1. Bối cảnh
Trong cuộc sống đô thị hiện đại, con người thường dành phần lớn thời gian ở trong nhà, hít thở không khí trong nhà là chủ yếu. Nếu môi trường trong nhà có chất lượng không khí tốt sẽ giúp bảo vệ sức khỏe của người sử dụng và ngược lại.
Môi trường không khí trong nhà thường bị ô nhiễm hơn môi trường không khí ngoài trời. Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (US-EPA), nồng độ ô nhiễm không khí trong nhà có thể cao gấp 2-5 lần, thậm chí lên đến 100 lần so với ngoài trời [1], đặc biệt trong các ngôi nhà mới hoàn thiện nội thất. Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ phát thải của vật liệu xây dựng và trang trí trong nội thất như sơn, gỗ công nghiệp, thảm, keo dán… Bài báo này phân tích tác động phát tán hợp chất ô nhiễm từ vật liệu và đồ đạc nội thất đến chất lượng không khí trong nhà, minh chứng qua các đo đạc thực tế, và đưa ra các khuyến nghị cho công tác lựa chọn vật liệu trong thiết kế và thi công nội thất để bảo vệ sức khỏe người sử dụng trong dài hạn.
2. Sự phát sinh các hợp chất ô nhiễm trong nhà do vật liệu nội thất và tác động đến sức khỏe con người
2.1. Mối liên hệ giữa vật liệu nội thất và các hợp chất ô nhiễm trong nhà
Việc lựa chọn vật liệu nội thất không chỉ cần xét đến yếu tố thẩm mỹ và kinh tế, mà còn cần phải đánh giá kỹ lưỡng về mức độ phát thải các chất ô nhiễm. Dưới đây phân tích đặc tính phát thải của một số vật liệu hoàn thiện phổ biến trong nội thất nhà dân dụng:
a) Nhóm vật liệu hoàn thiện bằng gỗ
Vật liệu gỗ có tác động trực tiếp lớn đến chất lượng không khí trong nhà thông qua việc phát thải chất gây ô nhiễm như các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC – Volatile Organic Compounds), 4-PC, styrene, aldehyde dễ bay hơi (bao gồm cả formaldehyde).
Các vật liệu gỗ dùng cho sàn, vách và nội thất thường là ván composite như ván ép, MDF, ván dăm và ván cứng. Nhiều loại sử dụng keo urê-formaldehyde giá rẻ, có độ kết dính thấp nên cần hàm lượng keo cao, dẫn đến phát thải formaldehyde kéo dài và có thể vượt ngưỡng cho phép đối với môi trường trong nhà.
b) Nhóm vật liệu hoàn thiện bằng vải, sợi nông nghiệp tổng hợp, giấy dán, vật liệu xốp
Thảm sàn được sản xuất từ các sợi như len, nylon, polypropylene, polyester hoặc hỗn hợp; phần nền thảm có thể là đay, bông, tơ nhân tạo và thường phủ mủ cao su. Thảm được cố định bằng keo hoặc đặt trên lớp đệm từ polyurethane, cao su hoặc vật liệu tổng hợp. Giấy dán tường và trần nội thất có thể chứa chất ô nhiễm trong lớp keo và lót. Các sản phẩm composite từ gỗ và sợi nông nghiệp được dùng phổ biến trong nội thất và trang trí, với sự đa dạng về nguyên liệu và keo kết dính, dẫn đến sự khác biệt lớn về tính chất và mức độ phát thải VOC và formaldehyde.
c) Nhóm vật liệu PVC
Polyvinyl clorua (PVC) có mặt trong nhiều vật liệu phổ biến như sàn PVC, nhựa vinyl, tấm ốp tường, mành che, rèm, đồ nội thất và tấm lót thảm. Các sản phẩm này thường phát thải VOC và SVOC (chất hữu cơ bán bay hơi).
d) Nhóm sơn, keo dán, chất trám khe và chất kết dính
Sản phẩm như chất trám khe, sơn lót, sơn, lớp hoàn thiện gỗ (sơn mài, vecni) và lớp phủ chống cháy có thể phát thải formaldehyde và VOC. Chất trám khe và chất kết dính, thường được sử dụng trong lắp đặt thảm, gạch men, tấm thạch cao, sàn cao su, thường chứa acrylonitrile butadiene styrene (ABS). Các chất này phát thải VOC mạnh, đặc biệt khi ở dạng lỏng, và có thể kéo dài lâu.
