KTS Nguyễn Cao Luyện “Người anh lớn” của nền kiến trúc hiện đại Việt Nam

Khi nói về thế hệ kiến trúc sư (KTS) hiện đại đầu tiên của Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến KTS Nguyễn Cao Luyện với một hành trình sự nghiệp đầy đủ từ hành nghề, lý luận đến quản lý. Ông là một trong những người đầu tiên thành lập văn phòng kiến trúc tư của người Việt từ thời Pháp thuộc, tham gia sáng lập Đoàn KTS Việt Nam (tổ chức tiền thân của Hội KTS Việt Nam ngày nay) ở Việt Bắc, Thứ trưởng phụ trách chuyên môn ở Bộ Kiến trúc – Ông cũng là tác giả của những cuốn sách lý luận kiến trúc quan trọng. Tạp chí Kiến trúc xin trân trọng giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của KTS Nguyễn Cao Luyện qua cuộc trò chuyện giữa KTS Vũ Hiệp với người thân của ông: Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện (con trai) và KTS Nguyễn Trí Thành (cháu trai).

Hành nghề kiến trúc thời Pháp thuộc

KTS Vũ Hiệp: Câu hỏi đầu tiên tôi muốn dành cho anh Trí Thành, cháu trai của KTS Nguyễn Cao Luyện, anh có thể chia sẻ với độc giả TCKT về việc cụ Cao Luyện theo học Ban Kiến trúc của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương?

KTS Nguyễn Trí Thành: Ông nội tôi sinh ra trong một gia đình nho học – Cụ tôi, cụ Nguyễn Văn Đản (còn gọi là cụ Tú Đản) là một thầy đồ ở Nam Định. Gia cảnh tuy không phải khá giả nhưng ông nội được giáo dục đầy đủ – học văn hóa và học nghệ thuật. Sau khi học trường Thành Chung (từng bị đuổi học vì bãi khóa), ông lên Hà Nội và học Ban Kiến trúc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, năm 1928 (khóa 3 của Ban Kiến trúc và khóa 4 của Trường).

KTS Vũ Hiệp: Về chuyện sau khi tốt nghiệp, KTS Nguyễn Cao Luyện đi tu nghiệp ở Pháp thì sao ạ?

Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện: Bố tôi kể lại rằng: Sau khi tốt nghiệp với điểm cao nhất, ông được học bổng của Toàn quyền Đông Dương và sang Paris tu nghiệp, khoảng năm 1933 – 1934, làm việc ở xưởng của các KTS bậc thầy: Auguste Perret và Le Corbusier. Công việc ở các xưởng kiến trúc rất vất vả, ông làm việc từ sáng sớm đến tối mịt, mà tiền công cũng chỉ đủ thuê nhà và sinh hoạt phí.

Trong suốt thời gian bố tôi học ở Hà Nội cũng như ở Pháp, mẹ tôi vẫn ở Nam Định nuôi con nhỏ (hai chị gái đầu sinh năm 1928 và 1932), tự xoay xở cuộc sống bằng nghề làm bánh gia truyền từ bà ngoại. Đến khi ông về nước và mở văn phòng KTS tư, thì mới đón vợ con lên Hà Nội.

Mẫu thiết kế Đài tưởng niệm Alexandre De Rhodes của KTS Nguyễn Cao Luyện. Nguồn TTLTQG1

KTS Vũ Hiệp: Tôi được KTS Christian Pedelahore de Loddi’s kể lại rằng: Trong các cuộc nói chuyện với KTS Nguyễn Cao Luyện trước đây, việc cụ làm việc ở xưởng Le Corbusier chưa bao giờ được nhắc đến, trong khi cụ lại kể nhiều về thời gian làm việc cùng Auguste Perret (một KTS thực hành hàng đầu nước Pháp thời đó) và có mối quan hệ gần gũi hơn với hệ thống đào tạo KTS của trường Beaux-arts. Trước khi sang Pháp, KTS Nguyễn Cao Luyện đã gửi thư xin tu nghiệp đến Perret và được chấp thuận. Sau khoảng một năm làm việc với một KTS tiên phong của Pháp trong việc sử dụng bê tông cốt thép, KTS Nguyễn Cao Luyện về nước. Chú Trường Luyện và anh Trí Thành có biết tại sao ông không ở lại Pháp, như một số bạn học họa sĩ cùng thời như Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ… không ạ?

KTS Nguyễn Trí Thành: Có thể ông bị ràng buộc bởi học bổng của chính quyền Đông Dương và tình hình kinh tế khó khăn ở châu Âu (khi đó đang trong cuộc Đại khủng hoảng 1929-1939), cùng với đó là tình cảm và trách nhiệm với gia đình, với quê hương. Ngoài ra, có một lý do quan trọng là các ông Thứ, Phổ, Đàm là con em các quan lớn, nhà có điều kiện, chứ cụ nội tôi là nhà nho nghèo.

