KTS Đoàn Khắc Tình: “Càng viết về lịch sử kiến trúc Việt Nam tôi càng thấy khó”

KTS Đoàn Khắc Tình
Giải Đồng – Hạng mục Ấn Phẩm kiến trúc: “Đền Miếu Chùa Tháp, Đình Làng Hà Nội, Huế & TP. Hồ Chí Minh”;
Bằng khen: “Các nhân tích cực tham dự GTKTQG 2018”

Từ đầu thập niên 1980, với tư cách Giảng viên môn Lịch sử Kiến trúc, khoa Kiến trúc – Đại học Xây dựng Hà Nội, KTS Đoàn Khắc Tình đã chuyên tâm nghiên cứu Lịch sử Kiến trúc Việt Nam (LSKTVN). Từ đó đến nay, Ông đã dày công thu thập tài liệu, viết và cho ra mắt hơn ba chục đầu sách hữu ích đối với công tác giảng dạy, học tập cũng như nghiên cứu. Bộ sách của ông không chỉ gồm những những khảo cứu đầy đặn, công phu mà còn có sức truyền cảm, khơi dậy tình yêu nghề nghiệp cho nhiều thế hệ sinh viên kiến trúc, và gợi ý cho anh em KTS hướng suy nghĩ đúng mực, đặng kế thừa nghệ thuật Dân tộc trong Thiết kế xây dựng hiện đại. TCKT đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi với KTS Đoàn Khắc Tình về quá trình thực hiện bộ sách Lịch sử Kiến Trúc Việt Nam. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc những tâm sự của Ông.

1. Khi bắt tay viết LSKTVN (quãng giữa mùa thu 2008), động đến bất cứ đề tài nào tôi cũng đều không biết bắt đầu từ đâu, dẫn giải ra sao, kết thúc thế nào. Tôi nhớ lại ngày còn đi học cấp III, đọc được một đoạn: Hồi thế kỷ thứ 8 vua Đường Thái Tông bên nước Tàu có phán truyền, đại ý, soi vào đồng (gương đồng) thì rõ mặt mũi bản thân, soi vào mắt người khác thì biết mình là ai trong lòng người ta, còn như soi vào thời cuộc thì tỏ tường hưng phế. Thế là tôi vận mấy ý ấy vào nghiên cứu, sàng lọc tài liệu để viết sách. Chả biết có trúng không?

2. Đọc sách vở và tra cứu tôi ngộ ra một điều: Tài liệu thì nhiều, xong quy đồng về đề tài cần thiết lại chẳng được bao nhiêu, nhất là thiếu hụt những đúc kết văn hóa kiến trúc. Chưa kể còn quá nhiều khoảng trống trong LSKTVN. Những điều đó cho thấy:

a) Tập quán tiếp xúc với nghệ thuật tạo hình qua đường thư họa là chính của tiền nhân.

b) Sự thiếu hụt nghiêm trọng giá trị nghệ thuật đích thực, bởi hệ thống di sản kiến trúc đô thị nước nhà đã bị hủy hoại quá nhiều, thậm chí “sạch sành sanh” như các thời kỳ trước thế kỷ thứ 10. Quanh đi quẩn lại về mặt học thuật tôi thấy những khảo cứu của Viễn Đông Bác Cổ là quán xuyến và cứng lý hơn cả.

3. Trong sách của mình, tôi “kể lể” nhiều về cơ sở kiến trúc đô thị thời đại, nói là ôm đồm cũng được. Thực tình, hễ động bút là tôi khó dừng bút, phần vì dễ bị sa đà vào văn phạm sử thi. Nhưng không hiểu sao tôi cứ nghĩ, ngôn ngữ sử thi có thể giúp bạn đọc khỏi bị mất hứng khi vấp phải nhiều câu chữ giải thích khoa học lộ liễu. Tức là lòng thành thực của tác giả mới là điều quyết định thành bại của một cuốn sách.

4. Như đã nói trên, sách tôi viết thường “kể lể” dài dòng. Có hai nguyên nhân: Một là khả năng tổng hợp của bản thân còn kém. Hai là tôi rất muốn sinh viên kiến trúc, mỹ thuật ở ta có cái đọc thêm ngoài giờ lên lớp, cũng như dành sách của mình cho anh chị em trên đại học, giới nghiên cứu, bạn đọc lớn tuổi hay đồng nghiệp nào có nhã ý kế thừa truyền thống Việt trong thiết kế xây dựng hiện đại. Kể cả một số đối tượng ngoại quốc (nếu họ quan tâm) và các công ty Tư vấn thiết kế nước ngoài có dự án trên đất Việt Nam. Bạn đọc, không phân biệt đối tượng hoàn toàn có quyền đòi hỏi (càng đầy đủ càng tốt) nội dung không thời gian của lịch sử Đất nước con người và lịch sử Nghệ thuật chuyên ngành trong mỗi ấn phẩm. Tôi đã nhường sự chỉn chu của hình thức ấn phẩm cho cái “hai là” như bạn đọc đã biết. Và, tôi lấy làm mãn nguyện vì điều đó.

Mốt số sách đã Xuất bản của KTS Đoàn Khắc Tình

Lần này là lần ra sách cuối cùng trong đời tôi. Hy vọng sẽ có tác giả khác viết lại khúc triết, cô đọng hơn (càng ngắn càng tốt), đặc biệt là Tổng tập LSKTVN. Khi ấy hẳn bạn đọc sẽ thực sự hài lòng.

A – SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN

1) Lịch sử Đô thị Việt Nam từ Nhà nước Văn Lang đến ngày nay (NXB Hồng Đức, 760 trang in màu. Sách được in nhờ sự hỗ trợ sáng tác của Hội KTS VN).
2a) Các ngành nghề Mỹ thuật trang trí kiến trúc Truyền thống Việt (NXB Hồng Đức, 250 trang in màu).
2b) Các ngành nghề Mỹ thuật trang trí kiến trúc Truyền thống Việt (Viết lại và bổ sung nội dung phân tích hình tượng nghệ thuật, NXB Hồng Đức, 398 trang in màu).
3) Kiến trúc Điền dã (NXB Hồng Đức, 172 trang in màu)
4) Kiến trúc Tam Giáo (NXB Hồng Đức, 160 trang in màu)
5) Mẹo làm nhà & nghề Thổ mộc của người Việt (NXB Hồng Đức, 220 trang in màu)
6) Những công trình Thiết chế, công sở, nhà việc ở Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại (NXB Hồng Đức, 250 trang in màu)
7) Tìm hiểu ngôi chùa Khmer Nam Bộ (NXB Hồng Đức, 150 trang in màu)
8) Phong thủy hay là đạo Trời đạo người trong kiến trúc đô thị truyền thống Việt (NXB Hồng Đức, 300 trang in màu)
9) Diễn họa phục vụ dạy và học Lịch sử Kiến trúc (Ấn phẩm kèm theo Triển lãm cùng tên do Hội KTSVN bảo trợ, mở cửa ngày 30/9/2018 tại 12 Hòa Mã – Hà Nội)
10) Đền miếu, chùa tháp, đình làng Hà Nội (NXB Mỹ Thuật, 456 trang in màu)
11) Đền miếu, chùa tháp, đình làng xứ Huế (NXB Mỹ Thuật. 380 trang in màu)
12) Đền miếu, chùa tháp, đình làng TP Hồ Chí Minh (NXB Mỹ Thuật. 404 trang in màu)
13) Mồ mả, Lăng tẩm Việt Nam xưa nay (NXB Mỹ Thuật. 552 trang in màu)
14) Chủ nghĩa lịch sử với Trụ biểu, Điêu khắc, Tượng đài Hoành tráng, Kiến trúc tưởng niệm (NXB Mỹ Thuật, 234 trang in màu)
15) Từ nhà tranh vách đất mà nên (NXB Mỹ Thuật, 552 trang in màu)
16) Nhà thờ Công giáo kiểu Nam với các phong cách truyền thống và bản địa hòa trộn đông tây kim cổ (NXB Mỹ Thuật, 602 trang in màu)
17) Kiến trúc đô thị Việt Nam Thế kỷ 19 – 1954 (NXB Mỹ Thuật, 900 trang in màu).
18) Chùa tháp Bắc Ninh, Bắc Giang (NXB Mỹ Thuật, 150 trang in màu).

TUYỂN TẬP ĐOÀN KHẮC TÌNH NÓI & VIẾT (NXB Mỹ Thuật)

19) Quyển 1: Lý luận phê bình Nghệ thuật (462 trang in đen trắng),
20) Quyển 2: Tiếp xúc với Kiến trúc đô thị Thế Giới (336 trang in đen trắng),
21) Quyển 3: Tiếp xúc với Kiến trúc đô thị Thế Giới (436 trang in đen trắng),
22) Quyển 4: Tiếp xúc với Kiến trúc đô thị Việt Nam (400 trang in đen trắng),
23) Quyển 5: Tiếp xúc với Kiến trúc đô thị Việt Nam (418 trang in đen trắng),

B – SÁCH SẼ XUẤT BẢN VÀO QUÝ IV – 2019 & QUÝ I – 2020

24) Những thành phố Việt Nam Đương đại (400 trang in màu).
25) Thăng Long – Hà Nội, nghìn năm câu chữ Thời gian (350 trang in màu).

TỔNG TẬP LỊCH SỬ KIẾN TRÚC VIỆT NAM (TRỌN BỘ 8 QUYỂN)

26) Quyển I: Nền kiến trúc Dựng nước Giữ nước (Khoảng 850 trang);
27) Quyển II: Kiến trúc nguồn Đô thị Nông thôn (Khoảng 800 trang);
28) Quyển III: Đền miếu, Thánh thất, Công trình tưởng niệm (Khoảng 830 trang);
29) Quyển IV: Chùa tháp và Thiền viện (Khoảng 950 trang);
30) Quyển V: Đình làng và Nhà làng (Khoảng 840 trang);
31) Quyển VI: Kiến trúc Thiên Chúa giáo (Khoảng 950 trang);
32) Quyển VII: Kiến trúc Việt Nam TK XIX – XX (Khoảng 1000 trang);
33) Quyển VIII: Kiến trúc Việt Nam Đương đại (Khoảng 1000 trang);
34) Quyển phụ: Văn xuôi hiện đại Nước ngoài (Gồm hai truyện vừa, hai truyện ngắn và một tiểu thuyết, dịch từ những năm 1985 – 1987. Dung lượng 515 trang)

Bích Thủy

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2019)