Kiến trúc vì cộng đồng – Kiến trúc sư Việt Nam nhận thức và hành động

Dẫn nhập

Trong những năm 2010 đến nay, Hội Kiến trúc sư Việt Nam đã có cuộc vận động nâng cao vai trò trách nhiệm của KTS với xã hội, hướng tới cộng đồng và đã nhận được sự hưởng ứng, tham gia của giới KTS, đặc biệt là các KTS trẻ. Các cuộc sáng tác kiến trúc nhà ở cho người thu nhập thấp ở đô thị, nông thôn, nhà ở cho người nghèo vùng ngập lũ…hay các cuộc triển lãm và tư vấn thiết kế xây dựng nhà ở miễn phí cho nhân dân tổ chức tại Hà Nội đã nhận được sự đồng thuận của xã hội, là nguồn động viên khích lệ KTS trên con đường lao động sáng tạo đầy gian khó. Trong lĩnh vực kiến trúc vì cộng đồng (KTVCĐ), nhiều KTS trẻ đã táo bạo tìm hiểu đặt vấn đề, tự nguyện sáng tác, dấn thân đầu tư xây dựng các công trình đạt được sự đón nhận của xã hội và giới chuyên môn. Nhiều tác phẩm đã đạt được giải thưởng lớn tại các cuộc thi Kiến trúc thế giới, trong các Festival Kiến trúc quốc tế và khu vực.

Tuy nhiên, các khái niệm, tiêu chí, tính chất, các đặt và giải quyết vấn đề kiến trúc vì cộng đồng ở Việt Nam cũng như trên thế giới cũng còn nhiều điểm tranh luận cần hiểu đúng và làm rõ. Hội thảo này quả rất cần thiết và quy tụ nhiều chuyên gia góp mặt, đây cũng là dịp quý giá để chúng ta cùng bàn luận và gợi mở những hướng đi cho KTVCĐ tại Việt Nam, quan trọng nhất là giải quyết chính những vấn đề cực kỳ thách thức mà Việt Nam đang đối phải như : Sự biến đổi khí hậu tác động đến môi trường sống con người; sự phân hóa giàu nghèo, sự chuyển đổi sử dụng đất, ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, công nghiệp hóa; nguy cơ nghèo văn hóa khi thiếu hụt sự đầu tư các công trình phúc lợi xã hội và bảo vệ bản sắc truyền thống địa phương….

Định nghĩa kiến trúc vì cộng đồng

Khái niệm kiến trúc vì cộng đồng có từ những năm 60 của thế kỷ trước, bắt đầu từ lời kêu gọi “hãy vì cộng đồng” của Liên Hợp Quốc với các hoạt động thiện nguyện về y tế, giáo dục, nông nghiệp… đi đến các vùng xảy ra thiên tai động đất, sóng thần, hạn hán, lũ lụt, nơi xảy ra nạn đói, dịch bệnh hoành hành, hay chiến tranh khốc liệt tại các nước nghèo ở châu Phi, châu Á… để giúp đỡ các nạn nhân trong đó có phụ nữ và trẻ em.

Có định nghĩa cho rằng “Kiến trúc vì cộng đồng là kiến trúc phi lợi nhuận, quan tâm và hướng đến mục tiêu cải thiện cuộc sống cho những người nghèo, những người yếu thế nhất trong xã hội”

Nhiều kiến trúc sư nổi tiếng trên thế giới đã dấn thân xây dựng sự nghiệp thiết kế của mình trên những tư tưởng kiến trúc về cộng đồng như Shigeru Ban ( Nhật Bản); Alenjandro Aravena ( Chile); Diébédo Francis Kéré ( Burkina Faso); Anna Heringer ( Đức)… Hầu hết các công trình của họ đều hướng về người nghèo, những nhóm đối tượng bị tổn thương và thua thiệt trong xã hội, thông qua kiến trúc, các tác giả mong muốn đem lại sự cải thiện tốt hơn cho môi trường sinh sống, làm việc học tập giải trí của cộng đồng.

Tuy nhiên trong nhiều năm dài, việc làm và những nghĩa cử này không thật sự là một trào lưu lớn mang tính trách nhiệm của các kiến trúc sư trên toàn cầu. Từ giai đoạn cuối thập niên 90 và những năm đầu thế kỷ 21, cùng với bùng nổ và thừa nhận các học thuyết về phát triển bền vững, về kiến trúc xanh, về sự quay về những giá trị xây dựng truyền thống bản địa… thì KTVCĐ lại có thêm những cách tiếp cận mới, được bổ sung những KTS giỏi tâm huyết chọn con đường sáng tác và hành nghề theo định hướng này.