e) Nhóm vật liệu chống cháy và vật liệu khác
- Vật liệu chống cháy: Vật liệu chống cháy như dẫn xuất axit clorendic, chất chống cháy brôm (BFR) và vật liệu hữu cơ gốc phosphate được dùng trong các bộ phận cấu kiện, đồ nội thất, tấm trải sàn và thiết bị điện tử như máy tính, màn hình, lò vi sóng,… Các vật liệu này có thể phát thải VOC và sản phẩm phân hủy chứa clo. Một số chất chống cháy gốc nước, như dung dịch ngâm tẩm gỗ nhựa chứa amoniac, thường có hàm lượng formaldehyde và amoniac cao, không phù hợp cho không gian trong nhà;
- Vật liệu tiêu âm: Bao gồm sợi thủy tinh, len đá, bông khoáng, sợi khoáng nhân tạo, sợi gốm, hoặc vật liệu xenlulo. Những vật liệu này thường kết hợp tính năng chống cháy, nhờ được xử lý bằng axit boric hoặc borax pentahydrate;
- Vật liệu trong hệ thống HVAC và xử lý không khí: Chất kết dính và chất trám khe dùng trong lắp đặt đường ống và lớp cách nhiệt phát thải VOC ở các mức độ khác nhau.
Có thể thấy vật liệu xây dựng và hoàn thiện nội thất có khả năng tiềm ẩn phát thải các hợp chất VOC và Formaldehyde vào không khí trong nhà. US-EPA đã xác định hơn 900 hợp chất VOC (bao gồm cả Formaldehyde) trong không khí trong nhà ở nồng độ trên 1 ppbv [2]. Bảng 1 dưới đây tổng hợp các chất VOC thường gặp do vật liệu nội thất phát thải được tham khảo từ tài liệu [3].
2.2. Ảnh hưởng của các chất ô nhiễm phát thải từ vật liệu nội thất đến sức khỏe con người
Như đã đề cập ở trên, việc sử dụng vật liệu nội thất có thể gây phát thải một số hóa chất gây ô nhiễm không khí trong nhà. Các hóa chất ô nhiễm có thể tồn tại trong không khí trong nhà bao gồm khí độc, VOC và các hợp chất hóa học khác. Khi những chất này bay hơi hoặc phát tán trong không khí, chúng có thể gây hại cho sức khỏe nếu tiếp xúc lâu dài hoặc ngắn hạn ở nồng độ cao.
Phơi nhiễm các hợp chất VOC ngắn hạn có thể gây kích ứng mắt, đường hô hấp (chảy nước mắt, ho), dị ứng da, khô da, đau đầu, chóng mặt, khó thở, buồn nôn, và nồng độ cao có thể gây lú lẫn, bất tỉnh. Tiếp xúc lâu dài có thể gây tổn thương gan, thận, hệ thần kinh, yếu cơ, ảnh hưởng đến khả năng vận động, tăng nguy cơ ung thư, tổn thương hệ sinh sản và tác hại cho thai nhi.
Những người quá mẫn cảm có thể có phản ứng nghiêm trọng với nhiều loại VOC ở nồng độ rất thấp. Những phản ứng này có thể xảy ra sau khi tiếp xúc với một liều duy nhất hoặc một chuỗi liều gây nên mẫn cảm, sau đó liều thấp hơn nhiều cũng có thể gây ra các triệu chứng mẫn cảm. Tiếp xúc lâu dài với liều lượng thấp cũng có thể gây ra phản ứng. Một số nghiên cứu đã liên kết việc tiếp xúc với VOC thường thấy trong nhà với các triệu chứng: Nóng rát, khô mắt, có sạn; chảy nước mắt, khô họng, khó thở, hen phế quản, đau đầu, kém tập trung, chóng mặt, mệt mỏi, khó chịu. Tiếp xúc với một số hợp chất, chẳng hạn như benzen – một chất gây ung thư ở người, trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ ung thư.
Nồng độ formaldehyde cao bất thường có thể gây kích ứng và mẫn cảm ở mắt, mũi và đường hô hấp. Khi tiếp xúc với formaldehyde, các triệu chứng tức thời thường là hắt hơi, đau cổ, co thanh quản dẫn đến khó thở, đau mũi, cay mắt, dị ứng da. Formaldehyde gây độc khi hấp thu qua đường tiêu hóa, hô hấp và nguy hiểm nhất là tiếp xúc qua đường hô hấp. Tiếp xúc lâu dài với formaldehyde có thể gây ra các vấn đề sức khỏe ở phổi, gan, tụy. Formaldehyde có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, cơ chế diệt khuẩn giống như các tác nhân diệt khuẩn khác là “giết” mô tế bào. Từ năm 2004, Trung tâm Quốc tế nghiên cứu về ung thư đã xếp Formaldehyde vào Nhóm chất gây ung thư.
