở ra một khung tiếp cận mới, trong đó nghệ sĩ đồng thời đặt câu hỏi, tạo lập dữ liệu, và phát hiện vấn đề xã hội qua ngôn ngữ hình ảnh. Trên nền tảng đó, giáo dục nghệ thuật không chỉ tạo ra những cá nhân sáng tạo đơn lẻ mà hướng đến việc hình thành một cộng đồng nghệ sĩ-tri thức có khả năng can dự vào đời sống xã hội, tạo tác nơi chốn, và góp phần nâng cao thẩm mỹ cộng đồng thông qua thực hành nghệ thuật như một hình thức giáo dục mở rộng.

Tuần trưng bày Dòng chảy sáng tạo 2025 của sinh viên khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật tại 22 Hàng Buồm.
Nguồn: Ngô Xuân Phú

Những năm gần đây, Hà Nội đã có những bước đi đáng ghi nhận trong việc tái thiết di sản thông qua nghệ thuật đương đại. Lễ hội Thiết kế Sáng tạo được tổ chức thường niên đã góp phần hồi sinh nhiều địa điểm tưởng chừng bị lãng quên, từ 22 Hàng Buồm – Không gian trưng bày nghệ thuật đậm đặc ký ức giao thoa văn hóa phố cổ; đến Nhà ga xe lửa Gia Lâm – Nơi nghệ thuật thị giác đan cài với dấu vết di sản hậu – công nghiệp thời Pháp thuộc; hay Tòa nhà Đại học Quốc gia tại 19 Lê Thánh Tông – Nơi triển lãm Cảm thức Đông Dương đã khơi dậy mạch ký ức giáo dục nghệ thuật trong lòng đô thị. Những nỗ lực này không chỉ giúp kiến tạo lại cảm thức nơi chốn mà còn mang tính giáo dục đại chúng thông qua trải nghiệm thẩm mỹ. Tuy nhiên, song hành với sự phát triển của các không gian sáng tạo, cần thúc đẩy mạnh hơn nữa giáo dục nghệ thuật theo hướng liên ngành, khuyến khích thực hành nghiên cứu dựa trên nghệ thuật (art-based research). Đó chính là con đường để nghệ thuật không chỉ một hình thức biểu đạt, mà còn là nền tảng tri thức giúp đô thị hiện đại kết nối trở lại với các chiều sâu văn hóa và lịch sử của mình.

 Phạm Minh Quân
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật – ĐH Quốc gia Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 07-2025)


Tài liệu tham khảo

  • Appadurai, A. (1996). Modernity at large: Cultural dimensions of globalization (Vol. 1). U of Minnesota Press;
  • Phillips, A. (1950). The cultural cringe. Meanjin, 9(4), 299-302;.
  • Relph, E. (1976). Place and placelessness (Vol. 67, p. 45). London: Pion;
  • Thuc, C. H. (2022). Based Art Practices in Southeast Asia. Palgrave Macmillan, Cham;
  • Vivero, V. N., & Jenkins, S. R. (1999). Existential hazards of the multicultural individual: Defining and understanding” cultural homelessness.”. Cultural Diversity and Ethnic Minority Psychology, 5(1), 6.