Quyền con người về nhà ở – nơi làm việc, học tập – và nơi nghỉ ngơi giải trí

Vậy đối với các nhóm đối tượng đang bị tổn thương của xã hội như: Người thu nhập thấp, người vô gia cư, người tàn tật, người dân tộc thiểu số, các đối tượng dễ bị tổn thương, lạm dụng, người tị nạn chiến tranh, hay đơn giản là bất kỳ người dân tại các đô thị hay vùng nông thôn… Câu hỏi đặt ra là đã có những giải pháp xã hội nào thông qua kiến trúc để đáp ứng nhu cầu tối thiểu hay nâng cao của của các nhóm đối tượng trên? Giúp họ được tiếp cận, được sở hữu, được sử dụng một cách bình đẳng, miễn phí hay có giá thành thấp nhất các công trình kiến trúc tại 3 môi trường không gian chính của con người : Ở, làm việc và nghỉ ngơi giải trí. Giải quyết các vấn đề này chính là công việc của KTVCĐ.

Tác giả thử định nghĩa về KTVCĐ như sau:

“ KTVCĐ là những công trình kiến trúc đơn hay đa chức năng dành cho một nhóm đối tượng người dân hay cho một cộng đồng cư dân cụ thể; đáp ứng các nhu cầu bức thiết về môi trường sống, làm việc hoặc nhu cầu nâng cao các giá trị tinh thần, văn hóa tín ngưỡng và truyền thống địa phương; bằng cách tiếp cận đầu tư trên cơ sở phi lợi nhuận, suất đầu tư rẻ; áp dụng thông minh và sáng tạo hòa hợp giữa công nghệ mới và vật liệu địa phương, phương thức xây dựng tuyền thống; sử dụng đa dạng các nguồn vốn nhằm tối ưu hóa khả năng phục vụ của công trình cho đông đảo người dân tham gia làm chủ và sử dụng”

“KTVCĐ là những công trình có sự tham gia của cộng đồng một cách toàn diện, tính tương tác, hợp lực và tinh thần làm chủ là bí quyết của những dự án thành công”

Để làm rõ hơn định nghĩa và các cách tiếp cận này, chúng ta cùng xem xét các ví dụ trên thế giới và Việt Nam

Các gương mặt kiến trúc sư thế giới tiêu biểu và có ảnh hưởng trong linh vực KTVCĐ

KTS Shigeru Ban

KTS Shigeru Ban từng thiết kế nhiều thể loại công trình, như nhà ở, bảo tàng, triển lãm, hội nghị, nhà hát, văn phòng…Con đường thiết kế ông theo đuổi là kiến trúc bền vững và cấu trúc vật liệu. Trong 20 qua, ông đã thiết kế nhiều công trình, từ quy mô lớn và chất lượng cao đến xây dựng các không gian sống cho những vùng bị tàn phá do thiên tai, ví dụ như nhà ở tạm thời, trung tâm cộng đồng, tín ngưỡng cho người dân địa phương ở Rwanda, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Trung Quốc, Ý, Haiti và Nhật Bản… 

KTS Shigeru Ban là một kiến trúc sư thiết kế theo hướng sinh thái. Các công trình của ông đều có chi phí xây dựng thấp, vật liệu dễ tìm và có thể tái sử dụng. Trong nhiều thiết kế kiến trúc, ông không tạo nên bất cứ thứ gì mới mẻ mà chỉ sử dụng các chất liệu có sẵn theo một cách khác hẳn. Đó là kết quả của quá trình nghiên cứu cách sử dụng vật liệu tự nhiên và tái chế như: tre, gỗ, vải, vật liệu tổng hợp, nhựa tái chế và đặc biệt là giấy và bìa các-tông, dễ kiếm ở mọi nơi, dễ vận chuyển, chống lửa và chống nước. Bằng sự hiểu biết và nghiên cứu sâu sắc về vật liệu, các công trình của ông là những thử nghiệm vật liệu mới, giúp công trình đứng vững trước tự nhiên, thể hiện sự tồn tại mãnh liệt của con người trước thiên nhiên thông qua kiến trúc. Ông còn cho rằng tính bền vững không phải là khái niệm được thêm vào sau khi công trình hoàn thành, mà đúng hơn nó phải là bản chất của kiến trúc.