Biệt thự 65 Lý Thường Kiệt

KTS Vũ Hiệp: Về nước, tại sao KTS Nguyễn Cao Luyện không làm việc cho chính quyền thuộc địa mà lại mở văn phòng kiến trúc tư – một trong những văn phòng KTS tư đầu tiên ở Việt Nam?

Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện: Bố tôi là người có tinh thần dân tộc và có bản lĩnh. Ông tin là KTS người Việt cũng có thể tự thân hành nghề được, không cần phải làm việc dưới trướng người Pháp. Bên cạnh đó, cũng có những sự việc khiến ông “cảnh giác” với chính quyền.

Cuối năm 1934, sau khi về nước, ông nhận được hợp đồng thiết kế Đài Tưởng niệm Alexandre De Rhodes (người đã có công chuẩn hóa và phổ biến chữ quốc ngữ tại Việt Nam). Trước đó, người ta đã tổ chức thi 2-3 lần, nhưng không có phương án nào đáp ứng yêu cầu của hội đồng: Làm “theo lối An Nam”, “mang nét mỹ thuật An Nam”. Thiết kế của KTS Nguyễn Cao Luyện là một trụ đá vuông cao ~10 m với những chi tiết tạo hình và trang trí kiểu trụ biểu của kiến trúc truyền thống, nhưng cũng gợi cấu trúc một obelisk của phương Tây (vì chủ trương là của chính quyền Pháp, nhằm tôn vinh một người Pháp). Tiếc rằng, sau đó đã xảy ra việc nhà thầu xây dựng lại không chịu thực hiện vì cho là kiến trúc quá “Tây” và KTS không làm đúng ý của hội đồng. Bố tôi nhất quyết bảo vệ thiết kế của mình chứ không chỉnh sửa thành kiểu nhà bia – loại hình mà ông cho rằng chỉ dành cho vua chúa hoặc thần linh đất Việt. Dự án bị “đóng băng” suốt 5 năm, đến năm 1939 thì một KTS người Pháp – J.Lagisquet được giao việc này, với thiết kế kiểu mái dốc lợp ngói ống, có cả đấu củng và đầu đao. Nhiều năm sau (1984), công trình này cũng bị phá bỏ để lấy chỗ làm Tượng đài Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Những công trình đầu tiên của ông được xây dựng là Bệnh viện tư (của các bác sĩ Luyện và Chương) ở 167 Phùng Hưng và Trường tư thục Thăng Long ở 20 Ngõ Trạm. Hai công trình này vốn tiếp giáp nhau, sau này (khoảng 2010-2015) đã phá dỡ và hợp nhất để xây dựng Trường Tiểu học Thăng Long hiện nay.

Năm 1935, ông mở văn phòng tư, có trụ sở ban đầu ở phố Takou (Hàng Cót), sau dời về phố Borgnis Desbordes (Tràng Thi). Cuối năm 1935, KTS Hoàng Như Tiếp, bạn học từ Trường Đông Dương, từ Huế ra Hà Nội, kết hợp cùng KTS Nguyễn Cao Luyện và đổi thành văn phòng Luyện & Tiếp. Mấy năm sau, thêm ông Nguyễn Gia Đức nữa. Văn phòng kiến trúc Luyện – Tiếp – Đức trước năm 1945 đã nổi tiếng khắp Bắc Kỳ.

KTS Vũ Hiệp: Anh Trí Thành có thể kể thêm về những công trình mà văn phòng Luyện – Tiếp – Đức đã thực hiện?

KTS Nguyễn Trí Thành: Công trình được gìn giữ tốt nhất đến nay có lẽ là Biệt thự của bác sĩ Nguyễn Văn Luyện ở 65 Lý Thường Kiệt (hiện là đại sứ quán CH Cuba). Biệt thự của nha sĩ Nghiêm Mỹ ở 77 Nguyễn Thái Học (nay là trụ sở Liên minh Hợp tác xã) đã bị thay đổi ít nhiều. Các biệt thự khác ở 14 Phạm Đình Hổ, 74 Ngô Thì Nhậm, cụm nhà 16, 18, 20, 24 Phan Huy Chú… bị cải tạo lớn hoặc bị phá bỏ để xây công trình khác. Những ngôi nhà này mang phong cách Hiện đại – Bản địa rất mới mẻ vào thời đó, với cách bố cục theo ngôn ngữ điểm – tuyến – diện – khối rõ ràng, hài hòa đặc – rỗng, nhưng lại xử lý các chi tiết phù hợp với điều kiện khí hậu miền Bắc như khoảng hiên, ô văng, sê nô, cửa hai lớp chớp – kính, mái hai lớp có lỗ thông hơi…

