Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi mô hình phát triển đô thị, yêu cầu tái cấu trúc không gian vùng đô thị phía Nam trở nên cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đảm bảo phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh quốc tế. Bài tham luận phân tích đề xuất hợp nhất TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu thành một siêu đô thị vùng, nhằm hình thành một động lực phát triển mới cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Trên cơ sở phân tích các chiều cạnh không gian, kinh tế và thể chế, bài viết làm rõ những cơ hội và thách thức của quá trình hợp nhất, đặc biệt nhấn mạnh vai trò tích hợp chức năng, giảm tải vùng lõi đô thị và nâng cao năng lực điều phối vùng. Mô hình “đa trung tâm – liên kết chức năng” được đề xuất, với ba hành lang phát triển chiến lược: Cảng – Sân bay, Công nghiệp – Sáng tạo và Du lịch – Sinh thái, đi kèm với hệ thống hạ tầng tích hợp và định hướng số hóa không gian vùng.
Bài viết cũng kiến nghị thiết lập cơ chế điều phối vùng có thực quyền, thí điểm đặc khu phát triển liên kết và xây dựng quy hoạch tích hợp tầm nhìn đến năm 2050.
1. Đặt vấn đề
Vùng đô thị TP.HCM là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đóng vai trò dẫn dắt phát triển khu vực phía Nam và toàn quốc, với các thế mạnh vượt trội về công nghiệp chế biến – chế tạo, tài chính – ngân hàng, logistics và công nghệ cao. Đồng thời, vùng còn hội tụ các cơ sở hạ tầng chiến lược như Cảng Cát Lái, Cái Mép – Thị Vải, sân bay Tân Sơn Nhất và Long Thành (sắp đưa vào hoạt động), cùng hệ thống khu công nghiệp – công nghệ cao dày đặc tại Bình Dương và Đồng Nai.
Trong khi đó, chủ trương của Trung ương về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đang mở ra cơ hội lớn để thiết lập một cơ chế quản trị đô thị vùng mới, hiệu quả hơn. Việc hợp nhất hành chính và quy hoạch tích hợp sẽ cho phép tổ chức lại không gian phát triển, giảm bớt đơn vị hành chính trung gian, tăng cường phân cấp cho cấp cơ sở (phường, xã), đồng thời thống nhất điều phối chiến lược phát triển đô thị từ cấp tỉnh.
Trước yêu cầu thực tiễn và xu thế toàn cầu hóa, đề xuất hợp nhất hành chính giữa TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu là một bước đi chiến lược nhằm hình thành “siêu đô thị ” theo hướng đa trung tâm – liên kết chức năng – quản trị phân cấp – hạ tầng tích hợp – số hóa toàn diện, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, là bước đi chiến lược để nâng cao hiệu quả phát triển, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của toàn vùng. Phân tích rõ các yếu tố này sẽ là cơ sở cho việc hoạch định quy hoạch tích hợp và thể chế hóa mô hình đô thị vùng phù hợp với bối cảnh mới.
2. Tác động của việc sáp nhập không gian đô thị
Việc sáp nhập không gian đô thị giữa TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và tái cấu trúc đơn vị hành chính cấp tỉnh, sẽ tạo ra chuỗi tác động sâu rộng đến mô hình phát triển không gian, thể chế điều hành và cách thức tổ chức quản lý đô thị vùng phía Nam. Các tác động này có thể được nhận diện trên ba phương diện chính:
2.1. Lợi ích tích hợp không gian – chức năng
Sự hợp nhất về không gian hành chính giúp hình thành một không gian đô thị mở rộng có quy mô dân số trên 20 triệu người – tương đương các siêu đô thị như Tokyo, Delhi, hoặc São Paulo – và chiếm gần 50% GDP quốc gia. Một vùng đô thị liên thông, vượt qua các ranh giới địa lý cứng trước đây, từ đó mở rộng khả năng tổ chức không gian phát triển linh hoạt và tối ưu hóa phân bổ chức năng vùng. Trong mô hình chính quyền 2 cấp, việc rút gọn đơn vị trung gian (quận/huyện) và tổ chức hành chính dựa trên phường – xã là cơ hội để quy hoạch, đầu tư và vận hành hạ tầng theo cấu trúc tích hợp, đa cấp – liên vùng.