KTS Alejandro Aravena

Pritzker 2016 đã được trao cho Alejandro Aravena, một kiến trúc sư trước đó không quá tiếng tăm, nhưng là nhân vật rất thú vị với những quan điểm và sáng tác rất thành công cho nhà ở nghười nghèo tại đô thị Chi Lê. Các đồ án nhà ở cho cộng đồng nghèo của ông khiến cho phần đông mọi người thấy không hấp dẫn bởi hình thức đơn giản, đôi lúc chắp vá và có vẻ hỗn độn. Nhưng chịu khó hiểu hơn chút sẽ thấy Alejandro đã tìm cách khai phá một lối mới cho thế giới đang ngập tràn bất công và dĩ nhiên là thay đổi các nguyên lý thiết kế cốt lõi, đặc biệt thành công là ở các dự án half-half có giá thành xây dựng hết sức hợp lý và để người dân tự điền vào chỗ trống theo ý thích khi cần mở rộng không gian sống : một cuộc cách mạng thật sự cho việc tạo dựng nhà ở xã hội cho các nước đang phát triển. Kiến trúc ở những nơi hãy còn khan hiếm về phương tiện và công nghệ nên biết cách khôn khéo sử dụng những gì có sẵn thay vì phàn nàn về những thứ thiếu hụt.

Đối với ông, kiến trúc nên là công cụ thiết kế để cân bằng giữa đặc quyền cá nhân và lợi ích tập thể. Kiến trúc nên mang sứ mệnh xã hội, hơn là đeo bám những thứ đẹp đẽ vô hồn.

Qua thực tế công việc, ông muốn chứng minh rằng: Không chỉ duy nhất con đường do những chủ đầu tư sử dụng bất động sản để theo đuổi sản phẩm đầu cuối là lợi nhuận khổng lồ, mà còn rất nhiều các tổ chức cộng đồng và người dân, khi được hiểu về cách giải phóng nội lực, đã có thể cải thiện môi trường sống của mình dù không nhận bất kỳ đào tạo thiết kế chính quy nào.

Đối với vấn đề đô thị hóa và nhà ở đô thị, ông phân tích đến 2030, khi thêm 2 tỷ người từ bỏ nông thôn để chuyển vào sống trong đô thị, thế kỷ 21 rõ ràng cần những ý tưởng mới để giải quyết nhu cầu nhà ở khổng lồ này! Những thay đổi lớn trong thành phố diễn ra chậm và lâu hơn nhiều so với thời gian trung bình tại vị của chính quyền, và người dân là chủ thể của những thay đổi này.

Kiến trúc sư, vì thế có thể mạnh mẽ nêu cao một khái niệm rộng hơn về lợi ích cho dân và vì dân: Thiết kế như là giá trị gia tăng cho cộng đồng và kiến trúc tạo một lối tắt đến bình đẳng.

KTS Anna Heringer

Anna Heringer quan niệm “Kiến trúc như là một công cụ để thúc đẩy sự tiến bộ cuộc sống”

Với tầm nhìn trên, động lực của công việc của Heringer là để khám phá và sử dụng kiến trúc như là một phương tiện để phát triển văn hóa và sự tự chủ cá nhân, qua đó hỗ trợ nền kinh tế địa phương và gia tăng sự cân bằng sinh thái. Niềm vui cuộc sống là quá trình thực thi và Heringer rất yêu thích cống hiến cho sự phát triển bền vững của xã hội và môi trường tự nhiên. Phát triển bền vững là giai điệu của vẻ đẹp, một công trình phải hài hòa trong thiết kế, cấu trúc, kỹ thuật và sử dụng vật liệu, phù hợp nhất với địa điểm, môi trường và người sử dụng trong một tổng thể phức hợp văn hóa xã hội. Đó là những gì định nghĩa về sự bền vững và vẻ đẹp thẩm mỹ của cô.

KTS Diébédo Francis Kéré

Triết lý hành nghề của văn phòng Kere là cam kết và nỗ lực thúc đẩy tính địa phương trong việc tiếp cận thiết kế và xây dựng. Ông hướng đến những kết quả tốt nhất trên cơ sở hạn chế sự cải tạo và sử dụng tài nguyên, tối đa hóa sử dụng vật liệu địa phương, áp dụng kiến thức và cách thức xây dựng truyền thống để sáng tạo những giải pháp thiết kế bền vững và chuẩn mực.

Kere tin rằng kiến trúc có thể trở thành một phương tiện để tập hợp năng lượng và sự chuyển động, nơi mà ông thể hiện tư tưởng sáng tạo gần nhất với cộng đồng địa phương trong suốt quá trình thiết kế từ quy hoạch đến xây dựng. Bằng cách hỗ trợ  giáo dục, văn hóa và các tiện ích văn minh cho cộng đồng địa phương thông qua các thiết kế ấn tượng và thu hút sự chú ý, ông sẽ tiếp tục thể hiện các cam kết hướng về sự bền vững, các vấn đề kinh tế đáp ứng sự phát triển dân số ở các khu vực nông thôn châu Phi

