Thành phố Hà Nội – Một cái nhìn lịch sử

Tôi năm nay 64 tuổi (sinh năm 1947), đã gọi là già nhưng chưa phải là già lắm. 64 năm so với 1000 năm, tuổi của Thăng Long-Hà Nội thật ngắn ngủi. Nhưng đừng quên rằng : Thăng Long-Hà Nội, thủ (kinh) đô của nước ta  có 1000 năm tuổi tính từ khi Vua Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra vùng đất được Ngài đặt tên là “Thăng Long vào “trọng thu năm Canh Tuất”(1010). Nhưng Thành phố Hà Nội thì mới có 122 năm tuổi kể từ năm 1888 khi Vua Đồng Khánh ra chỉ dụ trao cái lõi của tỉnh Hà Nội (ứng với không gian của cố đô Thăng Long trước khi “bị” vua Minh Mạng mở rộng để thành lập tỉnh Hà Nội vào năm 1831) cho thực dân Phap làm “nhượng địa” (cùng  lúc với Đà Nẵng và Hải Phòng). Để rồi Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập “Thành phố Hà Nội”, lấy đó làm thủ phủ phía Bắc của Đông Dương nơi đang là “đất bảo hộ” (cùng với Sài Gòn đã hưởng chế độ thuộc địa) của Pháp. Như thế thì con số 64 tuổi đời của tôi là đáng kể, vì nó nhỉnh hơn một nửa tuổi đời của Thành phố Hà Nội (64/122).

Lý sự như vậy để muốn nói rằng, chỉ riêng những gì mình quan sát được bằng mắt, qua trải nghiệm sống của một nhân chứng sinh ra tại đây và sống bám tại đây (có lẽ cho đến hết đời) đã đủ nói lên nhiều điều, lại cộng với những gì đọc được trong sách vở, xem đựoc qua tranh ảnh, học được trong trao đổi với những người hiểu biết nhờ tuổi tác hay nghiệp. Cái may mắn với tôi là nhờ cái nghề viết sử và làm báo nên hay gần gũi với những vị tuổi cao hơn mình và những nhà chuyên môn am hiểu về kiến trúc hơn mình…do vậy mà học được nhiều điều bổ ích. để có vài nhận xét dưới đây :.   

Một là Hà Nội hôm nay là di sản của một đô thị thuộc địa. Dấu ấn của 1000 năm Thăng Long chỉ còn lại chủ yếu trên những giá trị phi vật thể. Câu chuyện nghìn năm là một hiện thực đựoc chứng minh bằng sử sách và còn mang tính biểu tượng. Bởi lẽ nếu dựa vào không gian của Hà Nội hôm nay (tính từ năm 2008 khi Hà Nội đựoc mở rộng) thì còn bao gồm cả các “cố đô” trước Thăng Long (1010) ví như Tống Bình , Mê Linh và Cổ Loa (của cả thời An Dương Vương và Ngô Quyền cũng các nhau cả ngàn năm).
Chọn thời điểm Lý Công Uẩn rời đô ra Thăng Long vào năm Canh Tuất, có lẽ cái chứng tích lịch sử quan trọng nhất để tôn vinh, chính là 1000 năm tồn tại cùng nền tự chủ với phương Bắc và phát triển hoàn chỉnh lãnh thổ quốc gia (công cuộc Nam tiến). Cho dù có bị đứt đoạn bởi Nhà Hồ (rời đô vào Tây Đô), nhà Mạc (lên Cao Bằng) hay nhà Nguyễn (vào Huế) thì thời gian rất ngắn ngủi (với nhà Hồ, nhà Mạc) hoặc nó là minh chứng thêm cho giá trị “địa linh” của Thăng Long vì nhà Nguyễn cũng chỉ giữ đựoc nền tự chủ chứng một nửa thời gian tồn tại, nửa còn lại thực chất đã để mất chủ quyền).