Ba địa phương với đặc điểm chức năng bổ trợ (tài chính – công nghệ tại TP.HCM, sản xuất – logistics tại Bình Dương, cảng biển – du lịch tại Bà Rịa – Vũng Tàu) khi sáp nhập sẽ tạo nên một không gian phát triển có tính phân công – liên kết rõ ràng, giảm chồng chéo, tối ưu hóa chuỗi giá trị vùng. Không gian mở rộng này cho phép tái cấu trúc các cực chức năng phát triển theo hướng chuyên biệt và hiệu quả hơn:
- TP.HCM tiếp tục là trung tâm tài chính – dịch vụ, giáo dục đại học, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ cao, nơi hội tụ nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đô thị năng động.
- Bình Dương giữ vai trò là trung tâm sản xuất công nghiệp tiên tiến, logistics tích hợp, nơi có khả năng tiếp nhận và phân phối chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển mạnh cảng biển quốc tế, công nghiệp năng lượng và du lịch biển – sinh thái, bổ trợ hoàn chỉnh chuỗi giá trị vùng.
Việc phân bố lại chức năng theo đặc điểm sinh thái – kinh tế từng địa phương giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, nhân lực, và giảm thiểu xung đột phát triển giữa các khu vực trong vùng.
2.2. Hạn chế các áp lực của đô thị trung tâm
Việc sáp nhập vùng giúp khắc phục các hệ quả của phát triển tập trung đơn cực tại TP.HCM, vốn dẫn đến quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông, ô nhiễm và mất cân bằng chức năng đô thị – nông thôn. Khi tái phân bố chức năng phát triển về các trung tâm như Thủ Dầu Một, Phú Mỹ, Long Thành…, sẽ góp phần giảm tải khu vực trung tâm, đồng thời tăng khả năng phát triển đô thị theo hướng vệ tinh – liên kết, với cơ chế điều tiết hiệu quả từ cấp tỉnh.
Sự kết hợp giữa các hành lang phát triển chiến lược và mô hình đa trung tâm còn mở ra khả năng phát triển các vùng đệm sinh thái, vùng nông nghiệp đô thị và các cụm đô thị mới – đặc biệt phù hợp với hướng tiếp cận mới trong tổ chức không gian theo các phân vùng: dự trữ phát triển – đang phát triển – cần tái thiết.
Việc hợp nhất vùng sẽ cho phép tái phân bố chức năng theo hướng giảm tải cho khu trung tâm, chuyển một phần dân cư, cơ sở sản xuất, dịch vụ hậu cần và khu công nghệ cao về các đô thị vệ tinh như Thủ Dầu Một (Bình Dương), Phú Mỹ (Bà Rịa – Vũng Tàu), Long Thành (Đồng Nai), từ đó giúp cân bằng phát triển và nâng cao chất lượng sống toàn vùng.
3. Vấn đề và thách thức đến quy hoạch và tổ chức không gian phát triển đô thị khi sáp nhập không gian đô thị TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu
3.1. Khác biệt sâu sắc trong định hướng phát triển không gian – kinh tế
Mặc dù cùng thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng ba địa phương có các chiến lược phát triển với mục tiêu, trọng tâm kinh tế và cấu trúc không gian khác biệt rõ rệt:
- TP.HCM định hướng là trung tâm tài chính, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo tầm quốc tế, với mô hình đô thị nén cao, dịch vụ cao cấp, tập trung vào tài chính, công nghệ thông tin, dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao.
