Đổi mới qui trình, phương pháp lập đồ án Qui hoạch Đô thị sản phẩm hợp tác hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản

 
Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI khi các nhà buôn Nhật đến Việt Nam buôn bán. Việt Nam chính thức lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào ngày 21/9/1973 và nhanh chóng phát triển trên nhiều lĩnh vực, bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu: Các mối quan hệ kinh tế chính trị, giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng; đã hình thành khuôn khổ quan hệ ở tầm vĩ mô, sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên…
Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (thông qua các tổ chức APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động OECD giúp Việt Nam về kỹ thuật…), coi trọng quan hệ với Việt Nam, lấy lợi ích và mục tiêu lâu dài làm trọng. Về phát triển kinh tế, Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam. Năm lĩnh vực chính trong Chương trình viện trợ lâu dài của Nhật Bản cho Việt Nam nhằm vào: 
– Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; 
– Xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực; 
– Phát triển nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; 
– Phát triển giáo dục đào tạo và y tế; 
– Bảo vệ môi trường. 
 
Trong bối cảnh mới, ngày 2/6/2004, Nhật Bản đã công bố chính sách viện trợ ODA mới cho Việt Nam với 3 mục tiêu chính: 
– Thúc đẩy tăng trưởng; 
– Cải thiện đời sống – xã hội; 
– Hoàn thiện cơ cấu.
 
Trong lĩnh vực xây dựng, qui hoạch phát triền đô thị, thời gian qua, giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng đã có nhiều hoạt động trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, Nghiên cứu khoa học, đào tạo đạt kết quả tốt, khả quan đem lại hiệu quả cao.
Ở Việt Nam hiện nay, phương pháp lập qui hoạch đô thị chưa có nhiều đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng nghiên cứu, sản phẩm đồ án qui hoạch đô thị. Trong thực tế, dường như chúng ta vẫn bị ảnh hưởng bởi cách tiếp cận từ trên xuống, mang tính áp đặt, tụt hậu về mặt phương pháp luận trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Vai trò của các nhà quy hoạch còn hạn chế khi hình thái đô thị chịu ảnh hưởng mạnh mẽ, bị tác động của nền kinh tế thị trường, trong đó có các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài trong lĩnh vực bất động sản. Các yếu tố về môi trường, biến đổi khí hậu chưa được lồng ghép thỏa đáng trong nghiên cứu, quản lí phát triển đô thị. Đặc biệt, khi sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng dân cư còn hạn chế và hình thức…thì việc phải đổi mới phương pháp lập qui hoạch đô thị là yêu cầu tất yếu mang tính khách quan.
 
Chính vì vậy, trong hợp tác với Nhật Bản về lĩnh vực qui hoạch xây dựng, phát triển đô thị đã có nhiều dự án nghiên cứu về cơ chế chính sách, phương pháp lập qui hoạch cũng như các dự án qui hoạch phát triển đô thị cụ thể đã được hợp tác triển khai… Các đồ án qui hoạch đô thị Vĩnh Phúc, Qui hoạch vùng tỉnh Bắc Ninh, vùng tỉnh Quảng Ninh… (do Nekken Sekkei Ltd thực hiện, hoặc phối hợp với tư vấn trong nước thực hiện)… Cũng như Dự án Nâng cao năng lực lập và quản lý quy hoạch đô thị (gọi tắt là Dự án CUPCUP) do tổ chức JICA tài trợ, Viện Qui hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia (VIUP) phối hợp tổ chức thực hiện là những ví dụ điển hình. Với mục tiêu giúp các chuyên gia, cán bộ quản lí, các KTS, kĩ sư tại các đô thị có quy mô trung bình của Việt Nam nâng cao kiến thức chuyên môn về phương pháp lập quy hoạch đô thị mới, quản lí thực hiện qui hoạch… thông qua kinh nghiệm quốc tế và các bài học thực tiễn của Nhật Bản. Sản phẩm của Dự án là bộ Cẩm nang Qui hoạch đô thị và bộ hồ sơ qui hoạch chung, nghiên cứu áp dụng thí điểm cho thành phố Hải Dương. Bộ Cẩm nang Qui hoạch đô thị có nhiều điểm mới, có tính khoa học, thực tiễn và khả năng áp dụng cao tại Việt Nam. Về quy trình lập quy hoạch đô thị, Dự án đề xuất cần thiết phải thay đổi so với qui trình cũ và gồm ba giai đoạn: 
– Xây dựng chiến lược phát triển đô thị; 
– Lập quy hoạch không gian 
– Thực hiện quy hoạch. Việc đưa cả giai đoạn xây dựng chiến lược phát triển đô thị và thực hiện quản lí phát triển đô thị theo quy hoạch vào qui trình là nét mới, khác biệt lớn so với quy trình lập quy hoạch đô thị hiện tại của Việt Nam (chỉ bao gồm các bước: Lập, thẩm định, phê duyệt và quản lí quy hoạch đô thị/Nghị định 37/2010/NĐ-CP).
 