Cái giá trị nghìn năm chỉ thể hiện ở sự ổn định về không gian, sự tồn tại của các địa danh cùng kho tàng những thư tịch hay truyền thuyết dân gian. Ngay ngôn ngữ quan trọng nhất thể hiện không gian là bản đồ thì cũng rất sơ lựơc. Các giá trị nghìn năm cho một đô thị thường được thể hiện đặc trưng nhất là kiến trúc thì có thể nói rằng cho đến nay không còn một kiến trúc gốc nào của thời Lý cách đây ngàn năm (thành quách, chùa chiền, dinh thự, nhà cửa,hạ tầng đô thị…) . Chùa Một Cột (Diên Hựu), tứ trấn hay Văn Miếu rồi Quốc tử giám … được viết trong sử sách là xây dựng vào những triều đầu tiên của thời Lý, nhưng những kiến trúc của nó cho đến nay còn tồn taị thì xưa nhất cũng chỉ là Lê (đôi rồng và nền Điện Kính Thiên), còn thì chủ yếu là Nguyễn hoặc muộn hơn. Ví như kiến trúc tiêu biểu là Chùa Một Cột thì cuối năm 1954 đã bị những kẻ phá hoại giật mìn phá hoàn toàn và cuộc trùng tu đầu tiên của nhà nước ta là xây mới hoàn toàn công trình này (đương nhiên dựa vào những dấu tích và tư liệu cũ).
Có lẽ chỉ còn kiến trúc duy nhất và xưa nhất là con đê Cơ Xá ngăn Hồ Tây với Sông Hồng là còn lại, nhưng cũng chỉ là cái nền móng. Còn như thành quách là kiến trúc thường được coi là kiến trúc quan trọng và vững bền thất của một kinh đô xưa, thì đến thời Gia Long đã bị “gọt” bớt độ cao, đến thời Minh Mạng thì phá đi xây lại hoàn toàn theo kiểu mới (vauban) rồi cũng chỉ vài chục năm sau Tây thuê cô Tư Hồng phá sạch và lấp sạch tận móng để người Tây quy hoạch lại đô thị theo phong cách thuộc địa. Hịện chỉ giữ lại những gì còn mang dấu tích thực dân (Cửa Bắc) hay phục vụ được nhu cầu cai trị (Cột Cờ)…Nhiều công trình mới đè lên những di tích cũ một cách thô bạo như Nhà Thờ Lớn xây trên nền Tháp cổ Báo Thiên và khu hành chính của thành phố thuộc địa thì xây trên nền Chùa cổ  Báo Ân…
Có thể nói phát hiện ra Khu di tích trung tâm Hoàng thành trên hố khai quật 20 ngàn mét vuông (18 Hoàng Diệu) vào đầu thế kỷ XXI (Thiên niên kỷ thứ Ba) là dấu tích quan trọng nhất về chứng tích của bề dày “nghìn năm” (và hơn thế nữa với dấu tích của thời Tiền Thăng LongThành Đại La), với những giá trị vật thể phản ánh quy hoạch, quy môt, hình loại…của một không gian đô thì cổ qua các thời (các tầng văn hoá khảo cổ học)…

Hai là,  Hà Nội thời Tây đựoc quy hoạch, xây dựng sau hơn nửa thế kỷ không gian này không còn là kinh đô nữa. Nhưng tư liệu cho thấy tập tính của người mình dường như là “có mới nới cũ” nên tuy nhiều giá trị phivật thể (văn chương, tập quán, tính cách…) tốt đẹp (thanh lịch, văn hiến…) còn giữ đựoc phần nào nhưng hình như những giá trị vật thể bị hủy hoại rất nhanh không chỉ vì thời tiết mà còn do chính con người (sau này ta cũng từng chứng kiến sự lập lại).
