ĐBSCL: Chuyển đổi & thích nghi với biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) không còn là dự báo mà đang diễn ra ngày càng sâu rộng và gay gắt đặc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long, như: nước biển dâng, khí hậu cực đoan, ngập lụt hạn hán… đang tạo ra thách thức vô cùng to lớn, đe dọa quá trình phát triển của vùng, sinh kế và đời sống nhân dân.

Những ưu thế tự nhiên cho phát triển trước đây và hiện nay của ĐBSCL đã, đang và sẽ thay đổi theo xu thế suy giảm nguồn tài nguyên nước, phù sa, sự gia tăng của nước mặn, nước lợ, sụt lún đất, tác động mạnh vào tài nguyên đất, cơ cấu sử dụng đất, các hệ sinh thái, môi trường, làm thay đổi cơ bản mô hình sản xuất, tập quán sản xuất, sinh kế, nếp sống, mạng lưới dân cư, thậm chí ngôi nhà của người dân.

Tuy vậy, với kinh nghiệm được thử thách qua các thế hệ để tồn tại và phát triển, cách thức được lựa chọn không phải là từ bỏ nơi sinh ra, nơi nuôi sinh sống để di dân đến một vùng đất mới – Mà tiếp tục sống chung với điều kiện thiên nhiên mới, thích ứng với môi trường mới, chuyển hóa thách thức thành cơ hội, lợi dụng và phát huy lợi thế mới của thiên nhiên tạo dựng nếp sống, cách sống và canh tác phù hợp để phát triển không ngừng, tiếp tục xây dựng ĐBSCL là nơi hấp dẫn, giàu có và bền vững.

Có thể một ngày nào đó, ĐBSCL không còn cung cấp cho cả nước 54% sản lượng lúa, 70% sản lượng thủy sản nuôi trồng, 36% sản lượng trái cây, 90% sản lượng lúa gạo xuất khẩu, 65% thủy sản xuất khẩu, những mặt hàng được cả thế giới ưa chuộng; nhưng chắc chắn với sự chuyển đổi và thích nghi mới, ĐBSCL sẽ tiếp tục cung cấp cho cả nước, cho thế giới những sản phẩm mới với chất lượng cao hơn, năng xuất cao hơn, hàm lượng khoa học, chất xám cao hơn.

Chính phủ đã có Nghị quyết về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, với quan điểm chủ đạo là:

  • Phát triển bền vững, chủ động thích ứng, chuyển hóa thách thức thành cơ hội để phát triển;
  • Thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, chất lượng, xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển, ứng dụng công nghệ cao, sạch, hữu cơ;
  • Tôn trọng quy luật tự nhiên tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên, chọn mô hình thích ứng, thân thiện với môi trường, phát triển bền vững để chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn, cũng như với bão, hạn hán, xâm nhập mặn;
  • Coi sự nghiệp này là của toàn dân, lấy con người làm trung tâm, giảm nghèo, hướng tới vùng thu nhập cao;
  • Lấy tài nguyên nước nước là yếu tố cốt lõi, là cơ sở để tiến hành xây dựng , đầu tư, phát triển với tư tưởng tiết kiệm tài nguyên nước và đất đai, đẩy mạnh ứng dụng Khoa học – Công nghệ, kinh tế xanh, bền vững trên cơ sở sự điều phối thống nhất và tăng cường liên kết trong toàn vùng.

Trong sự nghiệp phát triển ĐBSCL, anh chị em KTS sống và làm việc tại vùng ĐBSCL đã gắn bó, chia sẻ trách nhiệm để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Chúng ta đã tham gia quy hoạch các điểm dân cư nông thôn sống chung với lũ, triển khai dự án tôn nền vượt lũ ở gần 8 tỉnh ĐBSCL (Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long), đã đưa trên 200.000 hộ vượt lũ với cơ sở hạ tầng thiết yếu như đường giao thông bộ, trường học, trạm xá, chợ, nước sạch, điện, cơ sở văn hóa… vượt qua đợt lũ năm lịch sử. Chương trình này đã đảm bảo mục tiêu sống an toàn và tiến tới ổn định. Ngày nay nhiều cụm dân cư đã phát triển sầm uất.