- Bình Dương theo đuổi mô hình công nghiệp sản xuất tiên tiến, đô thị thông minh, hướng tới trở thành trung tâm sản xuất – dịch vụ công nghiệp thông minh của Đông Nam Á, với các khu công nghiệp lớn, đô thị vệ tinh như Thủ Dầu Một, Dĩ An, Thuận An.
- Bà Rịa – Vũng Tàu tập trung vào kinh tế biển, logistics cảng nước sâu và du lịch biển, đóng vai trò cổng giao thương quốc tế bằng đường biển lớn nhất miền Nam.
Thách thức: Sự khác biệt này tạo ra nguy cơ phân mảnh không gian chức năng nếu không tích hợp quy hoạch đồng bộ, dẫn tới lãng phí nguồn lực, cạnh tranh bất lợi nội vùng, chồng chéo hạ tầng và giảm hiệu quả phát triển. Trong mô hình chính quyền 2 cấp, các đơn vị phường – xã là đầu mối triển khai quy hoạch chi tiết, nhưng nếu thiếu định hướng rõ ràng từ cấp tỉnh, sự thiếu đồng bộ sẽ dễ dẫn đến phát triển manh mún, thiếu liên kết chức năng giữa các trung tâm đô thị trong vùng.
3.2. Nguy cơ xung đột giữa các chiến lược phát triển địa phương
- Đầu tư trùng lắp: Nếu không có một quy hoạch vùng hợp nhất, các địa phương có thể đầu tư vào các lĩnh vực tương tự nhau như logistics, dịch vụ, khu công nghệ cao, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh thay vì bổ trợ.
- Chênh lệch ưu tiên phát triển: Bình Dương ưu tiên công nghiệp, TP.HCM ưu tiên dịch vụ tài chính, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu nhắm tới cảng biển và du lịch. Nếu không điều phối chiến lược, sẽ khó đồng bộ hóa hệ thống giao thông, năng lượng, đô thị và công nghiệp.
Thách thức: Thiếu sự đồng thuận về thứ tự ưu tiên phát triển các khu vực và lĩnh vực sẽ làm suy giảm sức mạnh tổng thể của vùng đô thị hợp nhất.
3.3. Thiếu cơ chế tích hợp và điều chỉnh quy hoạch hiện hữu
- Các quy hoạch hiện tại được phê duyệt cho từng địa phương (theo Quyết định số 1528/QĐ-TTg, 1629/QĐ-TTg và 790/QĐ-TTg), dựa trên mục tiêu địa phương hóa, thiếu tính tích hợp vùng.
- Chưa có khung pháp lý cho quy hoạch vùng đô thị liên tỉnh, dẫn tới lúng túng trong việc điều chỉnh hoặc tích hợp các quy hoạch cấp tỉnh, nhất là khi các dự án đã và đang triển khai.
Thách thức: Việc phải điều chỉnh hoặc tái lập toàn bộ quy hoạch trên diện rộng, với khối lượng công việc lớn và nguy cơ vướng mắc pháp lý (đền bù, tái định cư, đầu tư dở dang).
3.4. Phức tạp trong tổ chức không gian đa trung tâm
- Định hình đa trung tâm: Với mô hình “đa trung tâm – liên kết chức năng”, việc xác định rõ vai trò, ranh giới, vùng ảnh hưởng của từng trung tâm (Thủ Đức, Thủ Dầu Một, Phú Mỹ…) là rất phức tạp.
- Quản lý vùng đệm: Giữa các cực phát triển cần có các vùng đệm sinh thái, vùng nông nghiệp đô thị, hành lang xanh…, đòi hỏi quy hoạch phân khu chi tiết và cơ chế bảo vệ.
Thách thức: Nếu không kiểm soát tốt, nguy cơ hình thành các “vùng trắng” phát triển thiếu kiểm soát, hoặc đô thị hóa tràn lan gây áp lực lên hạ tầng và môi trường.