KTS Nguyễn Cao Luyện cùng các đồng nghiệp cũng tìm tòi những hình thức mới phát triển từ vốn kiến trúc dân tộc (chứ không nệ cổ) – như ngôi nhà cho chính gia đình mình ở phố Thụy Khuê, nhà KTS Nguyễn Gia Đức ở khu Quần Ngựa, nhà họa sĩ Tô Ngọc Vân ở 104 Yết Kiêu, nhà kỹ sư Vũ Gia Thụy ở 7 Thiền Quang, nhà tiệm bánh cốm Nguyên Ninh ở 23 Hàng Than, biệt thự 215 Đội Cấn… Tiếc rằng, đến khi TP.Hà Nội có chương trình kiểm đếm quỹ biệt thự xây dựng thời Pháp thuộc để bảo tồn, rồi Luật Kiến trúc 2019 có quy định về việc đánh giá kiến trúc – thì hầu hết những công trình này đã bị phá hủy.

KTS Vũ Hiệp: Xem ra có rất ít “cửa” cho các KTS người Việt làm công trình lớn của chính quyền. Ngay cả một văn phòng nổi tiếng hàng đầu thời đó như Luyện – Tiếp – Đức cũng chủ yếu là thiết kế biệt thự cho người Việt?

KTS Nguyễn Trí Thành: Công trình lớn của chính quyền được “ưu ái” dành cho các KTS Pháp thì cũng là điều dễ hiểu. Thực ra, KTS Nguyễn Cao Luyện và cộng sự đã thực hiện cải tạo nội thất của một số cơ quan công quyền cao cấp, trong đó có Dinh Toàn quyền Đông Dương. Những năm 1940, Toàn quyền Jean Decoux nhận thấy cần phải hiện đại hóa không gian làm việc, và Phủ Toàn quyền đã ký hợp đồng với KTS Nguyễn Cao Luyện để cải tạo phòng làm việc của Toàn quyền với chi phí hơn 3000 đồng Đông Dương. Kiến trúc công trình vốn mang phong cách cổ điển Pháp, nên về cơ bản phòng làm việc của Toàn quyền người Pháp đương nhiên cũng theo kiểu cổ điển – nhưng KTS Nguyễn Cao Luyện đã khéo léo đưa vào một số tác phẩm nghệ thuật và đồ nội thất của người Việt mang tinh thần bản địa.
Các ông cũng tham gia một số cuộc thi kiến trúc do chính quyền tổ chức – như cuộc thi Nhà thờ Hải Phòng (và đã giành giải Nhất).

KTS Vũ Hiệp: Còn các hoạt động xã hội của KTS Nguyễn Cao Luyện trước năm 1945 thì sao?

KTS Nguyễn Trí Thành: KTS Nguyễn Cao Luyện luôn mong muốn đưa tri thức tiến bộ đến với người dân. Ông là thành viên sáng lập Hội mở mang nền tư thục (A.D.E.L). Không chỉ thiết kế Trường tư thục Thăng Long, KTS Nguyễn Cao Luyện còn tham gia giảng dạy (môn vẽ) ở trường này cùng với các trí thức tiến bộ lúc đó như các ông: Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám, Phan Anh…

Cùng với KTS Hoàng Như Tiếp, ông đã thực hiện các kiểu nhà tiến bộ, dùng vật liệu rẻ tiền (bê tông mỏng, gạch, gỗ, tranh, tre, nứa, lá) nhưng tạo dựng chỗ ở văn minh, sáng sủa và vệ sinh cho người dân nông thôn. Rộng hơn, đó là một phong trào hoạt động cải cách xã hội và nhà ở diễn ra ở Việt Nam vào thập niên 1930, có liên hệ mật thiết với nhóm Tự Lực văn đoàn. Các ông đã đăng một số kiểu nhà mới trên các báo Phong Hóa và Ngày Nay (1934-1936) để cổ động và làm mẫu cho người dân xây theo. Năm 1936 vận động chuẩn bị và đến 1937 thì thành lập Hội Ánh sáng với khẩu hiệu “Xã hội – Nhân đạo – Cải cách”. Kiểu “Nhà ánh sáng” cho người lao động nghèo đã được xây dựng ở bãi Phúc Xá, Hà Nội.

Tháng 7/1946, một số thầy giáo của Trường Thăng Long, đại diện cho tầng lớp trí thức yêu nước đã thành lập Đảng Xã hội Việt Nam, là thành viên trong Mặt trận Liên Việt (sau này là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). KTS Nguyễn Cao Luyện tham gia Đảng Xã hội và được bầu làm ủy viên Trung ương.

