1. Đặt vấn đề
Giải pháp dựa vào thiên nhiên là các hành động bảo vệ, bảo tồn, phục hồi, sử dụng và quản lý bền vững các hệ sinh thái trên cạn, nước ngọt, ven biển và biển, nhằm giải quyết hiệu quả các thách thức xã hội, kinh tế, môi trường, đồng thời mang lại lợi ích về phúc lợi con người, dịch vụ hệ sinh thái, khả năng chống chịu và đa dạng sinh học.
Quảng Ninh là địa phương hiếm hoi hội tụ đồng thời ba dạng tài nguyên thiên nhiên đặc trưng trong cùng một không gian lãnh thổ: Rừng núi phía Tây Bắc, biển đảo với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long ở phía Đông Nam, và bể than Đông Bắc trải dài qua các đô thị trung tâm Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều. Sự cộng hưởng của ba loại tài nguyên này vừa là lợi thế và động lực phát triển kinh tế xã hội đặc biệt, vừa đặt ra thách thức lớn về quy hoạch khi khai thác, xây dựng, đô thị hóa nhanh vừa đặt ra yêu cầu về bảo vệ môi trường và giải quyết xung đột không gian sử dụng đất. Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để tăng trưởng kinh tế – đô thị không đánh đổi bằng suy thoái môi trường và cạn kiệt tài nguyên?
Cấu trúc “Rừng núi – Đô thị – Biển đảo” của Quảng Ninh giàu tiềm năng phát triển không gian đô thị đặc trưng, nhưng cũng đặt ra nhiều bài toán cân bằng là: Giữa khai thác than và bảo tồn cảnh quan, giữa mở rộng đô thị và duy trì cảnh quan thiên nhiên, giữa phát triển hạ tầng cùng tiện ích ven biển và bảo vệ hệ sinh thái vịnh di sản… Sự phối hợp hài hòa giữa ba loại tài nguyên này thông qua quy hoạch tích hợp chính là nền tảng và cơ hội cho mô hình phát triển đô thị dựa vào thiên nhiên của Quảng Ninh.
2. Tiềm năng và lợi thế tự nhiên của Quảng Ninh cho phát triển đô thị
- Tài nguyên rừng: Quảng Ninh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, tập trung chủ yếu ở các xã miền núi phía Bắc và Tây Bắc như Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Quảng Hà. Hệ thống rừng đặc dụng, tiêu biểu là khu di tích – danh thắng Yên Tử và các khu bảo tồn thiên nhiên, không chỉ có giá trị đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen mà còn mang giá trị văn hóa – tâm linh gắn với Thiền phái Trúc Lâm. Bên cạnh đó, hệ thống rừng ngập mặn ven biển tại các cửa sông, bãi triều thuộc Tiên Yên, Đầm Hà, Quảng Yên có vai trò đặc biệt quan trọng: Vừa là “lá chắn xanh” chống xói lở, giảm tác động của bão và nước biển dâng, vừa là môi trường sinh sản, nuôi dưỡng nguồn lợi thủy sản, hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng ven biển. Đối với phát triển đô thị, tài nguyên rừng có thể được khai thác theo hai hướng: 1) Hình thành các hành lang xanh, vành đai sinh thái bao quanh và tiếp cận sâu vào không gian đô thị, tạo không gian đệm giữa đô thị và tự nhiên cũng như chuyển tiếp hài hòa của hệ sinh thái toàn vùng; 2) Phát triển du lịch sinh thái rừng, biển và du lịch tâm linh gắn với Yên Tử, tạo động lực kinh tế bổ trợ cho địa phương.