4. Mô hình đô thị đề xuất: Đô thị vệ tinh-Đa liên kết.
4.1. Mô hình đô thị bền vững
Trên cơ sở phân tích hiện trạng phát triển không gian và xu thế liên kết vùng, bài viết đề xuất mô hình “Đô thị vệ tinh – Đa liên kết” như một hướng đi khả thi và bền vững cho vùng đô thị hợp nhất TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu. Mô hình này được xây dựng theo nguyên lý: mỗi trung tâm đô thị đảm nhận một vai trò chức năng chủ đạo trong hệ sinh thái đô thị vùng, đồng thời kết nối hài hòa với nhau thông qua các trục phát triển chiến lược định hình các liên kết vật lý, liên kết chức năng, liên kết không gian vùng.
Đô thị Trung tâm xác định tại khu vực trung tâm TP HCM hiện hữu (tổ chức theo mô hình đa trung tâm, TOD) và chuỗi đô thị vệ tinh Thủ Dầu Một-Tân Uyên-Bến Cát, Cần Giờ, Bà Rịa, Vũng Tàu, Tân Túc kết nối chủ đạo bằng hệ thống đường sắt tốc độ cao, đường bộ theo định hướng.
Bốn trục phát triển chính được xác lập, bao gồm:
- Hành lang Tài chính – Sáng tạo – Công nghiệp (TT hiện hữu – Thủ Đức – Dĩ An, Thuận An – Thủ Dầu Một – Củ Chi – khu vực CN bắc Bình Dương): Trục này tập trung phát triển các ngành công nghiệp tiên tiến, công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Với nền tảng từ các khu công nghiệp hiện hữu của Bình Dương, cùng các trung tâm nghiên cứu – đại học lớn tại TP.HCM, đây sẽ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức và công nghiệp 4.0 của vùng.
- Hành lang Cảng – Sân bay (Cần giờ – Cái Mép – Long Thành – Thủ Đức): Đây là trục giao thương chiến lược, đóng vai trò kết nối trung tâm logistics quốc tế và khu vực công nghiệp công nghệ cao. Việc tích hợp Cảng trung chuyển quốc tế Cần giờ, cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, sân bay quốc tế Long Thành, và khu công nghệ cao Thủ Đức sẽ tạo nên một chuỗi giá trị logistics – sản xuất – xuất khẩu có khả năng cạnh tranh toàn cầu.
- Hành lang Du lịch sinh thái (sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, khu dự trữ sinh quyển) – Du lịch biển (Xuyên Mộc – Vũng Tàu – Côn Đảo – Cần Giờ – Tây Nam bộ): Đây là trục phát triển gắn với bảo tồn sinh thái và khai thác giá trị tự nhiên. Kết nối dải đô thị ven biển Bà Rịa Vũng Tàu với khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ và các vùng sinh thái ven sông – ven biển phía nam TP.HCM – Tây Nam bộ, hành lang này định hướng phát triển du lịch bền vững, đô thị sinh thái và thích ứng biến đổi khí hậu.
- Hành lang chức năng chuyên sâu: khu vực Quận 7 – Bình chánh – Nhà Bè phát triển các trung tâm Y tế, Giáo dục, Văn hóa Thể Thao chất lượng cao.
Sự phối hợp chức năng giữa các trung tâm không chỉ giúp tăng tính chuyên biệt và hiệu quả kinh tế vùng, mà còn đảm bảo phát triển cân bằng, giảm áp lực cho khu vực trung tâm và nâng cao khả năng phục hồi của toàn vùng trước các cú sốc bên ngoài.
4.2. Tích hợp hạ tầng và số hóa vùng
Để vận hành hiệu quả mô hình đô thị đa trung tâm, một yêu cầu cốt lõi là xây dựng hệ thống hạ tầng tích hợp, đa phương thức và thông minh, đảm bảo kết nối thông suốt giữa các trung tâm chức năng và các đô thị vệ tinh.
