
Chánh Văn phòng Hội KTS Việt Nam
Với bộ quần áo lính còn thơm mùi vải, tôi khoác ba lô tìm về Quế Ổ (H.Quế Võ, Bắc Ninh) nơi Ban Giám hiệu Nhà trường làm việc để trình giấy nhập học của Thứ trưởng Bộ Đại học Hoàng Xuân Tùy và được giới thiệu về Văn phòng Khoa Kiến trúc – Đô thị trú tại thôn Mai, cách đó chừng 2 km làm thủ tục nhập học Những ngày đầu, Khoa chưa phân ai học kiến trúc, ai học ngành đô thị. Tất cả lũ sinh viên mới nhập trường chúng tôi tập trung lao động xây dựng lớp học, nhà làm việc của Ban Chủ nhiệm Khoa… còn chỗ ở thì được gửi vào nhà dân ở làng Thủy, ven sông Đuống, gần bến đò Ngăm. Dân vùng này rất nghèo nhưng tốt bụng và sẵn sàng thu vén chỗ ở cho sinh viên sơ tán. Nhà nào rộng thì hai sinh viên, còn thì một người. Thời chiến tranh, được dân đùm bọc như thế quả là may mắn và hạnh phúc. Nhập học được gần hai tháng, thì những ai có nguyện vọng học ngành kiến trúc phải thi vẽ mỹ thuật. Tôi còn nhớ, hôm đi thi vẽ trời mưa rả rích. Từ chỗ tôi ở đến Mai thôn, phải đi bộ hơn cây số, đường đất và đá lổn nhổn, lầy bùn. Đến nơi, mới biết không chỉ có tôi và mấy anh em ở Khoa Kiến trúc – Đô thị là Dư Đức Thái, Liêm, Ý… mà còn có vài ba bạn nữa đến từ các Khoa khác của Trường, trong đó có Nguyễn Tiến Thuận, từ Khoa Cầu đường ở tít bên kia núi Thiên Thai, qua đò, đội mưa đi thi. Một tuần sau, có kết quả. Tiến Thuận đạt điểm cao nhất. Tôi đạt điểm khá. Những bạn không đạt tiếp tục về học ở Khoa cũ. Sau này, Thuận là một trong số ít KTS thành danh, nổi tiếng, được nhiều Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia, quốc tế và năm 2012 được vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước (về Văn học nghệ thuật). Ở làng Thủy với chúng tôi còn có khóa sinh viên từ Bộ Kiến trúc chuyển về, cùng chung một bếp ăn tập thể, trong đó có lớp 65K, hầu hết là cán bộ cử đi học, nên rất được vì nể, như các anh Vũ Bình, Nguyễn Tiến Đích, Phan Thanh Hảo, Nguyễn Nam…các chị Quyên, Sơn, Chi và nhiều người nữa.Tôi được bố trí vào Lớp KTS 67, gọi là 67 K, cùng với Nguyễn Tiến Thuận, Liêm, Thái, Lê Cường, Đoàn Nguyệt Yên, Trần Xuân Diễm, Yến, Hồng, Tiến, Nghiêm Xuân Hải, Hoàng Linh Quy, Ngô Toàn Thắng, Nguyễn Tiến Bửu, Trịnh Quốc Đoàn… Các anh Hà Ân, Vũ Xứng, Lưu Bích San, Vương Cường… là cán bộ đi học được giao làm lớp trưởng, lớp phó, Bí thư Chi bộ. Giảng dạy chúng tôi khi đó ngoài một vài KTS thế hệ đầu tiên, có tên tuổi lẫy lừng như các Thày Đoàn Ngọ, Đoàn Văn Minh, Khổng Toán, Nguyễn Nghi, số còn lại đều rất trẻ vừa mới ra trường được 1-2 năm, tốt nghiệp KTS ở Đại học Bách Khoa và các nước XHCN như Liên Xô, Trung Quốc. Đó là các thày Nguyễn Bá Đang, Nguyễn Lân, Nguyễn Đức Thiềm, Cao Xuân Hưởng, Trần Hùng, Dương Tiến Thọ… các họa sỹ như Đặng Quý Khoa, Trần Tía… Đến năm học thứ hai thì bổ sung các thày vừa tốt nghiệp khóa 63 trong đó có KTS Nguyễn Việt Châu, người đã “có công” hướng nghiệp để tôi đi vào nghề kiến trúc.