Quá trình phát triển các thể loại kiến trúc vì cộng đồng tại Việt Nam

Một số tác giả và công trình kiến trúc vì cộng đồng tiêu biểu ở VN

Các công trình nhà cộng đồng của KTS Hoàng Thúc Hào:

Có thể nói anh là kiến trúc sư tiên phong và dày công theo đuổi các sáng tác của mình trên con đường sáng tạo KTVCĐ ở Việt Nam. Từ Nhà Nông thôn Suối Rè, nhà cộng đồng Tả Phìn, nhà cộng đồng Quản Bạ tại các tỉnh vùng núi phía Bắc cho đến nhà cộng đồng Cẩm Thanh tại Hội An, hay ngay cả công trình mới tại Bruthan, anh đều theo đuổi triết lý “ kiến trúc hạnh phúc” với những quan điểm rất riêng, các tiếp cận phong phú và sáng tạo đối với thể loại nhà cộng đồng cho những vùng đất, thổ nhưỡng, dân tộc và văn hóa khác nhau. Đánh giá riêng của tác giả, là những công trình anh làm ngày càng có tính ổn định và thể hiện rõ hơn những điều tác giả tâm đắc. Tôi được biết, anh đã tốn rất nhiều công sức trong việc phối kết các tổ chức xã hội, các nhà tài trợ, chính quyền địa phương và cộng đồng cư dân cùng tham gia các dự án, đó là những nỗ lực đáng trân trọng và đó cũng là những yếu tố cấu thành sự thành công của những công trình tồn tại ngày càng bền vững hơn với sự đón nhận đúng ý mong muốn của cộng đồng.

Con đường anh đi đã trải qua khoảng 5-6 năm gần đây và có những kinh nghiệm rõ rệt, đó là một sự dấn thân đáng trân trọng về trách nhiệm hoạt động xã hội của một công dân cũng như một chuỗi sáng tạo nghề nghiệp mang phong cách riêng của người kiến trúc sư. Những nỗ lực bền bỉ của anh đã được nhiều tổ chức trong và ngoài nước vinh danh nhiều giải thưởng.

Nhà Vệ sinh cho trẻ em tại trường học vùng cao – KTS Đoàn Thanh Hà

Ở những sáng tác của mình cho 2 khu nhà vệ sinh cho trường học ở vùng cao, cũng như các đồ án sáng tác về nhà cộng đồng, nhà dành cho chống thiên tai, KTS Hà đã cho biết những ý tưởng nung nấu từ cách đặt vấn đề “ kiến trúc cho người nghèo” , anh cũng tiếp cận những thiết kế của mình trên cơ sở đặt ra việc xây dựng các tiện nghi sạch sẽ khu vệ sinh cho trẻ em vùng cao, trên cơ sở dung vật liệu địa phương và những ứng dụng trong việc áp dụng một công trình sinh thái thân thiện và tiết kiệm năng lượng. Những công trình của anh có quy mô nhỏ, phạm vi sử dụng đơn chức năng nhưng thể hiện tâm huyết tìm tòi thử nghiệm của người kiến trúc sư trẻ. Tính thực nghiệm trong các thiết kế của anh rất thú vị, có thể cảm nhận được tinh thần và giá trị của người kiến trúc sư trong việc trực tiếp tham gia xây lắp các công trình nhỏ nhưng nhiều tâm huyết này. Ở góc độ kinh tế, tinh hiệu quản tạm chưa bàn đến, nhưng tinh thần trách nhiệm xã hội của người kiến trúc sư quả đáng trân trọng.

Công viên gốm đất nung Thanh Hà, Hội An – KTS Nguyễn Văn Nguyên

Đây là một ví dụ thú vị về một cách làm KTVCĐ đầy tâm huyết, táo bạo, đầy áp lực đương đầu với rủi ro. KTS Nguyên là người con của đất Hội An, sau những năm tháng làm nghề và lập nghiệp tại TPHCM, anh vẫn giữ mối liên lạc với quê hương. Khi biết được dự án khôi phục làng nghề gốm truyền thống Thanh Hà tại Hội An, anh đã trăn trở, suy tư và quyết theo đuổi giấc mơ về việc góp sức xây dựng một khôn gian sáng tạo dựa trên nền tảng văn hóa đời sống địa phương. Việc can đảm nhận trách nhiệm đầu tư, lên đề án, thuyết phục chính quyền, thuyết phục cộng đồng, tự bỏ vốn, tham gia xây dựng, mời các nghệ nhân cùng góp sức và tổ chức vận hành đời sống công trình từ năm 2015 đến nay, câu chuyện đó thật hấp dẫn và vô cùng thú vị của một tác giả sống chết với KTVCĐ.