Bên cạnh hành nghề thiết kế, ông cũng giảng dạy (môn Trang trí kiến trúc) tại Khoa Kiến trúc – Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. KTS Nguyễn Cao Luyện chơi rất thân với họa sĩ Tô Ngọc Vân, vì cùng học rồi cùng dạy ở trường. Lên Việt Bắc, gia đình hai ông cũng ở gần nhau.

Lựa chọn cách mạng – Vừa quản lý, vừa thực hành thiết kế

KTS Vũ Hiệp: Dù có một công việc yêu thích, có biệt thự ven hồ Tây, có xe hơi – nhưng KTS Nguyễn Cao Luyện đã bỏ lại tất cả, không quản gian khổ, để lên Việt Bắc tham gia kháng chiến. Vì sao vậy?

Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện: Bố tôi là người yêu nghề, nhưng hơn hết, ông là người yêu nước. Trong cuộc sống và trong công việc, ông luôn hành xử theo những giáo lý nhân văn của văn hóa dân tộc. Khi đang học Thành Chung, ông từng bị đuổi giữa chừng vì tham gia bãi khóa trong phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh năm 1926. Ông học cái tiến bộ của người Pháp, nhưng giữ khoảng cách với chính quyền thực dân, tự mở văn phòng kiến trúc để chấn hưng kiến trúc của người Việt. Ông luôn hướng tới những giá trị cốt lõi và lâu dài, hướng tới cái hiệu quả thực chất và thiết yếu – như là mục đích cuối cùng. Có lẽ vì thế mà ông thường giữ vai trò cố vấn chuyên môn ở “chiều sâu” chứ không tham gia các hoạt động “bề nổi” (kể cả thời kỳ sôi động nhất của Hội Ánh sáng khi Mặt trận bình dân lên nắm quyền ở Pháp năm 1935-1938). Phải chăng, ông nhận thấy rằng: Chỉ khi đất nước độc lập thì KTS Việt Nam mới có thể làm chủ nền kiến trúc nước mình? – Và ông tham gia kháng chiến vì một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước, cho đồng bào.

KTS Vũ Hiệp: Khi ở Việt Bắc, công việc và cuộc sống của KTS Nguyễn Cao Luyện thế nào ạ?

KTS Nguyễn Trí Thành: Như chúng ta đều biết, năm 1948, KTS Nguyễn Cao Luyện là thành viên sáng lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam tại hội nghị ở Thản Sơn. Năm 1949, ông thiết kế văn phòng Bộ Tư Pháp ở Thái Nguyên. Năm 1950, KTS Nguyễn Cao Luyện và KTS Nguyễn Văn Ninh được giao phụ trách Vụ Kiến trúc, thuộc Bộ Giao thông Công chính. Ông cũng nghiên cứu vẽ các mẫu nhà có công năng mới, phục vụ thời chiến – như chòi phát thanh, nhà triển lãm, trụ sở ủy ban kháng chiến. Một điều đáng nói, là đã từng đi học rồi đi dạy ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nên ông rất hiểu tâm tư của những sinh viên đang học dở dang, nay cũng đang làm việc ở Việt Bắc – như các ông Đàm Trung Lãng, Đàm Trung Phường, Dương Hy Chấn, Vương Quốc Mỹ,.. Vì vậy, KTS Nguyễn Cao Luyện đã tổ chức lớp học để các sinh viên này hoàn thành chương trình học tập, rồi thực hiện đồ án tốt nghiệp, để cuối cùng được liên bộ Giao thông công chính và Giáo dục chấp thuận cấp bằng KTS.

Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện: Khi gia đình lên Việt Bắc, tôi mới 3 tuổi. Đầu tiên ở Phúc Yên, rồi sang Thái Nguyên, Tuyên Quang. Khi ở Tuyên Quang, ông làm việc ở vụ Kiến trúc, ở cây số 16 trên đường Tuyên Quang – Hà Giang. Nhà thì ở cây số 5, cách đó hơn chục Km. Ông đi làm bằng xe đạp, khoảng 1-2 tuần về nhà một lần. Khu nhà tôi ở có các gia đình KTS Hoàng Như Tiếp, họa sĩ Tô Ngọc Vân và một số văn nghệ sĩ khác. Chị em chúng tôi chơi rất thân với các con của họa sĩ Tô Ngọc Vân.

Anh Trực Luyện đã lớn, thường giúp bố làm việc nặng, như chặt cây để mở rộng thêm nhà. Để có tiền trang trải sinh hoạt gia đình, mẹ tôi phải nhận việc may quần áo cho mọi người và làm đồ quân nhu. Các chị lớn giúp mẹ làm may. Tôi nhỏ thì đi nhặt củi. Năm 1954, anh Trực Luyện công tác ở Ban vận tải tiền phương phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi hòa bình lập lại, các thành viên gia đình lần lượt về Hà Nội.