Các định hướng chủ đạo bao gồm:
- Hoàn thiện và khép kín các tuyến vành đai giao thông (Vành đai 3 và 4), đóng vai trò kết nối các cực phát triển trong và ngoài vùng, giảm tải áp lực giao thông xuyên tâm tại TP.HCM.
- Phát triển mạng lưới đường sắt vùng và metro xuyên tỉnh, đặc biệt là các tuyến kết nối TP.HCM – Dĩ An – Thủ Dầu Một – Long Thành – Phú Mỹ – Vũng Tàu, cho phép luân chuyển hàng hóa và hành khách hiệu quả với chi phí thấp và thời gian tối ưu.
- Xây dựng nền tảng đô thị thông minh vùng, bao gồm hệ thống dữ liệu lớn (Big Data), bản đồ số, quản trị số liệu hạ tầng và vận hành giao thông theo thời gian thực. Hướng tiếp cận này phù hợp với định hướng mới của Chính phú, trong đó nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số và tích hợp dữ liệu không gian vùng làm nền tảng cho quy hoạch thích ứng và điều hành linh hoạt.
Tích hợp hạ tầng và số hóa không chỉ là công cụ vận hành hiệu quả vùng đô thị mới, mà còn là cơ sở xây dựng năng lực quản trị hiện đại, minh bạch và có khả năng thích ứng nhanh trước các biến động về kinh tế – xã hội và môi trường trong tương lai.
5. Một số khuyến nghị chiến lược
Trên cơ sở phân tích thực tiễn, kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển bài viết đề xuất một số định hướng chiến lược nhằm đảm bảo quá trình hợp nhất đô thị vùng phía Nam diễn ra hiệu quả, đồng bộ về thể chế và hạ tầng:
5.1. Thiết lập thể chế điều hành có thực quyền
Cơ quan này có thẩm quyền đầy đủ về:
- Quy hoạch tích hợp và phân bố chức năng vùng.
- Phân bổ ngân sách phát triển và điều tiết đầu tư công.
- Điều phối các dự án hạ tầng trọng điểm liên tỉnh và siêu tỉnh.
- Kiểm soát và chia sẻ dữ liệu không gian, dân cư và phát triển.
Mô hình này cần học hỏi kinh nghiệm các cơ chế điều phối vùng tại Nhật Bản (Tokyo Metropolitan Government), Hàn Quốc (Seoul Capital Area) hay mô hình Paris Métropole.
5.2. Thí điểm “Đặc khu phát triển liên kết”
Cần thí điểm mô hình “Đặc khu phát triển liên kết” tại tam giác kinh tế Cái Mép – Long Thành – Thủ Đức, với các đặc điểm:
- Cơ chế pháp lý đặc thù, cho phép linh hoạt quy hoạch và thu hút đầu tư.
- Tự chủ tài chính, thí điểm mô hình quản trị số – minh bạch hóa quy trình đầu tư.
- Ưu tiên phát triển hạ tầng logistics, công nghiệp công nghệ cao và đào tạo nhân lực.
- Đặc khu này sẽ là vùng tăng trưởng “mũi nhọn” làm mẫu cho các mô hình phát triển vùng khác trong tương lai.
5.3 Điều chỉnh kết nối giao thông và Chiến lược phát triển đường sắt đô thị
Thực trạng kết nối giao thông giữa Tp.HCM – Bình Dương, về phía đường bộ định hướng quy hoạch giao thông giữa Tp.HCM – Bình Dương được kết nối khá tốt, với 11 vị trí kết nối liên tỉnh, trong đó có 7 vị trí kết nối hiện hữu và 4 vị trí dự kiến (Vành đai 3, 4, Huỳnh Thị Bằng, Bùi Công Trừng). Về giao thông đường sắt, hiện tại hai địa phương đã có tuyến đường sắt quốc gia kết nối; định hướng phát triển phương thức giao thông này tiếp tục được tăng cường sự gắn kết với tuyến đường sắt Tp.HCM – Lộc Ninh. Ngoài ra, hệ thống đường sắt đô thị gồm 04 tuyến kết nối các đô thị, khu vực động lực của 2 địa phương với nhau. Với sự kết nối khá chặt chẽ của phương thức giao thông đường bộ, đường sắt, phục vụ nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa của hành lang kinh tế đô thị – công nghiệp – logistic.