Tuy vậy, với những đổi thay của cuộc sống cũng như sự biến đổi của khí hậu, chúng ta những người trong cuộc, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan những thành công và chưa thành công của việc quy hoạch, kiến trúc mà chúng ta đã thực hiện trong thời gian qua để giúp chúng ta tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới hiệu quả hơn.

Thực hiện Nghị quyết của Chính Phủ, giới nghề chúng ta sẽ tập trung thảo luận, đề xuất xung quanh các vấn đề:

  • Nhìn nhận mô hình tôn nền – vượt lũ để sống chung với lũ đã triển khai trong giai đoạn vừa qua. Những đề xuất – giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư đáp ứng nhu cầu sống và sinh hoạt của nhân dân.
  • Để chủ động sống chung với biến đổi khí hậu, thích ứng với mô hình sản xuất mới, các giải pháp nào là phù hợp với người dân ĐBSCL, phù hợp với phương thức sản xuất, đặc biệt là:
    • Hệ thống dân cư nông thôn cần được tổ chức lại, cải tạo lại như thế nào (phát triển tự nhiên theo cụm, tuyến…);
    • Nhà ở và vật liệu xây dựng nhà ở thích hợp với những biến đổi cực đoan của khí hậu, hướng tới mô hình sống hiện đại, bền vững;
    • Hạ tầng kỹ thuật theo cộng đồng dân cư trong điều kiện mới cần cải thiện ở khâu nào? Giao thông, cấp nước sạch, cấp điện, môi trường (rác thải, nghĩa trang)…? Hạ tầng xã hội cần ưu tiên phát triển để nâng cao trình độ văn hóa cho người dân.
    • Công nghệ mới nào và chính sách cơ chế nào thích hợp cho phát triển nông thôn mới, cuộc sống mới ở ĐBSCL thời kỳ BĐKH.
  • KTS – Hội KTS Việt Nam chúng ta có thể tham gia, triển khai chương trình, dự án nào, với vai trò nào là hiệu quả để các điểm dân cư và hệ thống đô thị được phát triển bền vững?
  • Nội dung cuộc Gặp gỡ Mùa thu 2017 cũng đồng thời thực hiện 4 nhiệm vụ của kiến trúc Việt Nam trong giai đoạn này là:
    • Chủ động chung sống với Biến đổi khí hậu;
    • Thúc đẩy Kiến trúc vì cộng đồng, chăm lo những bộ phận dân cư bị thiệt thòi do BĐKH;
    • Góp sức giải quyết vấn đề môi trường đô thị và Nông thôn đang xuống cấp;
    • Ứng dụng, chuyển giao và phát triển công nghiệp tiên tiến vào cuộc cách mạng lần thứ 4 vào kiến trúc để đưa Kiến trúc Việt Nam đi cùng với thế giới;

Việc kiến trúc là việc của toàn xã hội. Do vậy, chúng ta vui mừng chào đón sự tham gia và cùng trao đổi của rất nhiều chuyên gia, các nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực khác nhau… có cùng tâm huyết về xây dựng và phát triển nông thôn ĐBSCL. Tôi tin rằng, với sự đa dạng và phong phú về nội dung, đối tượng, cách nhìn, cách đề xuất, sự chung tay của các giới, các ngành khoa học và cả cộng đồng sẽ gợi mở những hướng đi, cách làm cho Hội KTS Việt Nam, cho mỗi KTS để góp phần xây dựng vùng ĐBSCL phát triển bền vững trong sự thích ứng với BĐKH.

KTS. Nguyễn Tấn Vạn
Chủ tịch Hội KTS Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2017)