Đương nhiên còn có cả thời kỳ chiến tranh khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội đã tạo nên một thời kỳ loạn lạc mà những tài liệu ghi chép trong dân gian hay trong các bút ký cua người Pháp cho thấy một sự hoang tàn, bất ổn về an ninh vì Hà Nội đã bị “bỏ rơi”, vì không còn yếu tố quản lý đô thị (khi là kinh đô thì nó được quản lý theo quy chế của kinh đô), khi không còn là kinh đô thì nó chẳng phải là làng xã cũng chẳng phái là đô thị (từ thời Minh Mạng nó chỉ là tỉnh lỵ của một tỉnh bình thường như mọi tỉnh khác)…
Bởi vậy, điều đáng nói, vì nó là tiền đề cho mọi sự thay đổi sau này của Hà Nội, đó là sự thay thế bằng một phương thức quản lý mới, quản lý đô thị theo kiểu đô thị hiện đại (của Pháp) đựoc thành lập ngay sau khi Tổng thống Pháp ra sứac lệnh thành lập “thành phố Hà Nội”. Ngay vào thời điểm đó, Hà Nội đã trở thành thủ phủ của miền Bắc Đông Dương với sự hiện diện của viên Tổng trú sứ dân sự đầu tiên (sau gọi là Toàn quyền). Việc quy hoạch khu vực phía Tây thành Hà Nội với hệ thống các công sở của chính quyền Thuộc địa trong đó có Phủ Toàn quyền và khu dân cư dành cho người Âu là các kiến trúc tiêu biểu.
Ngay sau đó, khu vực đầu tiên mà người Pháp quan tâm trong quy hoạch Hà Nội là chỉnh trang khu vực quanh Hồ Gươm và con đuờng nội thị quan trọng nhất nối từ khu Đồn Thuỷ (đầu cầu chiếm đóng đầu tiên của Pháp trên đất Hà Nội) dọc theo con đường từ của Tây Long (Nhà Hát Lớn) kéo thẳng qua cửa Nam và Tây Nam thành Hà Nội để đên khu vực công sở của Toàn quyền.  Tên gọi Paul Bert viên toàn quyền đầu tiên được đặt cho nhiều nơi ở Hà Nội  như đưòng phố (nay là Tràng Tiền), trường học (Trưng Vương). công viên (Lý Thái Tổ) cho thấy cái dấu ấn của sự thay đổi.
Để phù hợp với quy hoạch đô thị mới, giai đoạn đầu người Pháp mắc nhiều sai lầm mà sau này chính những nhà cai trị Pháp phê phán, đó là việc không bảo tồn những di tích của thành Hà Nội cũ. Cái tác động làm thay đổi diện mạo Hà Nội mạnh mẽ nhất là việc lấp Sông Tô Lịch và một chuỗi hồ chạy dọc từ Bắc xuống Nam, vốn là dấu tích của lòng Sông Hồng cổ. trên cơ sở đó, thành phố Hà Nội mới hình thành khu phố mới ở khu vực phía Nam hồ Hoàn Kiếm đối trọng với không gian phía Bắc Hồ là khu phố cũ (nay gọi là phố cổ),vẫn được gọi là 36 phố phường.

Ba là, sự bảo tồn được khu phố cổ là một thành công tích cực của người Pháp khi quy hoạch Hà Nội. Thật khó hình dung diện mạo không gian này thời Thăng Long hưng thịnh hay thời Hà Nội tàn lụi. Ghi chép của các nhà buôn, giáo sĩ hay các nhà thám hiểu thượng có xu hướng thậm xưng (theo nhu cầu truyền bá) từng ví Thăng Long với Venise về cảnh quan sông nước và sự tấp nập buôn bán. Mô tả của Trương Vĩnh Ký lần ra Bắc trước khi Hà Nội rơi hẳn vào tay Pháp (1874) cũng có nói đến một vài khu phố đông vui và những kiến trúc của nó. Nhưng những hình ảnh đầu tiên mà người Pháp chụp thì cho thấy một Hà Nội hoang tàn.