Ngày hôm nay, Công viên gốm đất nung Thanh Hà đã đóng vai trò tái sinh sức sống của ngôi làng, là trung tâm văn hóa tinh thần, là điểm du lịch hấp dẫn, có đóng góp kinh tế cho hoạt động địa phương, được sự nâng niu tự hào và tham gia của cả cộng đồng. Sức sống từ câu chuyện làng nghề xưa được phục dựng lại trong một công trình mới quả là đúng tinh thần đẹp đẽ của KTVCĐ

Đường sách Nguyễn Văn Bình, TPHCM – Cty Thủy An

Khác với các dự án KTVCĐ khác cho đối tượng người nghèo, Đường Sách TPHCM lại là một dự án thiết kế đô thị đầy thú vị, tính văn hóa và bản sắc đô thị được nghiên cứu thể hiện và đi vào đời sống của một thành phố lớn. Từ đơn đặt hàng của UBND TPHCM, các nhà sách, cty văn hóa phẩm đã xã hội hóa chung vốn đầu tư, cùng thảo luận phân chia không gian gồm có các hạng mục kiến trúc nhẹ như : Kiosque sách, các nhà bán souvenir văn hóa phẩm, quán cafe, đường dạo ghế ngồi và không gian mở…

Trải nghiệm cho khách đến không phải chỉ là đơn thuần mua sách báo mà là một sự tò mò thú vị về cảm nhận không gian văn hóa Sài Gòn mới, năng động, trẻ trung, đầy sức sống bên cạnh các di tích như Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện TPHCM. Một ý tưởng tốt được thể hiện bởi giải pháp thiết kế đô thị tốt tạo nên hiệu quả nâng cao khả năng đáp ứng đời sống tinh thần người dân, đó chính là giá trị cốt lõi của KTVCĐ

Cùng thể loại này, những thiết kế đô thị của đường Hoa Nguyễn Huệ hang năm dịp Tết cũng là một thể loại KTVCĐ mang tính đầu tư tạm, tập hợp những kiến trúc nhẹ, tạo hiệu quả nhân văn đô thị. Gần đây, đề án Phố đi bộ khu phố Cổ và không gian xung quanh Hồ Gươm đã được quy hoạch và từng bước triển khai, sự can thiệp bởi kiến trúc và công trình chưa nhiều nhưng tính hấp dẫn của cách tổ chức đã thu hút đông đảo người dân tham dự, đặc biệt là giới trẻ đã làm chủ các sân chơi tự phát đầy ngẫu hứng tạo nên nét văn hóa mới. Sự tiếp cận miễn phí, đồng đẳng và phục vụ số đông quần chúng với những sản phẩm văn hóa tinh thần chất lượng cao chính là mục tiêu tốt đẹp của KTVCĐ đem đến cho xã hội.

Các công trình nhà ở xã hội, nhà ở dành cho công nhân ở VN, nhà ở tái định cư, nhà ở vùng bão lũ

Đây là một hạng mục hết sức quan trọng trong thể loại KTVCĐ, giải quyết các bài toán căn bản về nhu cầu nhà ở bức bách cho các đối tượng người dân. Tại Việt Nam, việc đầu tư xây dựng các hạng mục nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở tái đinh cư, nhà ở vùng bão lũ … luôn được chính quyền, các nhà khoa học, các nhà đầu tư quan tâm. Từ những năm thập niên 90, nhiều cuộc hội thảo, cuộc thi thiết kế đã được tổ chức từ Trung ương cho đến các địa phương, hội KTSVN cũng đã không ít lần thực hiện các cuộc thi thiết kế và thử nghiệm các kết quả này. Trong một vài năm gần đây, một số chủ đầu tư bất động sản, một số Khu công nghiệp cũng đã mạnh dạn nghiên cứu các mô hình đặc thù cho nhà ở công nhân của chính họ đạt được những kết quả nhất định. Trong phạm vi bài tham luận này, tác giả tạm không đi sâu phân tích chi tiết nội dung này, nhưng có thể có một vài nhận định về hiện trạng như sau:

  • Tuy đã có những dự án đầu tư, những thử nghiệm kiến trúc, nhưng kết quả đạt được trong lĩnh vực nhà ở xã hội và nhà ở công nhân mới chỉ dừng lại ở mức đáp ứng một phần nhu cầu cấp bách của xã hội. Cần hơn nữa sự đồng bộ chính sách, chiến lược dài hơi của chính phủ và những cải tiến công nghệ xây dựng để thể loại nhà ở xã hội thật sự đạt đến hiệu quả kinh tế cao và nhân rộng nhanh hơn nữa đáp ứng tốc độ đô thị hóa.
  • Nhà ở nông thôn vùng bão lũ cũng rất cần các chương trình phối hợp, giáo dục ý thức tuyên truyền để hình thành áp dụng các mẫu thiết kế tốt sớm đi vào thực hiện bảo vệ sinh mạng người dân cũng như đạt hiệu quả kinh tế sử dụng
  • Nhà ở tái định cư, đặc biệt là cho những dự án tái định cư nông thôn, phải nói là chưa nhiều mẫu điển hình thành công, thậm chí là rất nhiều dự án thất bại do tính toán chưa lường trước và chưa phân tích hợp lý từ đời sống kinh tế và văn hóa truyền thống cộng đồng cư dân bản địa. Rất nhiều khu tái định cư hoang tàn không được bà con dân tộc vùng cao quen ở khi những dự án Thủy điện lấy đi ngôi làng cũ của họ, điều đó quả thật đau lòng và trăn trở.

Qua các ví dụ về tác giải tác phẩm trong lĩnh vực KTVCĐ trên thế giới và Việt Nam, chúng ta có thể hình dung và định tính một số đặc thù của thể loại KTVCĐ

Thử xem xét các đặc điểm khác biệt của KTVCĐ

    • Đối tượng sử dụng : Là sản phẩm kiến trúc dành cho một cộng đồng dân cư, một nhóm người trong xã hội có nhu cầu sử dụng công trình nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp thiết, thường xuyên, định kỳ hay khẩn cấp của riêng nhóm đối tượng đó
    • Các thể loại KTVCĐ : Công trình nhà ở, nhà sinh hoạt công cộng, nhà đa năng, các công trình phục vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, các chức năng đặc biệt như trú ấn, lễ hội, tín ngưỡng. Các không gian công cộng, các tập hợp các công trình kiến trúc nhỏ, kiến trúc cảnh quan trong đô thị phục vụ số đông người dân….
  • Xã hội hóa đầu tư : Nguồn vốn đầu tư cho kiến trúc vì cộng đồng có thể đến từ nhiều nguồn : Nguồn ngân sách chính phủ, nguồn các tổ chức từ thiện, nguồn các nhà doanh nghiệp, cá nhân hảo tâm, từ vốn góp chung của cộng đồng., … thậm chí mỗi người dân trong làng có gì góp nấy, tiền, vật liệu, công cụ và sức lao động. Tính xã hội hóa đầu tư trên cơ sở thiện nguyện và phi lợi nhuận chính là nét đẹp của bài toán kinh tế các công trình KTVCĐ
  • Giá thành: Suất đầu tư thấp với kinh phí tối thiểu để có được một công trình đạt hiệu suất sử dụng tương đối, đáp ứng nhu cầu cấp thiết. Chi phí xây dựng rẻ nhờ tận dụng các vật liệu địa phương, nhân lực và kinh nghiệm xây dựng địa phương.
  • Xây dựng và vận hành : Do việc hiệu quả hóa tối đa nguồn đầu tư và phương thức không lợi nhuận, nên hầu hết các nhà xây dựng khai thác từ các nguồn lực và con người của cộng đồng, kể cả quá trình trước đó,trong việc xác đinh nhiệm vụ đầu tư và giai đoạn vận hành sau đó, chủ thể chính là người dân trong cộng đồng cùng tham gia ( Ý này có thể phát triển lên thành “ kiến trúc với sự tham gia của cộng đồng” )
  • Linh hoạt, đa năng và tái sinh: Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của KTVCĐ là tính linh hoạt trong sử dụng, đáp ứng nhiều chức năng và có thể chuyển đổi công năng sử dụng khi cần thiết.  Bởi một lẽ đơn giản đó là những nhu cầu của cộng đồng là đa dạng, đáp ứng số đông, đáp ứng tùy tình hình kinh tế xã hội và môi trường bản địa. Một công trình có thể vừa là trường học, vừa là nơi tụ họp cộng đồng, hay là nơi trú ẩn khu bị thiên tai… Khi chức năng ban đầu hết nhiệm vụ sử dụng, chính cộng đồng sẽ quyết định công năng mới sẽ được biến đổi thích ứng ra sao.

Cũng từ những đặc thù này, tác giả muốn đề xuất các khái niệm và sự tiếp cận mới cho việc đầu tư xây dựng các công trình công cộng đạt hiệu quả tối ưu phục vụ cộng đồng tại Việt Nam

“ Kiến trúc vì cộng đồng” tiến tới “ Kiến trúc với sự tham gia của cộng đồng”

Kiến trúc là một nghề tồn tại trên cơ sở đặt hàng của chủ đầu tư đối với người kiến trúc sư. Đã có nhiều luật định tại các quôc gia quy định chặt chẽ về mối quan hệ giao dịch này, nhằm đạt được sự chuẩn mực trong ứng xử, sự công bằng trong việc sử dụng và phát huy chất xám tác giả, sự trách nhiệm trong quá trình hình thành tác phẩm và sự phối hợp tốt để công trinh đạt hiệu quả cao nhất.