3. Khảo sát đo đạc đánh giá hiện trạng sử dụng vật liệu nội thất và thông số ô nhiễm không khí đặc trưng trong nhà dân dụng
Dưới đây là kết quả đo đạc đánh giá chất lượng không khí trong một số nhà dân dụng sau khi hoàn thiện nội thất do Trung Tâm môi trường đô thị và công nghiệp thuộc Hội Môi trường xây dựng Việt Nam phối hợp với các giảng viên của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội thực hiện vào năm 2020 và 2024, được Tập đoàn Panasonic tài trợ kinh phí.
Điều kiện khảo sát: Toàn bộ các phòng đều đóng kín cửa.
3.1. Kết quả khảo sát đo đạc nhà ở căn hộ tháng 9/2020 [4]
3.1.1. Đặc điểm của ngôi nhà/căn hộ được khảo sát:
- Căn hộ ở tầng 11 trong tòa chung cư cao tầng ở khu đô thị mới Ngoại giao đoàn, Hà Nội, có diện tích 132m2. Căn hộ gồm ba phòng ngủ, ba phòng tắm, một phòng sinh hoạt chung được thiết kế đa chức năng: Phòng khách, thờ, ăn và bếp. Khi chủ nhà được bàn giao căn hộ đã cải tạo toàn bộ nội thất: Sàn nhà thay gạch lát cũ bằng ván gỗ công nghiệp, sơn lại tường, bổ sung vật liệu ốp gỗ trang trí và các đồ nội thất đều được thi công/mua mới. Các tấm ốp trang trí tường là gỗ công nghiệp; các đồ gỗ trong phòng ngủ (giường, tủ, bàn) làm bằng gỗ công nghiệp; các đồ gỗ trong phòng sinh hoạt chung (Ban thờ, tủ tường, tủ giầy, bàn nước, bàn ghế ăn) làm bằng gỗ tự nhiên (gỗ ốc chó).
- Nhà liền kề tại khu phố Đầm Trấu, Hà Nội. Nhà xây 5 tầng trên diện tích lô đất 43,3m2. Tầng 1 gồm gara để xe, phòng bếp và ăn. Các tầng trên đều có 2 phòng (phòng ngủ hoặc phòng khách), nhà vệ sinh và cầu thang nằm ở giữa. Ngôi nhà được cải tạo toàn bộ nội thất (chỉ giữ lại kết cấu chịu lực, thi công toàn bộ nội thất mới). Hầu hết đồ đạc và trang trí nội thất đều được làm mới và bằng gỗ tự nhiên.
3.1.2. Phương pháp đo và kết quả đo đạc
Toàn bộ các phòng đóng kín cửa, không bật quạt và máy điều hòa không khí, không có người ở trong phòng trong suốt quá trình đo đạc khảo sát.
Mỗi ngôi nhà/căn hộ đều được đo đạc tại một điểm ngoài trời và ba điểm trong nhà theo các thông số: Tổng các hợp chất hữu cơ bay hơi (TVOC) và formaldehyde. Thực hiện đo từ 8h00 đến 16h30. Thu mẫu theo phương pháp hấp thụ bằng ống Tenax 1065 – 61005 và máy bơm SIBATA tại hiện trường trong 30 phút với lưu lượng 100ml/phút, sau đó gửi sang Nhật Bản để phân tích GCMS. Kết quả trung bình đo TVOC và formaldehyde được cho trong Bảng 1 và Bảng 2. Trị số đo đạc được so sánh với giá trị tiêu chuẩn cho phép (TCCP) trong Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 13521:2022 [5].
3.1.3. Nhận xét kết quả đo đạc
Kết quả đo đạc thực tế cho thấy không khí trong nhà tại căn hộ và nhà liền kề đều bị ô nhiễm nặng TVOC và Formaldehyde:
- Căn hộ: Nồng độ TVOC phát thải từ nguồn trong nhà tại các phòng cao hơn từ 1,43 – 2,42 lần so với TCCP; nồng độ Formaldehyde cao hơn từ 15,4 – 30,9 lần so với TCCP.
- Nhà liền kề: Nồng độ TVOC phát thải từ nguồn trong nhà tại các phòng hơn từ 2,54 – 7,48 lần so với TCCP, nồng độ Formaldehyde cao hơn từ 2,45 – 4,81 lần so với TCCP.