Những mô tả ấy cho thấy, đô thị Thăng Long – Hà Nội đầu Nguyễn dường như chưa có hệ thống hạ tầng cho một đô thị, nó vẫn khai thác những cấu trúc và cách xử lý hạ tầng như ở các làng xã. Ngay những đường phố sầm uất nhất như Hàng Ngang, Hàng Chiếu của ô Quan Chưởng vẫn có cửa đóng then cài về đêm… đường xã vẫn chỉ là những con đường lát gạch ở giữa, khoảng cách giữa hai nhà bên đường luôn được thu hẹp lại bởi những quán xá dựng tạm bằng vật liệu đơn giản nhưng sử dụng lâu dài (nay còn giữ lại cái truyền thống “vẩy” và chợ cóc). Hầu như chưa có phưong tiện giao thông nội thị, duy nhất có cái xe cút kít bánh gôc chủ yếu dùng để chở lợn hay các vật dụng cồng kềnh như chum vại). Đi lại truyền thống vẫn chủ yếu trên sông nước…
Do vậy, nếu sai lầm của người Pháp là lấp con sông Tô Lịch đi lại giữa lòng phố cổ thì thành công của họ là quy hoạch lại thành không gian các khu nhà cách biệt bởi các con đường có vỉa hè, có hệ thống thoát nước, rồi cấp nước, chiếu sáng…mà vẫn không phá vỡ không gian truyền thống gắn với các phường hội, nghề nghiệp và các ngôi chợ, quan trọng nhất là Chợ Đồng Xuân tựa như chợ đầu mối của toàn thành phố. Chợ này nhằm khắc phuc việc lấp sông Tô Lịch ảnh hưởng đến Chợ Cầu Đông mới là chợ chính của không gian này trước đó.
Cùng với việc quy hoạch hạ tầng là vấn đề giao thông. Trên phưong diện này thì người Pháp đã tạo dựng một nền tảng hoàn toàn mới và điều này tạo một sự kích thích mạnh mẽ cho Hà Nội phát triển về đô thị. Với việc du nhập xe ngựa vốn đạo binh thực dân quen sử dụng từ chấu Âu đưa sang nhưng rất hạn chế, thì việc công sứ Hà Nôi  Bonnal nhập từ Hong Kong về loại xe kéo tay (pousse-pouse) vốn của người Nhật đã cải thiện quan trọng nhu cầu này. Đặc biệt hơn là ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp ưu tiên đưa hệ thống xe điện nói các cửa ô chính chạy ngang qua các ngôi chợ chính (Bưởi – Đồng Xuân – Chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Cửa Nam…) tạo ra một tiện ích đô thị rất hiệu quả.
Việc xây dựng cầu Doumer (Long Biên) tuy chủ yếu nhằm phục vụ cho tuyến đường sắt Hải Phòng – Vân Nam giúp người Pháp thâm nhập vào Tây Nam Trung Hoa là chính, nhưng nó đã tạo ra một cú hích cực kỳ mạnh mẽ cho sự phát triển của Hà nội, đặc biệt với việc lấy Ga Hà Nội (Hàng Cỏ) làm ga đầu mối đường sắt toàn Đông Dương càng làm cho vị thế Hà Nội được tăng cao. Hệ thống giao thông đường thuỷ vẫn được duy trì như huyết mạch liên hệ giữa các tỉnh bổ sung cho tuyến đường sắt và đưòng bộ xây dựng sau này. Hà Nội cũng là nơi chọn xây dựng đường hàng không sớm nhất sau khi người Pháp chọn Bạch Mai thay thế cho ý định ban đầu là ở sân bay Vị Hoàng (Nam Định).

Phải nói rằng người Pháp hy vọng rất nhiều vào sự trường tồn của thuộc địa Đông Dương nói chung, Việt Nam trong đó có Hà Nội nói riêng sẽ mãi mãi là “bông hoa đẹp nhất” trong vườn hoa lãnh thổ hải ngoại của Đế quốc của nền Cộng hoà Pháp, do vậy mà chỉ trong một nửa thế kỷ (cho đến trước đai chiến II), cho dù phải trải qua một cuộc chiến Tranh (Thế chiến I) và cuộc đại khủng hoảng kinh tế (1929-1930…) nhưng chính quyền thuộc địa đã đầu tư rất bài bản tao nên một diện mạo chủ đạo của thành phố này mà đến nay chúng ta vẫn kế thừa từ các công trình kiến trúc đặc sắc đã được định danh là “kiến trúc thuộc địa”, cho đến những không gian quy hoạch đến nay đã được thời gian chứng minh giá trị của nó. Vấn đề kế thừa và bảo tồn những giá trị ấy, giờ đây vẫn mang tính thời sự.