Đối với thể loại KTVCĐ mối quan hệ trình tự: Chủ đầu tư – Kiến trúc sư – các nhà chuyên môn xây dựng khác – người quản lý vận hành – người thụ hưởng đã có nhiều sự khác biệt so với các công trình thông thường. Không phải là một sự tách bạch hoàn toàn, đôi lúc cứng ngắc quy trình và thiếu tính trách nhiệm, sự tham gia đồng hành của các bên trong nhiều công đoạn là rất phổ biến và thậm chí mang tính quyết định sự thành công của công trình.

Chúng ta đã cảm nhận sự hoang phí, thiếu sức sống và đôi lúc vô hồn của các công tình nhà văn hóa địa phương các cấp, các bảo tàng nghèo nàn hiện vật, vắng người đến, các trung tâm triển lãm, thể thao bị biến đổi công năng cho thuê tìm nguồn thu gỡ lại chi phí ở rất nhiều nơi tại Việt Nam…. Đó là hệ quả của tư duy đầu tư bao cấp, đổ đồng, thiếu khảo sát, đặt câu hỏi về nhu cầu và tạo hiệu ứng đồng cảm từ cộng đồng thụ hưởng.  Đối với thể loại KTVCĐ càng lại cần sự tham gia sâu của cộng đồng từ khi bàn thảo việc đầu tư, chính người thụ hưởng sẽ là người có tiếng nói quan trọng trong việc hình thành lên công trình một cách đúng ý đúng cách đúng cái họ muốn. KTS chúng ta cũng nên tránh việc chủ quan trong suy nghĩ “ tốt” đơn thuần của mình trong việc áp đặt cho họ một nhà cộng đồng mà họ không cần, không dùng tới. Đành rằng ta kêu gọi tài trợ, ta tâm huyết thiết kế kiến trúc với nhiều tư tưởng, giải pháp, công nghệ mới, kể cả chúng ta đoạt giải thưởng kiến trúc về những đột phá sáng tác, điều đó cũng chưa chắc đó là cái cộng đồng đón nhận và sử dụng lâu dài, bài học điều chỉnh công năng một số nhà cộng đồng cũng bắt nguồn từ việc sử dụng thực tiễn tốt nhất sao cho công trình sống được sau đó.

Vì vậy, quan những ví dụ thành công trên thế giới và Việt Nam, chúng ta hãy thử làm quen và mời cộng đồng cùng tham gia thiết kế công trình từ các khâu: Bàn ra đề, xác định nhiệm vụ thiết kế, xây dựng ý tưởng, cụ thể hóa giải pháp xây dựng, vật liệu, kêu gọi và quyên góp tiền đầu tư…. đến hoàn thiện và chuyển giao quản lý sử dụng. Những đình làng truyền thống Việt Nam chính là nhà cộng đồng xuất sắc ông cha ta đã thực hiện, từ không gian, kiến trúc, đời sống xã hội tín ngưỡng thể hiện bản sắc văn hóa riêng từng địa phương và sức sống đã trải qua hang trăm năm.

Đúc kết các giá trị và tính chất của KTVCĐ

Ý nghĩa – Cao cả và nhân văn

Giải Pháp – Sáng tạo và thông minh

Thực Thi – Sự ủng hộ và tham gia của cộng đồng

Triển vọng phát triển của Kiến trúc cộng đồng ở Việt Nam như thế nào?

Xuất phát từ thực tế cấp thiết

Việt Nam trong quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu và quá trình đô thị hóa công nghiệp hóa tăng nhanh, chính là một trong những quốc gia đứng đầu trên thế giới về các nguy cơ tác động xấu đến môi trường sinh sống của các cộng đồng cư dân. Không chỉ trong năm 2016 này, mã đã từ khởi thủy sự phát triển nóng những năm gần đây, chúng ta đồng thời đối mặt với những thảm họa môi trường tự nhiên và xã hội.

Lay động tinh thần “ Trách nhiệm xã hội” của người kiến trúc sư

Câu hỏi đặt ra là giới kiến trúc sư chúng ta có thể làm gì, có thể kiến tạo những công trình KTVCĐ như thế nào cho những cộng đồng đang bị tổn thương này. Nguy cơ hiển diện, tổn thất đã rõ, hệ lụy lâu dài, vậy sự ứng phó của giới kiến trúc ở đây là gì.