Mức độ ô nhiễm Formaldehyde phát thải từ nguồn trong nhà của căn hộ rất cao (gấp 30,9 lần TCCP). Điều này có thể là do sàn nhà, đồ nội thất trong căn hộ đều được làm bằng vật liệu gỗ công nghiệp, vốn được biết đến là nguồn phát thải Formaldehyde chính. Ngược lại, mức độ ô nhiễm TVOC trong không khí trong nhà của nhà liền kề lại rất cao (gấp 7,47 lần TCCP). Điều này có thể do tầng 1 của nhà liền kề có một số xe máy chạy xăng và cầu thang mới được sơn là nguyên nhân làm VOC tăng cao.
3.2. Kết quả khảo sát đo đạc văn phòng tầng 3 tòa nhà năm 2024 [6]
3.2.1. Đặc điểm nội thất văn phòng tầng 3
Văn phòng tầng 3 có diện tích 1056m2 với đặc điểm vật liệu hoàn thiện và đồ đạc nội thất như sau:
- Bàn làm việc và ghế xoay đạt chứng nhận vàng về đảm bảo chất lượng không khí trong nhà (Indoor Air Quality – Indoor Advance Gold Furniture) của Tổ chức chứng nhận khoa học toàn cầu SCS (Scientific Certification Systems Global Services);
- Các tấm gỗ MDF sử dụng cho các tủ, vách ngăn đạt các chứng nhận GreenLabel (Singapore) và UL GreenGuard (sản phẩm thải ra ít hóa chất hoặc hợp chất VOC);
- Thảm trải sàn đạt các chứng nhận: Green Purchasing Law-compliant product (sản phẩm tuân thủ Luật mua sắm xanh); GreenLabel Plus (vật liệu có VOC rất thấp), EcoMark (sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường) và EcoLeaf (sản phẩm xanh trong cả vòng đời);
- Ván sàn gỗ đạt Chứng nhận GreenLabel.
- Các tấm ốp cột được làm bằng mây đan tự nhiên;
- Sơn và các chất kết dính được sử dụng trong thi công nội thất đều là loại phát thải VOC thấp;
- Cây xanh bằng nhựa trên các vách ngăn không có chứng nhận xanh/phát thải thấp;
- Các ghế salon bằng da nhân tạo và bàn trà được sản xuất theo thiết kế riêng, không có chứng nhận xanh/phát thải thấp;
- Tủ bếp, bàn và ghế khu vực nghỉ giải lao được sản xuất theo thiết kế riêng, không có chứng nhận xanh/phát thải thấp;
- Các máy in và photocopy được đặt trong phòng làm việc, không được bố trí trong không gian riêng biệt có quạt hút gió tăng cường.
Việc khảo sát đã thực hiện đo chất lượng không khí 02 lần: Lần 1 ngày 14/9/2024, khi văn phòng vừa thi công xong nội thất (Hình 5); lần 2 ngày 14/11/2024 (Hình 6) khi văn phòng đã đi vào hoạt động.
3.2.2. Phương pháp đo và kết quả đo đạc
Thu mẫu khí theo phương pháp hấp thụ bằng máy bơm SIBATA tại hiện trường, sau đó phân tích tại phòng thí nghiệm. Đo lần 1 vào sáng ngày 14/9/2024 cho hai trường hợp: Khi chưa bật hệ thống HVAC và khi đã bật hệ thống HVAC được 60 phút. Đo lần 2 vào ngày 14/11/2024 (thời gian văn phòng đã đi vào hoạt động gần hai tháng), mẫu được lấy 4 lần trong khoảng 8h00 đến 17h00.
3.2.3. Nhận xét kết quả đo đạc
- Kết quả đo lần 1:
- Khi hệ thống HVAC chưa hoạt động, nồng độ TVOC phát thải từ nguồn trong nhà gấp 3,7 lần TCCP. Sau 60 phút bật hệ thống HVAC, nồng độ TVOC giảm còn 2,1 lần giới hạn TCCP.
- Nồng độ Formaldehyde phát thải từ nguồn trong nhà khi chưa bật hệ thống HVAC gấp 4,3 lần TCCP. Sau 60 phút bật hệ thống HVAC, nồng độ giảm còn 2,8 lần giới hạn TCCP.
Mặc dù nhiều vật liệu trong văn phòng có chứng nhận phát thải thấp, nồng độ TVOC và Formaldehyde vẫn cao do các nguyên nhân: Sử dụng nhiều cây giả bằng nhựa; các đồ nội thất mới được gia công không có chứng nhận phát thải thấp; văn phòng đang được làm vệ sinh bằng các hóa chất tẩy rửa mạnh (các chất tẩy rửa này phát thải VOC và Formaldehyde), dụng cụ đựng các hóa chất tẩy rửa được các nhân viên vệ sinh để tạm trong khu vực làm việc.
