Thành phố chậm

Trong khi chiếc đồng hồ không ngừng xiết chặt vòng cương tỏa, công nghệ giúp chúng ta thực hiện mọi việc được nhanh hơn, thói vội vàng và hối hả len lỏi vào từng xó xỉnh của cuộc sống. Con người được kỳ vọng suy nghĩ nhanh hơn, làm việc nhanh hơn, nói chuyện nhanh hơn, viết nhanh hơn, ăn nhanh hơn và đi lại cũng nhanh hơn…tất cả hình thành một thứ văn hóa đang ngày càng phổ biến “…văn hóa của sự vội vàng, của sự hối hả khiếm nhã, toát mồ hôi hột, muốn được thấy mọi việc hoàn thành ngay lập tức – Nietzsche”.

Nhanh và nhanh hơn nữa…

Lịch sử tranh đấu, sinh tồn khiến bộ não con người vẫn tư duy thiên về tốc độ. Chúng ta thích cạnh tranh, ưa tò mò, khám phá, thích hiểm nguy, thích được phấn chấn, hồi hộp, rộn ràng, dâng trào cảm xúc sinh ra từ những chuyển động nhanh. Toàn cầu hóa khiến thế giới ngày nay như một cửa hiệu và tất cả chúng ta là những người mua. Chúng ta liên tục bị hấp dẫn, dụ dỗ và kích thích ở từng chỗ rẽ, ra sức nhồi nhét hàng hóa tiêu dùng và thật nhiều kinh nghiệm. Để thành công, chúng ta miệt mài tham gia các khóa học, tập tành chăm chỉ ở các phòng tập, ngấu nghiến mọi cuốn sách trong danh mục sách ăn khách nhất, đọc báo chí và ngồi lỳ hàng giờ bên tivi để cập nhật tin tức, kiểm tra email, Facebook thường xuyên. Chúng ta thanh toán hóa đơn vào thứ bảy, đi mua hàng vào chủ nhật, mang máy tính xách tay lên giường, và ăn ngon những bữa sáng no cả ngày trên đường đến nơi làm việc…

Muôn mặt của đời sống đô thị – khói bụi, tiếng ồn của xe hơi, những gương mặt vô cảm, đám đông lạnh nhạt, chủ nghĩa tiêu dùng – khiến chúng ta khẩn trương hành động hơn là thư giãn, suy ngẫm hay chìa tay ra với mọi người. Thành phố bắt chúng ta chuyển động, phản xạ tức thì, liên tục tìm kiếm những kích thích mới. Các ranh giới bị nhòa lẫn chỉ còn sự ganh đua, tham lam và lo sợ khuyến khích chúng ta hành động, áp dụng nguyên tắc thời gian là tiền bạc vào mỗi một thời khắc trong ngày, nuôi dưỡng cảm giác là chúng ta chẳng bao giờ có đủ thời gian.

Thành phố chúng ta sống là một không gian khác. Không gian bị chia cắt bởi hàng triệu những cái hộp đóng kín. Cuộc sống của chúng ta thực chất là quá trình mà toàn bộ hành động từ cư trú, làm việc, đến di chuyển đều diễn ra trong những cái hộp lớn nhỏ khác nhau. Bạn qua đêm trong một cái hộp ngủ, sáng ra chui vào những cái hộp di động, làm việc trong những cái hộp, đến những cái hộp mua sắm…cuối cùng lại vội vã trở về, tự nhốt mình trong những cái hộp, chia sẻ tìm cảm xúc cho mình trong những cái hộp bé xíu được nối mạng.

Con người vốn là động vật sống bầy đàn, luôn phải “ba mặt, một nhời” thế mà nay tất tần tật mọi chuyện từ mua bán, thủ tục hành chính, đến tâm sự riêng tư, tỏ tình, ly hôn, thậm chí khủng bố cũng gián tiếp qua mạng. Ai cũng có thể biết được chuyện xảy ra tức thì ở một nơi nào đó rất xa, nhưng không hề biết chuyện gì xảy ra bên nhà hàng xóm. Cuộc sống đô thị làm chúng ta giao tiếp gián tiếp nhiều hơn và gặp gỡ ít hơn, các trạng thái biểu cảm của việc mặt đối mặt giảm hẳn khiến cho người ta sống trong một xã hội ngày một ít cảm xúc, ngày càng trở nên cô độc hơn. Kết quả là một sự xa rời đầy day dứt giữa điều chúng ta muốn và điều chúng ta thực có, ngay cả giấc ngủ giờ đây cũng không còn là nơi ẩn náu giúp chúng ta tránh khỏi sự vội vàng.