Đối với kết nối giao thông giữa Tp.HCM – Bà Rịa – Vũng Tàu chưa có kết nối giao thông đường bộ trực tiếp giữa hai địa phương mà phải quá cảnh qua Đồng Nai thông qua tuyến QL.51 và dự kiến sẽ bổ sung tuyến cao tốc Bến Lức – Long Thành, cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu. Tương tự đối với mạng lưới giao thông đường sắt liên vùng. Mặc dù, định hướng quy hoạch của ba địa phương đều có hệ thống đường sắt đô thị nhưng không có tuyến nào kết nối trực tiếp Bà Rịa – Vũng Tàu với hai địa phương còn lại. Nhìn một cách tổng thể, các định hướng quy hoạch giao thông hiện nay chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ Bà Rịa – Vũng Tàu với TPHCM, Bình Dương. Vì vậy, việc tăng cường kết nối giao thông để tạo thành khung kết nối chuỗi phát triển không gian kinh tế là điều cần thiết để phát huy tối đa hiệu quả của việc sáp nhập địa giới hành chính.
Để tăng cường mức độ gắn kết Bà Rịa – Vũng Tàu với Tp.HCM, Bình Dương cần bổ sung kết nối giao thông đường bộ, đường sắt đô thị. Đối với giao thông đường bộ, việc nghiên cứu phương án kết nối Tp.HCM – Bà Rịa – Vũng Tàu bằng cầu vượt biển Cần Giờ là một phương án khả dĩ, không những kết nối các đô thị trong phạm vi đơn vị hành chính mà còn tăng liên kết với vùng Tây Nam Bộ, khi tuyến đường ven biển của miền Tây Nam Bộ hình thành.
Bên cạnh đó, việc bổ sung kết nối trực tiếp bằng đường sắt đô thị đến Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ góp phần giãn dân ở khu vực trung tâm Tp. HCM, đồng thời bổ trợ cho sự phát triển du lịch, dịch vụ của hai địa phương. Có thể nghiên cứu phương án tổ chức kéo dài tuyến đường sắt đô thị Cần Giờ đi cặp với cầu vượt biển dự kiến để kết nối với ga depot của hệ thống đường sắt đô thị ở Bà Rịa – Vũng Tàu, tạo thành mạng lưới giao thông có cấu trúc chặt chẽ.
Ngoài ra, xem xét khả năng Điều chỉnh chiến lược phát triển đường sắt đô thị hiện nay theo dự thảo Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung TPHCM đến năm 2040, tầm nhìn đến 2060 đang đề xuất (12 tuyến với tổng chiều dài 582km) theo hướng giảm mật độ phát triển hệ thống đường sắt đô thị thay vì tập trung dày trong các khu vực đô thị hiện hữu, vốn có những khó khăn rất lớn khi thực hiện đầu tư xây dựng bằng cách tăng cường hệ thống GTCC hành khách lớn kết nối mạnh mẽ, tốc độ cao, chi phí thấp hơn với các khu vực Đô thị trực thuộc ngoài ranh TPHCM hiện nay, dễ thực hiện đầu tư xây dựng hơn, tính khả thi cao hơn, đảm bảo việc lưu thông giữa các khu vực sống – làm việc – dịch vụ không bị mất nhiều thời gian di chuyển trong nội bộ TPHCM mới, người dân có điều kiện sống trong môi trường nhiều không gian tiện ích hơn với giá nhà rẻ hơn, nhằm giãn dân ra khỏi khu vực trung tâm hiện hữu.
5.4. Quy hoạch tích hợp tầm nhìn dài hạn
Quy hoạch vùng cần được cập nhật đồng bộ đến năm 2050, tích hợp các yếu tố:
- Biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai (nước biển dâng, mưa lớn cực đoan).
- Năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn.
- Hệ thống quản trị số, bản đồ số không gian đô thị và dữ liệu thời gian thực.
Việc quy hoạch phải dựa trên kịch bản phát triển linh hoạt và thích ứng, bảo đảm khả năng phục hồi của đô thị vùng.
5.5. Tổ chức phát triển đô thị phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Trong bối cảnh thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và chính quyền địa phương 2 cấp, tổ chức phát triển đô thị cần được điều chỉnh theo hướng:
- Cấp tỉnh giữ vai trò định hình chiến lược, phát triển các dự án quy mô lớn, hạ tầng khung liên kết vùng, xác định mạng lưới và phân bổ chức năng các cụm đô thị, thống nhất thực hiện các nội dung phát triển đô thị thông minh, tăng trưởng xanh và ứng phó biến đổi khí hậu.
- Cấp phường (đơn vị hành chính đô thị cơ sở) thực hiện các dự án sử dụng đất quy mô nhỏ, đảm trách phát triển hạ tầng kỹ thuật – xã hội trên địa bàn; xây dựng kế hoạch phát triển đô thị chi tiết, đảm bảo chất lượng, thông minh, bền vững và hiệu quả theo tiêu chí quản lý dựa trên kết quả.
Cấp xã (vùng nông thôn) đóng vai trò cung cấp hạ tầng đầu mối cho các đô thị, phát triển theo định hướng đô thị hóa, đồng thời bảo tồn các giá trị nông nghiệp – sinh thái chiến lược.
Việc phân vùng phát triển đô thị được tổ chức theo 3 nhóm chính: (i) Khu vực dự trữ phát triển, (ii) Khu vực đang phát triển, (iii) Khu vực đã phát triển (cần chỉnh trang, tái thiết). Công cụ chính bao gồm quy hoạch cấp cụm phường – xã ngoại vi và kế hoạch phát triển đô thị cấp phường.
Bên cạnh đó, hệ thống đánh giá chất lượng đô thị sẽ được tổ chức lại theo tiêu chuẩn áp dụng cho từng phường và khu vực đô thị cụ thể, thay thế cách phân loại đô thị theo “loại” truyền thống. Mạng lưới đô thị sẽ vận hành như một hệ thống tích hợp, có phân vai rõ ràng và có cơ chế phối hợp – liên kết theo vùng.
Những điều chỉnh này tạo điều kiện tăng cường hiệu quả quản trị đô thị ở cả cấp tỉnh lẫn cơ sở, đồng thời phù hợp với yêu cầu tích hợp không gian – chức năng trong bối cảnh hợp nhất các đơn vị hành chính.
5.6. Nguyên tắc chung trong giai đoạn chuyển tiếp
1. Duy trì hiệu lực các quy hoạch đã phê duyệt Trong thời gian chưa có quy hoạch tích hợp mới, các quy hoạch hiện hành (quy hoạch tỉnh, quy hoạch chung đô thị, quy hoạch phân khu…) đã được cấp thẩm quyền phê duyệt vẫn còn giá trị pháp lý và có thể tiếp tục sử dụng làm cơ sở cấp phép đầu tư, xây dựng, phát triển dự án. Đây là nguyên tắc kế thừa liên tục, đã được áp dụng trong các đợt sáp nhập đơn vị hành chính trước.
2. Không làm gián đoạn các hoạt động hành chính và đầu tư hợp pháp đang triển khai Các dự án đã có chủ trương đầu tư, hoặc đã được cấp phép theo quy hoạch hiện hành, phải tiếp tục được bảo đảm tính hợp pháp để không gây thiệt hại cho nhà đầu tư và gián đoạn phát triển.