KTS Vũ Hiệp: Khi quay về Hà Nội, ở vị trí quản lý, KTS Nguyễn Cao Luyện đã thực hiện những công việc gì ạ?

KTS Nguyễn Trí Thành: Năm 1958, Bộ Kiến trúc (sau là Bộ Xây dựng) được thành lập. KTS Nguyễn Cao Luyện được giao nhiệm vụ Thứ trưởng phụ trách mảng thiết kế, quy hoạch cho đến lúc về hưu (1972). Năm 1962, trên cơ sở Cục Thiết kế dân dụng, ông xúc tiến thành lập Viện Thiết kế Kiến trúc trực thuộc Bộ (tiền thân của Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam – VNCC).

Trong mọi hoàn cảnh, KTS Nguyễn Cao Luyện vẫn luôn luôn chú trọng công tác đào tạo KTS. Năm 1956, Đại học Bách khoa mới thành lập và đã mở ngành Kiến trúc, nhưng chỉ học được một năm thì phải chuyển sang Đô thị. Phải đến năm 1961, sau 2-3 năm chuẩn bị thật đầy đủ ông mới thực hiện được việc mở Lớp đào tạo KTS đầu tiên của Bộ Kiến trúc. Ở cương vị Thứ trưởng, ông vẫn trực tiếp phụ trách lớp này, bằng uy tín và quan hệ của mình, ông đã mời được nhiều KTS, họa sĩ từng học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tham gia giảng dạy. Nhờ vậy, hoạt động đào tạo được duy trì ổn định – để đến năm 1969 thì thành lập Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội.

KTS Nguyễn Cao Luyện là đại biểu Quốc hội các khóa 2,3,4,5, có thời gian làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội của Quốc hội.

KTS Vũ Hiệp: Làm công tác quản lý, hẳn ông không còn nhiều thời gian và cơ hội để thiết kế kiến trúc đúng không ạ?

KTS Nguyễn Trí Thành: Đúng là so với các đồng nghiệp làm việc ở các viện thiết kế thì ông không có nhiều thời gian để làm nghề, nhưng ông vẫn tham gia thiết kế những công trình quan trọng. Ông đã chỉ đạo và trực tiếp thiết kế một số công trình, mở đầu cho giai đoạn kiến trúc mới của đất nước, mà ngày nay có người gọi là Hiện đại Xã hội chủ nghĩa tiền kỳ. KTS Nguyễn Cao Luyện cùng với KTS Trần Hữu Tiềm đã thiết kế Hội trường Ba Đình, một công trình mà tôi nghĩ là có ảnh hưởng từ KTS A.Perret ở tính hình học và tỷ lệ hoành tráng, kết hợp với tinh thần dân tộc ở sự giản dị và nhẹ nhàng.

Một công trình khác là Trụ sở Ủy ban Hành chính tỉnh Nghĩa Lộ, khai thác đặc trưng nhà ở dân gian của người Thái đen với tinh thần thời đại mới.

Sau khi nghỉ hưu, ông có nhiều thời gian hơn để tìm tòi thử nghiệm trong thiết kế kiến trúc, và có cơ hội được hiện thực hóa thành công ở công trình Bảo tàng Cổ vật Nam Định.

Bản vẽ tay của KTS Nguyễn Cao Luyện, công trình Bảo tàng cổ vật Nam Định

Công trình Bảo tàng Cổ vật Nam Định

KTS Vũ Hiệp: Bảo tàng Cổ vật Nam Định là một công trình kỳ lạ, không chỉ bởi hình thức của nó khác biệt với xu hướng kiến trúc Hiện đại XHCN đương thời, mà còn vì một thứ kiến trúc vượt ngoài tiêu chuẩn như vậy lại được xây dựng, trong bối cảnh quản lý kiến trúc khi đó rất nghiêm khắc. Tại sao vậy?

KTS Nguyễn Trí Thành: Bảo tàng Cổ vật Nam Định được thiết kế khoảng năm 1976-1977, lúc đó KTS Nguyễn Cao Luyện đã nghỉ hưu được mấy năm. Không còn phải giữ vai người quản lý, ông được tự do thể hiện sự sáng tạo của KTS.

Ông là đại biểu quốc hội của tỉnh Nam Hà trong nhiều năm, lại quê ở Nam Định, nên có mối quan hệ gắn bó với các lãnh đạo tỉnh. Ông Phan Điền (bí thư tỉnh ủy trong suốt thời kỳ 1963-1979) – người Hải Dương nhưng cả đời gắn bó với Nam Định – đã có một tầm nhìn dài hạn về công viên văn hóa Tức Mạc, và ấp ủ ý tưởng xây dựng một Bảo tàng Cổ vật để lưu giữ những di sản lâu đời của Nam Định – nên năm đó đã mời KTS Nguyễn Cao Luyện thiết kế công trình này.