 Bốn là,  nếp sống và con người Hà Nội đến nay vẫn là một giá trị cho dù nó bị mai một và thay đổi rất nhiều. Người ta vẫn quen nói đến cái “thanh lịch của người Tràng An” nhưng thật khó định tính được cái quan niệm ấy, ngoài cái nguyên lý mà các kinh đô nào cũng có là “hội tụ để lan toả”
Nhưng cái chất Hà Nội khiến nó trở thành một giá trị, một “thương hiệu” chính là một nếp sống đô thị được hình thành trong môt thời kỳ lịch sử đặc thù (thuộc địa) nhưng nó lại là sự kết hợp ở cư dân Hà Nội hai nguồn lực văn hoá Đông và Tây. Một nền giáo dục mới mà người Pháp áp đặt tuy mang tính áp đặt (ta thường lên án là nô dịch) nhưng khách quan nó là sự bổ sung những tri thức mới của cả một nền văn minh phương Tây vào nước ta. Từ cái hình thức ngôn ngữ chuyển hoá dần từ chữ Hán truyền thống (chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh Trung Hoa) sang chữ Pháp và chữ quốc ngữ (dùng con chứ La tinh ghi âm tiếng Việt) đến việc đưa vào hệ thống giáo dục theo chuẩn mực của nước Pháp từ những lớp đầu tiên đến hệ thống đại học (năm 1902 đã có trường Y khoa)… cộng với việc du học ở Pháp đã nhanh chóng tạo ra tầng lớp trí thức Tân học vẫn gắn bó với đạo lý của nền quốc học lại tiếp thu một cách có hệ thống văn minh phương Tây, văn hoá Pháp cùng với những thay đổi về đời sống như sự du nhập các hình thức hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao, đời sống báo chí và đặc biệt là những giá trị nhân bản và pháp lý của phương Tây tuy bị chi phối vì chế độ thực dân nhưng nó vẫn phản ảnh một sự tiến bộ xã hội vô cùng to lớn.
Cái cốt lõi của lối sống Hà Nội vẫn là văn hoá đô thị gắn với giáo dục, đời sông bằng phương thức quản lý đô thị chuẩn mực. Vì thế mà chỉ với thời gian 80 năm đô hộ (như trong Tuyên ngôn Độc lập 1945 xác định) thì bên cạnh những di sản chính trị thực dân phản dộng và bị lật đổ cùng chế độ phong kiến trong cuộc cách mạng tháng tám 1945, thì những giá trị mới hình thành trong thời gian này đã hình thành một hệ thống giá trị mới ưu việt hơn hẳn so với trước đó tạo nên tính cách, bản sắc ưu việt của “dân Hà Nội”. Nó đựoc thể hiện trong một thế hệ vàng những trí thức Hà Nội, công dân Hà Nội trải qua trường kỳ thử thách trong thế ỷ XX vừa qua.
Đáng tiếc, đến nay nó không những không giữ được những cốt cách căn bản mà ngày càng có nguy cơ bị mai một, bị chuyển hoá thành những giá trị thấp kém hơn mà nguyên nhân duy nhất là những nhân tố văn minh đô thị luôn bị (và từng nhiều lần bị và vào thời điểm này đang bị) tấn công bởi trào lưu “nông thôn hoá đô thị”.
Vào thời điểm Thăng Long-Hà Nội nghìn năm tuổi, 2 năm sau Hà Nội mở rộng, Thủ đô của chúng ta lại đang đứng trước những thử thách mới  để gin giữ được những giá trị đã từng có được phát huy ở một tầm cao mới.
Lịch sử không chỉ thuộc về quá khứ mà chính nó là sự phát triển của Hiện tại và hướng tới Tương lai. Do vậy chúng ta đang chứng kiến những đổi thay to lớn của Hà Nội hướng tới công nghiệp hoá hiện đại hóa. Một cái nhìn lịch sử về một giá trị truyền thống của Quá khứ không phải không giúp ích cho sự lựa chọn của Hôm nay đang vô cùng bề bộn với mong ước Hà Nôi của tương lai vẫn giữ đựoc cốt cách của một Thủ đô đã vượt qua một nghìn năm tuổi… 

Nhà sử học Dương Trung Quốc