Bộ Cẩm nang gồm ba tập chính (mang kí hiệu P) là: P1/Quy hoạch xây dựng vùng; P2/Quy hoạch chung; P3/Quy hoạch phân khu và bảy quyển hỗ trợ (S) là: S1/Điều tra đánh giá hiện trạng tham vấn cộng đồng; S2/GIS (Hệ thông dữ liệu); S3/Giao thông; S4/Hạ tầng kỹ thuật; S5/Thiết kế đô thị; S6/Đánh giá môi trường chiến lược; S7/Thông tin tham khảo – Kinh nghiệm Quốc tế.
 
Cái mới mà Cẩm nang đề xuất là nội dung lồng ghép Chiến lược phát triển đô thị (CDS) vào phần đầu của quy trình lập qui hoạch đô thị. Đây là một giải pháp sáng tạo trong tư duy đổi mới phương pháp lập qui hoạch nhằm tăng tính mềm dẻo và khả năng đáp ứng thực tiễn khi tốc độ đô thị hóa của Việt Nam đang tăng nhanh. Quy trình cũng đề xuất cần nhấn mạnh vào việc xây dựng tầm nhìn và chiến` lược dài hạn cho phát triển đô thị. Tầm nhìn của một đô thị được đề xuất thể chế hóa trong Quy định quản lý kèm theo đồ án, và được coi như phần bất biến cần phải tuân thủ, kể cả khi quy hoạch được thường xuyên điều chỉnh. Việc bổ sung Quy hoạch phân khu sử dụng đất và bản đồ xác định các công trình đô thị chính (Xem sơ đồ, bước B3, B4) là giải pháp có tính đột phá cho phép tăng cường hiệu quả quản lý của đồ án Qui hoạch chung (lồng ghép nội dung Quy hoạch phân khu vào Quy hoạch chung), điều này cho phép khả năng rút ngắn Quy trình, thời gian lập quy hoạch hiện hành (bỏ qua bước lập qui hoạch phân khu trong trường hợp đối với đô thị trung bình và đô thị nhỏ). Bên cạnh việc đưa ra quy trình, bộ cẩm nang còn cung cấp nhiều phương pháp, kỹ năng hỗ trợ hiệu quả cho công tác nghiên cứu lập quy hoạch đô thị (thể hiện trong bảy cuốn hỗ trợ mang kí hiệu S) như: Điều tra số liệu bổ sung, phân tích lưu lượng giao thông, áp dụng GIS, phân tích SWOT…
 
Mặc dù Quy trình mới đề xuất có nhiều điểm thay đổi tích cực so với quy trình hiện hành, nhưng việc áp dụng ngay đòi hỏi phải có thời gian và sự điều chỉnh một số qui định tại Luật Qui hoạch Đô thị, Nghị định 37/2010/NĐ-CP… cho phù hợp. Tuy nhiên, việc áp dụng từng phần và đặc biệt khai thác các phương pháp, kỹ năng phân tích, đánh giá, dự báo, thu thập số liệu… là có tính khả thi, rất cần thiết, kịp thời ngay đối với các nhà hoạch định chính sách, quy hoạch, quản lí phát triển đô thị. Kết quả nghiên cứu của Dự án CUPCUP cũng như cách tiếp cận phương pháp lập qui hoạch đối với một số đồ án cụ thể là căn cứ góp phần để đổi mới toàn diện phương pháp lập quy hoạch, quản lí phát triển đô thị tại Việt Nam trong thời gian tới.