Thành phố chậm…

Ở Phương Tây, trong suốt thế kỷ 19, con người tìm kiếm nhiều phương cách để thoát khỏi lối sống tốc độ, sự đè nén, ngột ngạt của đô thị. Sùng bái cảnh bình yên thôn dã, cuối tuần người ta lũ lượt rời bỏ đô thị tìm đến những vùng quê. Nhu cầu thuê nhà nghỉ cuối tuần ở ngoại vi các thành phố trở nên bùng phát, thú đạp xe băng đồng và đi bộ đường trường xuyên núi trở nên hút khách.

Tại đô thị, người ta tìm cách làm cho các thành phố có thể chung sống được, với nhiều cải cách. Ở Anh, Ebenezer Howard phát động phong trào thành phố vườn, những thành phố nhỏ tự thích nghi, với công viên trung tâm cùng vành đai xanh đất canh tác và các cánh rừng. Các thành phố vườn như vậy đã được xây dựng ở Anh (Letchworth, Welwyn), Mỹ (Radburn New Jersey) và nhiều nơi khác.

Tokyo được mệnh danh là thành phố không ngủ, với những chuyến tàu điện chật cứng hành khách đến tận nửa đêm, bạt ngàn những tòa nhà chọc trời, những điểm bán đồ ăn nhanh… Vào giờ ăn trưa, viên chức đứng ăn lố nhố. Ở đây “Ăn nhanh và tống chất thải nhanh cũng là một nghệ thuật”. Thế nhưng, nhiều người Nhật ngày nay cũng cho rằng thành phố chậm lại có lẽ tốt hơn. Các KTS Nhật Bản đang ấp ủ những thiết kế giúp con người giảm tốc. Quận Shiodome – Tokyo được thiết kế để trở thành một ốc đảo sống chậm – Nhà hát, bảo tàng, đường dạo cùng các nhà hàng… được xen kẽ giữa những khu nhà công sở mới tinh, choáng lộn. Để khích lệ người dân la cà thư thả, phố buôn bán Shiodome bố trí hẳn những không gian lớn kê từng dãy ghế bành êm ái mời gọi người ta ngồi lên…

Người Hà Lan thì nghĩ ra Woonerf còn gọi là “khu phố sinh hoạt”, một khu dân cư với giới hạn tốc độ thấp, bến bãi đỗ xe giảm thiểu, có các băng ghế, khu vui chơi, nhiều cây xanh, bồn hoa, cùng các vỉa hè ngang bằng với mặt đường, xe hơi đỗ thành từng cụm xen kẽ hay đỗ chếch góc so với lề đường giúp thu hẹp không gian để hạn chế tốc độ xe chạy, và không che khuất tầm nhìn của khách bộ hành… kết quả chung cuộc là tạo cảm giác thư thái và mời gọi hơn cho khu vực. Trẻ em lướt ván hoặc đá bóng ngay trên đường phố, xe hơi đi qua phải thật chậm. Cuộc chiến với tốc độ ở đây giúp con người xích lại gần nhau hơn, thay vì tảng lờ nhau đi một cách nhã nhặn. Nhiều khu vực mở các bữa tiệc đường phố, tổ chức các vòng thi đấu, các trò chơi dân gian vui nhộn, tạo môi trường thân thiện cho người đi bộ.

Chính sách giờ đô thị khởi phát tại Ý đã lan rộng sang các nước Châu Âu. Chính sách nhằm giúp cuộc sống hàng ngày bớt khẩn trương bằng cách điều hòa giờ giấc làm việc của các cơ quan trong ngày. Nhiều công sở mở cửa vào sáng thứ bảy để tạo điều kiện cho người dân hoàn tất thủ tục giấy tờ một cách nhàn nhã hơn, giờ vào lớp ở các trường học được bố trí xen kẽ nhằm giải tỏa bớt cảnh vội vàng buổi sáng cho các gia đình, giới bác sĩ, luật sư… cho lịch hẹn sau 7 giờ tối hoặc vào ngày nghỉ để giảm áp lực giờ giấc lên những bà mẹ đi làm, tiếng ồn được cắt giảm tối đa bằng nhiều biện pháp hành chính và giải pháp thiết kế.

Việc hãm giao thông chậm lại trở nên quyết liệt hơn bao giờ hết. Các thành phố đều cho đắp những gờ giảm tốc độ, thu hẹp lòng đường, đặt camera kiểm soát, đồng bộ hóa đèn giao thông, giảm giới hạn tốc độ và phát động nhiều chiến dịch truyền thông đại chúng chống lại nạn lái xe nhanh, lái ẩu đe dọa tính mạng người đạp xe, người dạo bộ. Một số khu vực, người ta giảm bớt khoảng không dành cho xe hơi, biến đường xe chạy thành đường đi bộ, lập riêng làn xe đạp, giảm các điểm đỗ, đánh thuế đường và thậm chí thẳng thừng cấm xe cộ lưu thông. Hàng năm nhiều thành phố tổ chức những ngày không lái xe hơi, dẹp quang các đường phố mỗi tuần một lần. Paris cấm xe vào tối thứ 6, Rome cấm xe cộ cả tháng khi có sự kiện, Luân Đôn thu phí 5 bảng một ngày nếu muốn lái xe vào khu trung tâm thành phố… Mật độ giao thông giảm biến thành phố thành một chốn vô cùng mời gọi.