Khi ấy, tôi đang học phổ thông, mấy lần được ông cho đi cùng xuống thực địa. Công trình nằm giữa hồ, mang đến cảm nhận một hình thể tự nhiên (quả núi), sử dụng vỏ mỏng bằng bê tông cốt thép (là kỹ thuật khó thời đó). Đây là công trình kiến trúc đầu tiên ở Việt Nam được sáng tạo theo ngôn ngữ mà nhiều người cho là Biểu hiện (Expressionism). Để diễn giải với lãnh đạo tỉnh, ông lấy ý “sư tử vồ mồi” – thể hiện sức mạnh của quân dân ta đã bắn rơi máy bay Mỹ tại địa điểm đó, nhưng đến thời bình thì ôm lấy bảo tàng như để giữ gìn bảo vệ nó. Tôi không nghĩ là ý tưởng của ông thuần túy mang tính biểu hiện – Nhìn tổng thể mới thấy cách ông khai thác văn hóa dân tộc trong việc sắp đặt hình khối và không gian, vẫn là những con mương, cầu đá, chòi nghỉ, mái đình,.. quen thuộc, nhưng được phối hợp theo một cách rất “khác”.

KTS Vũ Hiệp: Thời đó, việc thi công một công trình có kiến trúc “lệch chuẩn” như vậy hẳn có nhiều khó khăn?

Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện: Một trong những khó khăn thi thiết kế và xây dựng công trình này là kiểm tra kết cấu và kỹ thuật thi công bê tông hình dáng vỏ vô định hình, nó khác hoàn toàn so với các công trình tiêu chuẩn vuông thành sắc cạnh. Khi đó, tôi giảng dạy ở Khoa Công trình quân sự – Học viện Kỹ thuật quân sự, có điều kiện tiếp xúc với tin học công trình. Ông giao cho tôi kiểm tra kết cấu bằng máy tính. Việc tính toán nền móng, thi công thì nhờ sự hỗ trợ của các khoa khác của Học viện. KTS Phạm Hoàng, Giám đốc Học viện, vốn là bạn học lứa sau của ông ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đã giúp đỡ nhiều trong việc xây dựng.
Đến khi bày hiện vật trong bảo tàng, không hiểu ông nghiên cứu từ đâu mà có những tư duy rất mới về nghệ thuật sắp đặt, dựng bối cảnh trưng bày – những kiến thức mà ngày nay mới phổ biến. Ông rủ tôi đi xem các nhà cổ nhà cũ ở Nam Định để lấy tư liệu, thu thập hiện vật, tạo dựng bối cảnh cho bảo tàng.

Bảo tàng Cổ vật Nam Định hiện nay. Ảnh: Triệu Chiến

Bảo tàng Cổ vật Nam Định là một ví dụ tuyệt vời về một tác phẩm kiến trúc “lệch tông” trong một xã hội chuyên chính vẫn có thể được nghiên cứu thiết kế rất bài bản, để ra đời một cách chính danh, góp một tiếng nói mới mẻ và độc đáo trong bản hòa tấu kiến trúc của đất nước. Ngày nay, cảnh quan xung quanh đã khang trang lên nhiều, nhưng đáng tiếc là công trình lại bị bỏ bê, hoang vắng (vì tất cả nội dung trưng bày đã “được” chuyển về Bảo tàng tổng hợp ở trung tâm thành phố).

Hai cuốn sách lý luận kiến trúc

KTS Vũ Hiệp: Có thể thấy trong các công trình của mình, KTS Nguyễn Cao Luyện quan tâm nhiều đến tinh thần của kiến trúc dân gian. Điều đó cũng được ông đưa vào lý luận trong hai cuốn sách kinh điển “Từ những mái nhà tranh cổ truyền” (1977) và “Chùa Tây Phương – Một công trình kiến trúc cổ độc đáo” (1988). Lý do gì để cụ lựa chọn đề tài nhà tranh và chùa nhỉ?

KTS Nguyễn Trí Thành: Phải chăng bởi xuất thân từ một gia đình thầy đồ nghèo, trải qua những ngày tháng kháng chiến gắn bó với nhân dân ở Việt Bắc, nên KTS Nguyễn Cao Luyện thực sự thấu hiểu cái minh triết của kiến trúc nhà ở dân gian – Rất đơn sơ bình dị nhưng ẩn chứa những trầm tích văn hóa sâu sắc? Từ thời kỳ làm nhà Ánh sáng, ông đã không đả phá kiến trúc dân gian thay bằng kiến trúc “nhà Tây” – mà vẫn giữ những hình ảnh và cảm nhận thân thuộc, chỉ tìm cách khắc phục bằng kỹ thuật. Bây giờ ông lại chỉ ra sự tinh tế về tâm hồn, sự giàu có về văn hóa trong những mái nhà tranh ấy.

