TP. HCM có 5 huyện ngoại thành, tuy nhiên, có hai huyện không còn nhiều đất nông nghiệp là Bình Chánh và Nhà Bè, 3 huyện còn lại là Hóc Môn, Củ Chi, Cần Gờ có tỷ lệ đất nông nghiệp trên 50% và khoảng trên 40% dân số làm nông nghiệp. Theo niên giám thống kê của TP. HCM năm 2021 thì toàn TP còn 942.988 người làm nông nghiệp, chiếm tỷ lệ 20,39% (trang 60). Lâu nay, hình thái kiến trúc và không gian công cộng (KGCC) dường như bị thả nổi, cho nên, cũng giống như một số xã ở các huyện thành phố Hà Nội, có tình trạng phát triển tự phát. Bức tranh chung là “làng không ra làng, phố không ra phố”, nhà ống cao tầng bám sát trục đường phá vỡ cảnh quan nông thôn truyền thống. Các cấp chính quyền, các sở chức năng lúng túng không biết nên làm như thế nào cho nên tình trạng chung là khá lộn xộn. Để có thể xác định được hình thái kiến trúc và KGCC ở những nơi như thế này thì cần phải làm rõ ba quan điểm lớn mang tính chiến lược
Thứ nhất là cần xác định hình thái “tam nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) có tiếp tục tồn tại và phát triển ở các đô thị lớn hay không? – Nếu có thì cần phải có chính sách rõ ràng cho nó. Trong Luật đất đai sửa đổi được Quộc hội thông qua năm 2023 và sẽ ban hành cuối 2024 này, không có một dòng nào đề cập đến khái niệm “nông thôn-đô thị” hay “nông thôn trong đô thị”, mặc dù có không ít kiến nghị về mục này. Từ xưa đến nay, có hai khái niệm mang tính phân biệt và so sánh là nông thôn và đô thị với hai nội hàm rất rõ ràng. Nông thôn là nơi là những người nông dân chăn nuôi và trồng trọt, họ cư trú trong các cộng đồng làng xã và văn hóa truyền thống. Nhưng nông thôn trong đô thị nó mang một sắc thái rất khác – Họ là nông dân nhưng làm nông nghiệp theo kiểu hiện đại và có thể làm dịch vụ. Vì thế, hình thái cư trú (nhà ở, công trình công cộng, công trình hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ) khác với nông thôn truyền thống và có thể khác cả với các khu vực nội thành. Vậy nó có hình hài ra sao? Khái niệm “nông thôn-đô thị” phải được xác định chính danh trong các bộ luật, và các văn bản dưới luật, sau đó là xác định nó tồn tại ở qui mô nào, tỷ lệ bao nhiêu, cơ cấu kinh tế ra sao? Từ đó mới tính được các qui chuẩn xây dựng, tiêu chí thiết kế kiến trúc như đường, vỉa hè, khoảng lùi, chiều cao công trình, mật độ, hệ số rồi đến thuế, cũng như giá đền bù giải tỏa… Lâu nay các định chuẩn này không rõ ràng, gây khó cho quản lý Nhà nước, và như thế các nhà qui hoạch, các KTS mới có thể thiết kế được loại hình không gian và kiến trúc cho những vùng này một cách phù hợp. Một số quốc gia cũng vướng phải sai lầm này trong thời kỳ “quá đô đô thị”, nhưng về sau này họ đã nhận thức ra được vấn đề sáng tỏ hơn. Từ năm 1990, các vùng đô thị của Nhật Bản như Tokyo, Oska, Yokohama,… tiến hành tái cấu trúc lại vành đai ngoại thành, phục hồi lại các làng nông nghiệp truyền thống đã bị mất trong quá trình đô thị hóa quá nhanh, tương tự như thế, Seoul, Hàn Quốc bắt đầu từ 1995 xây dựng chương trình quốc gia mang tên Saemaul Undong nhằm phục hồi vành đai nông nghiệp ngoại thành bị xóa sổ sau hơn 40 năm đô thị hóa nhanh.
Thứ hai, để có thể có những lựa chọn trong hình thái kiến trúc và tổ chức KGCC (KGCC) thì nhất thiết phải dựa trên nền tảng văn hóa mang tính bản địa. Nếu quan sát và suy ngẫm một chút, chúng ta có thể thấy về mặt văn hóa và xã hội thì Hà Nội không đồng chất. Nó chính là sự kết hợp của các vùng văn hóa khác nhau. Về đại thể, Hà Nội hiện nay kết hợp bởi 3 vùng văn hóa. Vùng văn hóa thứ nhất là Hà Nội cũ (gồm 10 quận nội thành trước 2008), đây là vùng văn hóa được hình thành từ lâu, chịu ảnh hưởng của các văn hóa được tiếp biến từ bên ngoài (chủ yếu là Pháp), với mức độ văn minh khá cao, văn hóa của vùng trung tâm này được hình thành từ các vùng miền khác nhau bởi những người nhập cư nên cũng rất đa dạng. Vùng thứ hai là văn hóa về phía Tây và Bắc của Hà Nội, đây là vùng văn hóa mang đặc trưng của trung du (bán sơn bán địa) và chịu ảnh hưởng của văn hóa vùng núi cao. Hình thái sản xuất của người dân của vùng văn hóa này là thuần nông, trồng trọt các loại cây trái ở đồi như chè, khoai, sắn, bạch đàn,…Vùng văn hóa thứ 3 ở phía Đông và Nam của Hà Nội, đây là vùng văn hóa đồng bằng châu thổ sông Hồng, điển hình của văn minh lúa nước, chịu ảnh hưởng của văn hóa biển. Mặc dù mỗi vùng có sự hiện tượng văn hóa giao thoa và chồng lấn nhau, ảnh hưởng qua lại, nhưng chúng cũng có những dấu ấn văn hóa và định dạng riêng. Nếu Hà Nội cũ là phi nông nghiệp, thì vùng mở rộng hầu hết là thuần nông. Mỗi vùng có phong tục tập quán trong “quan, hôn, tang tế”, lễ hội, ẩm thực, trang phục không hoàn toàn giống nhau. Hà Nội có hơn 100 lễ hội từ cấp quốc gia, tỉnh thành đến lễ hội làng, dòng họ,… trong đó những lễ hội nổi tiếng như Chùa Hương, chùa Thầy, hát Dô,….