- Tài nguyên biển: Với đường bờ biển dài, hệ thống hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ, cùng Vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên thế giới, Quảng Ninh sở hữu tài nguyên biển có giá trị đặc biệt cả về sinh thái, cảnh quan lẫn kinh tế. Vịnh Bái Tử Long, quần đảo Vân Đồn, Cô Tô bổ sung không gian phát triển du lịch biển đảo cao cấp và nghỉ dưỡng sinh thái. Tài nguyên biển tạo ra ba trụ cột phát triển đô thị: Kinh tế du lịch – dịch vụ biển gắn với thương hiệu di sản thiên nhiên thế giới; kinh tế cảng biển và logistics, tận dụng vị trí cửa ngõ giao thương với Đông Bắc Á; kinh tế thủy sản, nuôi trồng biển công nghệ cao, ít tác động môi trường. Tuy nhiên, chính giá trị di sản đặc biệt của Vịnh Hạ Long cũng đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về giới hạn phát triển, đòi hỏi mọi định hướng đô thị hóa ven vịnh phải tuân thủ chặt chẽ quy định bảo tồn và hạn chế lấn biển.
- Tài nguyên khoáng sản: Quảng Ninh là trung tâm khai thác than lớn nhất cả nước, với bể than Đông Bắc trải dài qua Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí và Đông Triều. Hoạt động khai thác than hơn một thế kỷ qua đã định hình bản sắc công nghiệp – đô thị đặc trưng của vùng mỏ, đồng thời tạo nguồn thu ngân sách và việc làm quan trọng. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tài nguyên khoáng sản cần được nhìn nhận lại theo hướng khai thác có kiểm soát, gắn với lộ trình giảm dần tỷ trọng, đồng thời đẩy mạnh phục hồi môi trường, cải tạo bãi thải, moong khai thác thành không gian xanh, công viên sinh thái hoặc quỹ đất phát triển đô thị đặc thù.
3. Thực trạng phát triển đô thị Quảng Ninh nhìn từ góc độ tài nguyên – môi trường
Quy mô và cấu trúc không gian đô thị: Quảng Ninh có diện tích tự nhiên khoảng 6.232 km², dân số khoảng 1,52 triệu người, tổ chức thành 54 đơn vị hành chính cấp xã (30 phường, 22 xã, 2 đặc khu Vân Đồn, Cô Tô). Tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh đạt trên 81,23%, thuộc nhóm cao nhất cả nước – phản ánh một cấu trúc lãnh thổ đã chuyển hóa sâu sắc từ mô hình tỉnh công nghiệp – nông nghiệp sang mô hình đô thị đa cực, đa trung tâm. Đô thị Quảng Ninh không phát triển theo mô hình đơn cực với một đô thị trung tâm áp đảo như nhiều tỉnh khác, mà hình thành hệ thống đô thị mạng lưới gần như đồng cấp: Khu vực Hạ Long – Cẩm Phả – Vân Đồn tập trung hành chính, du lịch và kinh tế biển; khu vực Uông Bí – Đông Triều – Quảng Yên phát triển công nghiệp, đô thị và logistics; khu vực Móng Cái – Quảng Hà giữ vai trò trung tâm kinh tế cửa khẩu. Hệ thống đô thị phát triển theo tuyến, bám các trục giao thông huyết mạch và hình thành chuỗi liên kết dọc hành lang ven biển, kết nối trong nước và quốc tế qua cao tốc Hải Phòng – Hạ Long – Vân Đồn – Móng Cái, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, hệ thống cảng biển nước sâu và các cầu liên vùng (Bạch Đằng, Cửa Lục, Vân Đồn).