Về việc yêu mến kiến trúc chùa, tôi nghĩ bởi ông thấy ngôi chùa cũng gần gũi gắn bó với con người không khác gì ngôi nhà. Một phần nữa vì ông có người bạn vong niên là sư trụ trì chùa Cả ở Nam Định, mà mỗi dịp về quê, ông đều đến chùa thăm bạn và ôn lại những chuyện xưa. Còn ở Hà Nội, khi nghỉ hưu có nhiều thời gian, thì ông hay đến chùa Một Cột trò chuyện việc đời, việc đạo với hòa thượng Thích Tâm Cẩn. Ông không tu hành mà chọn con đường nhập thế, nhưng luôn sống theo đạo lý nhà Phật, bởi “Phật tại tâm”. Trong kiến trúc, ông không mô phỏng cái nhìn thấy (là mái chùa với những đầu đao), mà muốn truyền đạt những ý nghĩa và ấn tượng mà mình cảm thấy.

Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện: Khi làm hai cuốn sách này, ông đều cho tôi xem bản thảo để góp ý và giúp ông thể hiện một số hình minh họa. Bố tôi có lần tâm sự rằng: Kiến trúc của nước mình chưa hiện đại mà đã bị mất kết nối với truyền thống, không thẩm thấu được cái hay của dân gian – Vì vậy mà ông viết hai cuốn sách đó.

Về chùa Tây Phương, ngoài kiến trúc ra, ông rất thích bộ tượng La hán ở chùa này. Ông cho rằng: Đó là những kiệt tác nghệ thuật của Việt Nam, thể hiện cái cốt cách tinh thần của người Việt.

KTS Vũ Hiệp: Hai cuốn sách được viết với văn phong tinh tế và sâu sắc, nhiều suy tư trầm lắng, nhiều cảm xúc bay bổng, cứ như bút pháp của một nhà văn. Không hiểu sở thích văn học của cụ Cao Luyện thế nào ạ?

KTS Nguyễn Trí Thành: Chắc chắn là ông rất quan tâm đến văn học và hay đọc sách – bởi cách viết phản ánh cách nghĩ của con người. Thuở nhỏ, ông đã theo cha (cụ Tú Đản) học chữ thánh hiền, đọc thơ của Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải,.. Lớn lên thì lại học tiếng Pháp, nên ông hay đọc văn học Pháp. Tôi chợt nghĩ: Biết đâu ông theo nhà văn A.Dumas cha & con, lấy tên mình đặt cho hai con trai – Bố tôi là Trực Luyện và chú tôi là Trường Luyện (?). Trong tủ sách của ông có một cuốn sách về các công trình của A.Perret, đã sờn cũ nhưng được ông giữ rất cẩn thận – Có lẽ đó là KTS có ảnh hưởng nhiều nhất đối với ông.

Ông kết bạn với nhiều văn nghệ sĩ cùng thời và cùng đi kháng chiến – cả những người ít tuổi hơn. Tôi đã nhiều lần được ông cho đi cùng, đến chơi nhà các ông Nguyễn Tuân, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tiến Chung, Phan Kế An,.. Tôi còn nhớ, khi về hưu, ông hay đọc Tạp chí Tác phẩm mới của Hội nhà văn. Tôi nghĩ về văn xuôi thì ông thích Nguyễn Tuân (nhất là tập “Vang bóng một thời”). Còn về thơ, thì ông thích Tản Đà và nói chung là thơ lục bát. Hồi nhỏ, tôi hay được nghe ông giảng Truyện Kiều và thơ Tản Đà (bây giờ tôi vẫn nhớ mãi bài “Thu cảm” và bản dịch “Hoàng hạc lâu”).

Bìa sách “Từ những mái nhà tranh cổ truyền” (1977) (Ảnh trái), Bút tích của KTS Nguyễn Cao Luyện (Ảnh phải)

Người cha, người ông trong gia đình

KTS Vũ Hiệp: Như vậy, ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp kiến trúc, từ học tập, sáng tác cho đến quản lý, đào tạo và viết sách kiến trúc. Vậy đối với gia đình thì sao ạ?