Tương tự như thế, TP. HCM rộng 2.100 km2, nó được kiến tạo bởi 3 vùng văn hóa. Phía Bắc, Tây Bắc (Hóc môn, Củ Chi) là vùng đất cao, chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi. Vùng phía Nam như Nhà Bè, Cần giờ là văn hóa sông nước bao gồm biển và hệ thống sông rạch, người dân ở đây chủ yếu là nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, vùng Đông Bắc TP chủ yếu là các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, còn khu vực trung tâm thành phố (quận 1,3) mang đậm bản sắc văn hóa và văn minh phương Tây. Nếu vùng lõi TP. HCM, và Hà Nội là nơi mang đậm dấu ấn phương Tây và đa dạng văn hóa quốc tế thì vùng ngoại thành chính là nơi lưu giữ văn hóa truyền thống bản địa.
Thứ ba là dựa trên hoạt động nghề nghiệp chủ yếu để kiến tạo nên KGCC và loại hình kiến trúc nhà ở phồ thông. Rõ ràng là ở các huyện của Hà Nội có rất nhiều các làng nghề, ví dụ Hà Tây có trên 200 làng nghề truyền thống, trong đó nổi tiếng như làng lụa Vạn Phúc, làng thêu Quất Động, làng to he Xuân La, làng mộc Chàng Sơn, làng sơn mài Duyên Thái,… thì việc tổ chức KGCC và kiểu nhà ở nơi có làng nghề sẽ khác với nhà phố thị ở các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng. Ở TP HCM cũng như vậy, lấy Hóc Môn làm ví dụ, Hóc Môn sẽ phát triển các điểm du lịch hấp dẫn với những nhà vườn xanh mát kiểu Nam Bộ, với những vườn trái cây trĩu quả, những home stay mang đậm tính chất làng quê, những làng nghề truyền thống. Những loại kiến trúc truyền thống Nam Bộ vẫn còn rải rác đây đó như loại nhà rường hình chữ Đinh, chữ Khẩu, chữ Công, bao quanh là vườn cây trái xanh mát. Tổ chức KGCC và nhà ở sao đó để khách du lịch nước ngoài, người dân Việt còn nhìn thấy bóng dáng “18 thôn vườn trầu”, cách trồng rau theo liếp, theo giồng bao quanh là kênh nước, còn được nghe đờn ca tài tử ở trong các nhà vườn, còn nhìn thấy đình, chùa, miếu mạo, công trình cộng đồng đậm kiến trúc nhiệt đới, còn được thấy những rừng cây nước lợ Cần Giờ, và rừng tự nhiên ở Củ Chi. Hóc Môn cũng nổi danh là nơi có nhiều đình, chùa, miếu nhất Đông Nam Bộ. Các Đình ở Hóc Môn là nơi thờ thần Hoàng có tuổi đời hơn trăm năm với thiết kế kiến trúc độc đáo như đình Tân Thới Nhất, đình Bình Lý, đình Tân Đông (xã Đông Thạnh), đình Mỹ Hòa (xã Tân Xuân), đình Xuân Thới Thượng, đình Hòa Bình (xã Xuân Thới Sơn), và đặc biệt nhất loại nhà vuông, chỉ có ở vùng đất này.
Lẽ ra việc định hình kiểu kiến trúc và KGCC cho các làng, xã trong lòng đô thị cần phải làm từ 20 năm trước, đến nay đã quá muộn, tuy nhiên sự cố gắng muốn cũng có thể còn để lại cho hậu thế dáng dấp kiến trúc truyền thống của từng vùng miền. Bảo tàng Bát tràng mô phòng từ các bàn xoay, trường học vùng cao Lũng Luông lấy cảm hứng từ hoa Ban, là những ví dụ cho thấy sự cố gắng thể hiện bản sắc vùng miền trong quá trình hiện đại hóa…
PGS.TS Nguyễn Minh Hòa
Nguyên Trưởng Khoa Đô thị học – ĐH Quốc gia TP HCM
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 4-2024)
Tài liệu Tham khảo
- Saigon investment and Finance. No 146-2022;
- Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 7/10/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Nghị quyết số 57/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 3 TP HCM;
- Nguyễn Minh Hòa – “Đô thị học: Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn” – NXB Đại học Quốc gia TP.HCN, 2012;
- Nguyễn Minh Hòa – “Vùng đô thị châu Á và TP HCM” – NXB Tổng hợp TP.HCM, 2005;
- Paul K. C. Liu, Ching-lung Tsay. Urbanization and Development: The Rural-Urban Transition in Taiwan. Pacific Affairs, Vol. 62, No. 3, 1989;
- J.John Palen. The urban Work. Virginia Commonwealth University. 1987.
