5.7. Một số giải pháp thực hiện
a. Ban hành văn bản hướng dẫn chuyển tiếp (nghị quyết hoặc quy định hành chính lâm thời). Chính quyền cấp tỉnh mới (sau sáp nhập) cần ban hành một quy định hành chính thống nhất, nêu rõ:
- Các loại quy hoạch được tiếp tục sử dụng làm cơ sở quản lý đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuyển tiếp.
- Các loại giấy phép, hồ sơ pháp lý vẫn còn hiệu lực và không cần điều chỉnh.
- Quy trình rà soát, phân loại các quy hoạch có thể kế thừa và những điểm xung đột cần tạm ngưng/điều chỉnh.
b. Rà soát, tích hợp sơ bộ quy hoạch hiện hành theo vùng chức năng (trên bản đồ số). Trong thời gian chờ quy hoạch tích hợp mới, có thể:
- Tạm chia vùng đô thị theo các cụm chức năng đã rõ ràng (công nghiệp, cảng biển, dịch vụ, dân cư).
- Sử dụng hệ thống bản đồ số và dữ liệu quy hoạch hiện hữu để tạo lớp thông tin tích hợp sơ bộ, giúp các sở/ngành cấp tỉnh mới điều phối cấp phép không bị chồng lấn hay mâu thuẫn chức năng.
c. Thiết lập “Tổ công tác quy hoạch tích hợp tạm thời”
Gồm đại diện 3 tỉnh thành cũ, các sở quy hoạch, xây dựng, tài nguyên và cơ quan pháp chế. Tổ công tác có nhiệm vụ:
- Giải quyết các xung đột quy hoạch trong quá trình cấp phép mới.
- Thẩm định tính phù hợp của các dự án trong bối cảnh liên thông vùng.
- Tham mưu cho UBND cấp tỉnh mới về định hướng quy hoạch hợp nhất trong trung hạn.
d. Ưu tiên duy trì các dự án chiến lược đã xác định trong các quy hoạch hiện hành
Các dự án hạ tầng khung (vành đai, metro, cảng, khu công nghệ cao…), khu vực đã xác định là trung tâm chức năng trong mỗi địa phương, cần tiếp tục được ưu tiên cấp phép, triển khai theo quy hoạch cũ, nhằm duy trì tính liên tục phát triển và ổn định xã hội.
6. Kết luận
Việc hợp nhất TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu không chỉ là một bước đi mang tính tổ chức hành chính đơn thuần, mà là một bước chuyển chiến lược nhằm tái cấu trúc toàn diện không gian phát triển đô thị vùng phía Nam. Trong bối cảnh cả nước đang triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, với sự sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh, yêu cầu đặt ra cho vùng đô thị mới là phải hình thành một mô hình quản trị – quy hoạch – đầu tư đồng bộ, tích hợp và thích ứng.
Mô hình “đa trung tâm – liên kết chức năng” cần được cụ thể hóa bằng cơ chế phân cấp – phối hợp rõ ràng giữa cấp tỉnh, cấp phường và cấp xã; kết hợp với quy hoạch tích hợp và hệ thống hạ tầng thông minh. Đồng thời, cần thiết lập thể chế điều phối vùng có thực quyền, làm nền tảng cho việc phân bố chức năng, đầu tư hạ tầng liên kết và quản lý không gian vùng trên cơ sở dữ liệu số và tiêu chí chất lượng.
Việc vận hành hiệu quả vùng siêu đô thị phía Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng thể chế, sự đồng thuận chiến lược và năng lực triển khai ở cả cấp trung ương, địa phương và cơ sở. Nếu thực hiện đúng hướng, vùng đô thị hợp nhất sẽ không chỉ trở thành động lực tăng trưởng quốc gia, mà còn là hình mẫu cho phát triển đô thị tích hợp – thông minh – bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi mô hình phát triển tại Việt Nam.
ThS.KTS Ngô Anh Vũ – Viện trưởng Viện Quy hoạch Xây dựng TP.HCM
© Tạp chí Kiến trúc