Áp lực đô thị hóa lên hệ sinh thái tự nhiên: Quá trình đô thị hóa nhanh tại các đô thị trung tâm, đặc biệt là Hạ Long sau khi sáp nhập với Hoành Bồ, đã tạo áp lực đáng kể lên quỹ đất rừng và không gian ven biển. Việc san lấp lấn biển để mở rộng quỹ đất xây dựng, phát triển khu đô thị mới, khu du lịch nghỉ dưỡng ven vịnh tiềm ẩn nguy cơ tác động đến chất lượng nước, trầm tích và hệ sinh thái đáy vịnh nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Diện tích rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn tại một số khu vực cũng chịu áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ hạ tầng, du lịch, làm gia tăng nguy cơ xói mòn, sạt lở trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Mâu thuẫn giữa khai khoáng và phát triển đô thị – du lịch: Một thách thức đặc thù của Quảng Ninh là sự tồn tại song song, xen kẽ trong không gian giữa hoạt động khai thác than và các khu vực đô thị, du lịch. Mâu thuẫn này đặt ra yêu cầu cấp thiết về phân vùng chức năng rõ ràng, xác định ranh giới cứng và các vùng đệm giữa khu vực khai khoáng, khu vực đô thị – dịch vụ và khu vực bảo tồn, đồng thời xây dựng lộ trình di dời, chuyển đổi công năng đối với các khu mỏ đã hết trữ lượng hoặc nằm sát khu vực đô thị hóa. Quảng Ninh đã có một số nỗ lực bước đầu, như cải tạo, phủ xanh một số bãi thải mỏ, quy hoạch lại không gian công cộng ven vịnh, phát triển công viên, quảng trường ven biển tại Hạ Long… Đó là những tín hiệu tích cực, đã từng bước được mở rộng và cần tiếp tục được triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn TP.
Hướng tới cấu trúc hành lang sinh thái thống nhất: Nhìn tổng thể, ba trụ cột tài nguyên rừng, khoáng sản và biển đảo cần được nhìn nhận không phải là ba mảnh ghép tách biệt, cạnh tranh không gian phát triển, mà là các thành phần tương hỗ trong một hệ khung sinh thái xuyên suốt theo hướng Tây Bắc – Đông Nam: Rừng đầu nguồn phòng hộ, cung cấp nước và điều hòa vi khí hậu; vùng đô thị, khai khoáng trung tâm yêu cầu cao về quản lý môi trường và tổ chức không gian phát triển hài hòa; biển đảo, di sản đòi hỏi mức độ bảo tồn nghiêm ngặt. Rừng đầu nguồn nuôi dưỡng nguồn nước cho đô thị hạ lưu; các bãi thải mỏ, moong khai thác sau đóng cửa có tiềm năng phục hồi thành công viên sinh thái, quỹ đất xanh; và rừng ngập mặn ven biển đóng vai trò vùng đệm trước khi tiếp giáp không gian di sản. Quy hoạch tích hợp theo hệ khung sinh thái này chính là nền tảng chiến lược cho mô hình đô thị dựa vào thiên nhiên của Quảng Ninh.
4. Một số đề xuất về định hướng phát triển đô thị Quảng Ninh dựa vào thiên nhiên
Quy hoạch không gian đô thị hài hòa với địa hình và hệ sinh thái: Xây dựng mô hình đô thị đa trung tâm, phát triển theo ba lớp không gian “núi – đô thị – biển”. Chú trọng xác lập các hành lang sinh thái liên kết vùng rừng Tây Bắc với các đô thị trung tâm và không gian biển Đông Nam, đóng vai trò vừa là vùng đệm sinh thái, vừa là trục cảnh quan; trục giao thông xanh kết nối các đô thị trong tỉnh đóng vai trò mạng lưới kết nối các hành lang sinh thái và hình thành mạng lưới sinh thái cảnh quan hoàn chỉnh cho toàn đô thị Quảng Ninh. Việc phân vùng chức năng cần dựa trên đánh giá khả năng chịu tải môi trường của từng khu vực, trong đó những khu vực có giá trị sinh thái, cảnh quan cao như vùng đệm Vịnh Hạ Long, rừng ngập mặn ven biển, rừng đặc dụng Yên Tử và các khu bảo tồn thiên nhiên cần được xác định là vùng hạn chế hoặc phát triển có kiểm soát nghiêm ngặt.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng đô thị từ “nâu” sang “xanh”: Đối với các đô thị có nền tảng công nghiệp khai khoáng như Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, cần thực hiện theo lộ trình cụ thể: Giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác than trong cơ cấu kinh tế đô thị, đồng thời đẩy mạnh phục hồi môi trường tại các khu vực đã và đang khai thác. Bãi thải mỏ, moong khai thác sau đóng cửa cần được cải tạo thành công viên sinh thái, hồ điều hòa, khu trồng rừng phục hồi hoặc quỹ đất phát triển đô thị xanh, thay vì để hoang hóa hoặc chuyển đổi thiếu kiểm soát. Đồng thời, cần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong khai khoáng, sử dụng hợp lý phụ phẩm, đất đá thải, giảm thiểu phát thải và tác động cảnh quan đô thị xung quanh.