Phạm vi nêu ra nằm ở phạm vi chuyên môn nghề nghiệp, bên cạnh sự đầu tư ngân sách của chính phủ, sự hảo tâm tài trợ của các tổ chức doanh nghiệp, sự ứng phó tự thân của người dân địa phương… thì vấn đề này cũng hy vọng giới kiến trúc sư Việt Nam đồng cảm, quan tâm và cùng chia sẻ các suy nghĩ trong quá trình tham gia thực hiện những công trình KTVCĐ một cách hiệu quả và trách nhiệm.

Đặt vấn đề một cách khác, nếu Kiến trúc sư không lĩnh nhận trách nhiệm tiên phong xã hội trong việc kiến thiết những công trình mang tính chất đặc thù, với mục đích nhân văn hỗ trợ các cộng đồng và nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, mà ngồi chờ các đơn đặt hàng với nguồn vốn sẵn có, thì e rằng chúng ta sẽ thực hiện việc này chậm trễ và thiếu tính chủ động. Ở góc độ này, cho thấy KTVCĐ sẽ là một kiến trúc xuất phát từ tính cao cả, sự nhân văn trong mục đích sử dụng và tính hiệu triệu trong quá trình kêu gọi đầu tư.

Trong phạm vi bài tham luận này, tác giả chưa thể nêu ra hết các gợi ý, bằng sự suy tư trách nhiệm của các đồng nghiệp, tôi tin rằng các đồng nghiệp KTS Việt Nam sẽ có nhiều sáng kiến trong việc phát triển KTVCĐ, đặc biệt là lực lượng KTS trẻ, dồi dào sức sáng tạo, sẵn sàng hy sinh sức trẻ và thử nghiệm trên những hướng đi khác biệt, chấp nhận thất bại để đi đến thành công.

Tinh thần trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân và trách nhiệm người làm nghề sẽ phát huy một cách cao cả khi KTS “ dấn thân” làm công trình KTVCĐ. Đơn giản chúng ta sẽ vất vả hơn làm công trình thông thường rất nhiều, phải lao tâm khổ tứ cho những đề bài nan giải với ngân sách hạn hẹp, không hy vọng có lợi nhuận thiết kế và sẽ không phải là những tác phẩm hào nhoáng khoe mẽ. Cái tâm thật sự của người làm nghề sẽ đến đến hiệu quả tốt nhất cho công trình. Sự vay mượn hay giả tạo trong lý tưởng thực hiện các công trình KTVCĐ sẽ ắt dẫn đến thất bại khi thực thi.

Thay lời kết

Bài viết sẽ không đưa ra một kết luận hay các gợi ý định hướng cụ thể cho vấn đề phát triển KTVCĐ tại Việt Nam. Cũng không có những nhận đinh đánh giá cụ thể về hiện trạng hay triển vọng. Tác giả cố gắng phân tích các ví dụ trên thế giới và Việt Nam để tìm mẫu số chung các giá trị của KTVCĐ, đó là những câu chuyện về cách đặt vấn đề đầy tính nhân văn, về những thách thức kinh tế xây dựng tưởng chừng như không vượt qua được, về những sáng tạo thông minh bất ngờ của các tác giả kiến trúc sư, về những nỗ lực đáng trân trọng và đầy cảm hứng của những người tiên phong, về sự hạnh phúc và giá trị thúc đẩy chất lượng sống do các công trình KTVCĐ đem lại cho con người.

Từ những phân tích và nhận định, liên hệ với nhu cầu cấp thiết của người dân tại đô thị và đặc biệt các vùng nông thôn đang bị xâm hại nghiêm trọng bởi các thảm họa tự nhiên và do chính con người gây ra, tác giả mong muốn thông qua hội thảo, cùng Hội kiến trúc sư Việt Nam kêu gọi và hiệu triệu những KTS tài giỏi, tâm huyết cùng phát huy kiến thức và lý tưởng nghề nghiệp thể hiện tinh thần trách nhiệm xã hội trong thời đại mới, góp sức cho đời, tận sức cống hiến tạo dựng nên một nền KTVCĐ mang bản sắc Việt Nam, vì người dân Việt Nam.

TPHCM 12/2016

Nguồn : Bài viết sử dụng hình ảnh, tư liệu từ các Website và ấn phẩm của : Tài liệu Hội, Tạp chí kiến trúc Việt Nam, Báo Xây dựng, Kiến Việt, Ashui, các trang web quốc tế, website các KTS quốc tế…. và nguồn do các KTS cung cấp trực tiếp. Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, nhà báo trong quá thực hiện

Ths. KTS. Nguyễn Thu Phong
Câu lạc bộ KTS trẻ Việt Nam