Nhà giáo Nguyễn Trường Luyện: Trong gia đình, bố tôi là một người cha vui tính, hiền hậu, chăm lo tạo những điều kiện tốt nhất có thể cho các con học tập. Nhưng ông rất nghiêm khắc, yêu cầu các con phải tự lực trong học tập và làm việc không được ỷ lại vào gia đình. Ông chưa một lần dùng cương vị của mình để tác động đến việc học hành hoặc công tác của các con.
Tôi còn nhớ năm 1953, sau chiến dịch các chú bộ đội dừng chân nghỉ ở nhà tôi ít ngày. Thấy các chú chơi bài tú lơ khơ, tôi rất thích, tự lấy giấy làm bộ bài để chơi. Đến khi bố về thăm nhà, thấy con suốt ngày say mê chơi tú lơ khơ, ông nói: “Con không có việc gì làm nữa hay sao mà lại chơi trò vô bổ thế?” – Từ đó tôi bỏ, và sau này cũng không bao giờ chơi bài bạc.

Năm 1956, gia đình ở tạm căn hộ nơi góc Ngô Quyền – Tràng Tiền, trên tầng hai. Tầng một có cửa hàng bán đồ chơi, trong đó có tàu lượn, mà một đứa trẻ như tôi lúc đó thì sao mà không mê mẩn được. Ông bảo: “Nhà mình không có tiền mua những thứ đó, con muốn chơi thì hãy tự làm lấy chơi”. Ông dẫn tôi đến chỗ bác chuyên làm mô hình kiến trúc, nhờ hướng dẫn để tôi tự làm tàu lượn. Cuối tuần nếu rỗi ông đèo tôi lên quảng trường Ba Đình để thả tàu lượn tự chế.

Biết tôi thích làm đồ thủ công, ông có ý hướng dẫn con theo nghề kiến trúc. Ông mua cho tôi dụng cụ làm mộc (giờ tôi vẫn giữ) để học làm mô hình hoặc chế tác đồ vật. Buổi sáng tôi học văn hóa ở trường, thì buổi chiều ông cho học mộc ở xưởng mô hình kiến trúc, học vẽ chỗ ông Trần Văn Cẩn và bà Nguyễn Thị Khang, học nhiếp ảnh ở nhà ông Võ An Ninh. Khi lớn, ông hỏi tôi có thích làm KTS không? Tôi nhìn mấy nhà chung cư mới trong khu Kim Liên, thấy xấu quá – nên nói là “không”. Tôi thích làm đồ nội thất hơn – nhưng thời đó, chúng ta chưa đào tạo ngành này ở bậc đại học.

Đến năm 1972, sau bốn năm giảng dạy ở ĐH Xây dựng, tôi được nhà trường đưa vào danh sách đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng hai tuần sau lại có lệnh động viên gọi tôi đi bộ đội. Chú chủ nhiệm Khoa hỏi bố tôi là nếu ông muốn tôi được hoãn đi bộ đội thì Khoa sẽ đề nghị. Ông bảo không, nhà nước kêu gọi thì phải đi. Tôi phục vụ trong quân đội đến 15 năm, làm công tác giảng dạy tại Học viện Kỹ thuật quân sự.

KTS Nguyễn Trí Thành: Ông tôi là người nho nhã, ứng xử rất tinh tế, không quan cách. Khi còn làm Thứ trưởng, được tiêu chuẩn đi bằng ô tô, nhưng mỗi lần đến thăm ai ông đều bảo chú lái xe dừng cách đó một đoạn, rồi đi bộ vào. Lúc về hưu, vẫn còn chế độ phân phối theo tem phiếu, ông cũng tự mình đứng xếp hàng mua gạo, rồi đạp xe chở về nhà, bình thường như mọi người xung quanh. Tôi nhớ có những lần tiếp khách Tây tại nhà, trời nóng nên ông mặc quần sooc – áo phông, để cho khách cũng được tự nhiên thoải mái.

KTS Nguyễn Cao Luyện mang cốt cách của một nhân sĩ lớn, trí cao tâm sáng, trong cuộc sống và công việc luôn đặt lợi ích chung lên trước. Chính vì vậy, ông có thể tập hợp được nhiều cộng sự giỏi để chung tay làm những việc lớn, xây dựng cơ sở vững chắc cho nền kiến trúc hiện đại Việt Nam.

Vũ Hiệp
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2026)


KTS Nguyễn Cao Luyện

  • KTS Nguyễn Cao Luyện (1907-1987)

    Sinh năm 1907 tại TP Nam Định;

  • Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa 1928;
  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, đợt 1 – 1996;
  • Công trình tiêu biểu: Trường tư thục Thăng Long, Biệt thự của bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (nay là Đại sứ quán Cuba), Hội trường Ba Đình, Trụ sở Ủy ban hành chính Nghĩa Lộ, Bảo tàng Cổ vật Nam Định…
  • Sách: Từ những mái nhà tranh cổ truyền, Chùa Tây Phương – một công trình kiến trúc cổ độc đáo.