Phát triển đô thị di sản gắn với du lịch sinh thái biển: Với giá trị đặc biệt của Vịnh Hạ Long và hệ thống đảo Vân Đồn, Cô Tô, phát triển đô thị cần gắn chặt với mục tiêu bảo tồn di sản, xây dựng mô hình “đô thị di sản” trong đó không gian xây dựng được kiểm soát chặt chẽ về chiều cao, mật độ, khoảng lùi so với mặt nước, nhằm giữ gìn giá trị cảnh quan tự nhiên của vịnh khi nhìn từ biển vào và từ đô thị ra biển. Phát triển du lịch sinh thái biển cần ưu tiên các mô hình ít tác động, như du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm hệ sinh thái rừng ngập mặn, hạn chế tối đa việc san lấp, bê tông hóa bờ biển để xây dựng resort, khu nghỉ dưỡng quy mô lớn tại khu vực có giá trị sinh thái cao.
Bảo vệ, phục hồi và phát triển hệ thống rừng đô thị: Song song với bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ở miền núi, các đô thị trung tâm cần chú trọng phát triển hệ thống cây xanh, công viên sinh thái nội đô, xem đây là một phần không thể tách rời của hạ tầng đô thị, các yếu tố quan trọng của hệ sinh thái đô thị tổng thể, có chức năng điều hòa vi khí hậu, giảm hiệu ứng đảo nhiệt và tăng khả năng chống chịu trước thiên tai. Hệ thống rừng ngập mặn ven biển cần được bảo vệ nghiêm ngặt và mở rộng diện tích trồng mới tại các cửa sông, bãi triều, đóng vai trò tuyến phòng thủ tự nhiên trước nguy cơ nước biển dâng và xâm nhập mặn.
5. Kết luận
Quảng Ninh hội tụ đầy đủ điều kiện tự nhiên đặc thù để trở thành hình mẫu về phát triển đô thị dựa vào thiên nhiên tại Việt Nam, với sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên rừng, biển và khoáng sản trong cùng một không gian lãnh thổ. Để hiện thực hóa tiềm năng này, cần một tầm nhìn quy hoạch dài hạn, nhất quán, đặt yếu tố bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và giá trị di sản làm nền tảng, đồng thời chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng từ dựa vào khai thác tài nguyên hữu hạn sang phát huy giá trị tài nguyên tái tạo và cảnh quan bền vững.
Phát triển đô thị Quảng Ninh theo hướng dựa vào thiên nhiên không chỉ là yêu cầu tất yếu nhằm tạo lập bản sắc đặc trưng cho đô thị, gìn giữ tài nguyên thiên nhiên, di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long cho các thế hệ mai sau; mà còn là chiến lược xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành đô thị xanh, sinh thái, hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
TS.KTS. Phạm Anh Tuấn
Chủ tịch Chi hội KTS Cảnh quan Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2026)
Tài liệu tham khảo
1. Thủ tướng Chính phủ (2023): Quyết định 1123/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến 2075;
2. United Nations Environment Programme (2022), Resolution 5/5: Nature-based Solutions for Supporting Sustainable Development (UNEP/EA.5/Res.5), Nairobi: United Nations Environment Programme;
3. Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia (2026): Đồ án Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.





