Lối sống chậm…

Ở châu Âu đã hình thành một trào lưu phát triển mạnh mẽ gọi là “trở về cội nguồn”. Người dân tìm về sống trong các thành phố nhỏ với nhà thấp tầng đa phần làm bằng gỗ và tràn ngập mầu xanh. Chúng được gọi bằng những tên mới như “đô thị làng”, “thành phố vườn”, “thành phố sinh thái” “thị trấn nông thôn”. Những thành phố nhỏ này không chỉ là nơi có môi trường tự nhiên lý tưởng mà quan hệ con người cũng ấm áp và gần gũi hơn. Không gian sống tràn ngập cây xanh, văn hóa cộng đồng theo kiểu thôn làng xưa được phục hồi, quản lý đô thị bằng luật được thay thế bằng hình thức tự quản, uy tín của người lớn tuổi được đề cao, các qui tắc cộng đồng được tôn trọng, các giá trị xã hội được đồng thuận, việc trừng phạt trở nên hiếm hoi, mọi người ý thức về sự tự quản chính mình.

Họ cùng nhau chia sẻ mọi nỗi buồn vui trong cuộc sống cộng đồng. Các loại hình văn hóa dân gian, lễ hội truyền thống, lễ hội tôn giáo, lễ hội nghề nghiệp được phục hồi và phát triển mạnh mẽ theo đúng tính thần khởi nguyên của nó. Mọi người thích đi bộ, đi xe đạp, thích tự trồng rau, không sử dụng loại thức ăn, nước uống có hoá chất, thích mặc quần áo được làm từ sợi truyền thống, quay trở về với lối sống giản dị, thuần phác của xã hội nông nghiệp xưa. Một kiểu thành phố “chân quê” đang được phục hồi trong xã hội hiện đại.

Ở đây, người dân kề cà bên tách cà phê trên vỉa hè, tán chuyện phiếm với bạn bè hoặc nhìn thế sự trôi đi. Trên các quảng trường, không gian công cộng có những hàng cây rợp bóng mát bao quanh, nơi bầu không khí ngào ngạt mùi hương hoa, những ông già, bà cả ngồi lặng như tượng trên các băng ghế đá, ai ai cũng kịp chúc nồng nhiệt câu “một ngày tốt lành”. Tiếng ồn của động cơ được giảm tối đa; các khoảng cây xanh và khu vực cho khách bộ hành được tăng thêm; người dân tự kinh doanh sản xuất, mở cửa hàng, chợ, tiệm ăn bán nông phẩm; công nghệ bảo vệ môi trường, bảo tồn các giá trị thẩm mỹ, kiến trúc truyền thống và ẩm thực địa phương được khuyến khích; tinh thần hiếu khách và thân thiện láng giềng được nuôi dưỡng…
Thành phố tạo ra môi trường giúp cư dân chống cự được với sức ép phải sống theo nhịp độ đồng hồ, phải làm mọi việc nhanh hơn, khẩn trương hơn. Con người không còn bị thời gian ám ảnh, có thể tận hưởng từng thời khắc. Trong thành phố chậm, họ được phép thư giãn, suy tưởng và ngẫm nghĩ thay vì bị cuốn theo vòng xoáy và tốc độ của đời sống hiện đại. Chậm không có nghĩa là trì độn, lạc hậu hay bài xích công nghệ. Cái gì có thể cải thiện chất lượng sống của cư dân nơi đây đều được tiếp nhận kể cả những công nghệ tối tân nhất.

 

Người dân địa phương hài lòng với những thay đổi ấy. Họ thích những cây trồng mới, những băng ghế dài mới đặt, tuyến đường mới dành cho khách bộ hành, những chợ thực phẩm phát đạt. Thành phố vì thế mà phát triển du lịch, nghề truyền thống phát triển trở lại, thất nghiệp giảm, sức khỏe và tuổi thọ của người dân được nâng cao rõ rệt, tất cả tạo nên sức sống mới. Người dân ngày càng có nhiều quyết định tốt hơn, chính xác hơn, đồng nghĩa với hạnh phúc hơn – chậm lại để suy ngẫm, chậm lại để sống sâu hơn, chậm lại để yêu thương và chia sẻ, để thưởng thức trọn vẹn hương vị cuộc sống như nó vốn có.

*Ths.KTS Lê Hữu Trúc
(Nguồn ảnh trong bài KTS Nguyễn Phú Đức)

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2020)