Năm 1969, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Trường đại học Kiến trúc (trực thuộc Bộ Kiến trúc) được thành lập và Khoa Kiến trúc – Đô thị tách khỏi Trường Đại học Xây dựng để nhập vào Trường. Thế là sau 2 năm trời sống và học tập nơi sơ tán, chúng tôi lại được về Hà Nội, với mái Trường mới đặt tại Hà Đông. Tạm biệt làng Thủy, Mai thôn, Quế Ổ, bến đò Ngăm… những địa danh thân thuộc, thấm đẫm tình người đã đùm bọc, chở che cho chúng tôi, lứa sinh viên kiến trúc đầu tiên của Trường đại học Kiến trúc non trẻ.
Lúc này Mỹ đã chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc. Chúng tôi sớm ổn định học tập và Nhà trường lại đón thêm các khóa sinh viên mới. Thời gian này, chúng tôi được nhiều KTS từ Bộ Kiến trúc về tham gia giảng dạy như các KTS: Nguyễn Trực Luyện, Nguyễn Kim, Tạ Trường Xuân, Nguyễn Thúc Hoàng… và đặc biệt chúng tôi còn được các KTS nổi tiếng tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương như các ông Tạ Mỹ Duật, Trần Hữu Tiềm, Ngô Huy Quỳnh, Hoàng Như Tiếp… trực tiếp truyền dạy cho những kinh nghiệm quý báu trong sáng tác kiến trúc và hướng dẫn đồ án tốt nghiệp. Mùa hè năm 1972, tôi tốt nghiệp KTS vào loại giỏi với đồ án “Nhà hát Múa rối T.Ư” do hai Thày là KTS Trần Hữu Tiềm và KTS Nguyễn Thúc Hoàng hướng dẫn.
2.Thấm thoát đã 47 năm trôi qua, lớp 67K chúng tôi mỗi người một số phận, nhưng giờ cũng đã lên chức ông bà. Hầu hết đã nghỉ hưu, vui với con cháu, gia đình sau mấy chục năm lăn lộn với nghề và với cả cuộc sống vất vả đời thường. Nhiều bạn trong lớp rất thành đạt như Trịnh Quốc Đoàn, Thiếu tướng Tổng cục phó phụ trách xây dựng cơ bản của Bộ Công an, Trần Xuân Diễm là Phó Vụ trưởng Văn phòng Chính phủ. Một vài người đã sớm ra đi vì bệnh tật như anh Lưu Bích San, Vương Cường, Hoàng Linh Quy… Còn tôi, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Bộ Xây dựng, trên cương vị là Phó Tổng Biên tập, Tổng Biên tập Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, Tạp chí Xây dựng, Báo Xây dựng, giờ về Hội KTS Việt Nam làm công tác chuyên trách và tham gia giảng dạy, đào tạo KTS ở vài Trường đại học. Nguyễn Tiến Thuận vẫn vững vàng trong sáng tác. Anh là người rất thành công trong sự nghiệp và là niềm tự hào của Lớp 67K chúng tôi.
Kỷ niệm 45 năm thành lập Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, bồi hồi nhớ lại vài kỷ niệm nho nhỏ đầu tiên còn hằn sâu trong ký ức về những người bạn cùng khóa, về những người thày mà tôi yêu quý, kính trọng nay đã mất như các cố KTS: Ngô Huy Quỳnh, Hoàng Như Tiếp, Tạ Mỹ Duật, Trần Hữu Tiềm, Đoàn Văn Minh, Đoàn Ngọ, Khổng Toán, Vương Quốc Mỹ, Lê Quang Hải, Nguyễn Đức Thiềm, Trần Hùng, Họa sỹ Trần Tía… Một số thày hiện đang còn sống và làm việc tại Hà Nội như GS Nguyễn Bá Đang, GS Nguyễn Việt Châu, GS Nguyễn Lân, KTS Vũ Đức Đảm, PGS Vũ Thị Vinh, họa sỹ Đặng Quý Khoa… cùng rất nhiều thày cô, cán bộ nhân viên của Nhà trường những ngày đầu thành lập mà tôi không thể kể và nhớ hết tên.
Chao ôi, đời người như chớp bóng hoàng hôn. Nhìn lại một chặng đường đã qua, để mà nhớ, mà tin, mà tự hào về Trường Đại học Kiến trúc thân yêu, về cái nghề mà mình đã đam mê, theo đuổi và gắn bó cả cuộc đời: Nghề Kiến Trúc!
KTS Phạm Thanh Tùng
Chánh Văn phòng Hội KTS Việt Nam




