Nồng độ TVOC và Formaldehyde sau khi bật hệ thống HVAC đều giảm nhanh chứng tỏ hệ thống thông gió rất có hiệu quả trong việc giảm ô nhiễm không khí trong nhà.
- Kết quả đo lần 2:
Nồng độ Formaldehyde gấp 2,6 lần TCCP. Mặc dù nhiều vật liệu và đồ nội thất đã được kiểm soát, nồng độ Formaldehyde vẫn cao hơn TCCP sau gần hai tháng vận hành, có thể do các phát thải ô nhiễm đang tiếp diễn từ các cây giả bằng nhựa, bàn, ghế, tủ không có chứng nhận phát thải thấp.
4. Khuyến cáo lựa chọn vật liệu trong thiết kế nội thất và trong quá trình thi công, đưa vào vận hành giai đoạn đầu
Kết quả khảo sát cho thấy, các hợp chất ô nhiễm phát thải từ vật liệu xây dựng và nội thất trong các công trình mới có thể đạt nồng độ cao nếu không được kiểm soát đúng quy cách, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người khi tiếp xúc lâu dài.
4.1. Khuyến cáo lựa chọn vật liệu trong thiết kế nội thất
Trong quá trình thiết kế nội thất cần xem xét các yếu tố liên quan đến phát thải của vật liệu như sau:
- Phát thải từ vật liệu (hóa chất hoặc bụi, tỷ lệ phát thải);
- Quy trình thi công lắp đặt;
- Sửa chữa tại chỗ: Sản phẩm bền lâu ít cần sửa chữa hay phải sơn lại, từ đó giảm chất ô nhiễm.
- Làm sạch trong quá trình vận hành: Bề mặt hoàn thiện ít cần làm sạch hoặc tái tạo sẽ tạo ít chất ô nhiễm hơn.
Nên ưu tiên sử dụng nội thất và vật liệu trang trí không độc hại, có nguồn gốc tái tạo, được chứng nhận phát thải thấp (như Greenguard) hoặc an toàn cho sức khỏe (như HPD – Health Product Declaration). Chứng nhận sản phẩm vật liệu xây dựng liên quan đến sức khỏe con người thường có ba mức [7]:
- Tốt: Chứng nhận sản phẩm và nhãn có phát thải VOC thấp, ví dụ: GreenGuard, Indoor Air Quality, Floor Score, CRI Green Label;
- Tốt hơn: Chứng nhận sản phẩm và nhãn giới hạn một vài chất độc hại, ví dụ: Green Seal, Safer Choice;
- Tốt nhất: Chứng nhận sản phẩm và nhãn không chứa chất độc hại, ví dụ: CradletoCradle, Material Health, Red List Free.
Có thể tham khảo “Phụ lục D: Danh mục vật liệu xây dựng phát thải ô nhiễm thấp” trong sách “Hướng dẫn Thiết kế, thi công và vận hành công trình đảm bảo chất lượng không khí trong nhà theo TCVN 13521:2022” [6].
4.2. Lưu ý trong thi công đối với vật liệu xây dựng và hoàn thiện nội thất
Việc kiểm tra và giám sát vật liệu xây dựng và vật liệu hoàn thiện nội thất suốt quá trình thi công là rất quan trọng. Dưới đây các lưu ý đối với vật liệu và hoàn thiện nội thất được giới thiệu trong tài liệu [6].
- Các chỉ tiêu cần kiểm tra khi vật liệu được vận chuyển đến công trường
- Ván gỗ nhân tạo và các sản phẩm liên quan phải kiểm tra hàm lượng formaldehyde tự do;
- Giấy (vải) dán tường phải kiểm tra formaldehyde tự do và tuân thủ các yêu cầu thiết kế và quy định;
- Sơn gốc nước và chất xử lý gốc nước cần kiểm tra hàm lượng formaldehyde; sơn gốc dung môi cần kiểm tra VOC, benzen, toluene, xylene và ethylbenzen. Sơn polyurethane phải kiểm tra diisocyanate tự do (TDI+HDI);
- Keo gốc nước cần kiểm tra formaldehyde tự do và VOC; keo gốc dung môi cần kiểm tra benzen, toluene, xylene và VOC, keo polyurethane phải kiểm tra TDI tự do.
- Lưu ý khi sử dụng sơn, chất trám khe và chất kết dính
- Cấm sử dụng các chất pha loãng và dung môi chứa benzen như benzen công nghiệp, benzen dầu mỏ;
- Giảm thiểu sử dụng sơn gốc dung môi tại công trường và không dùng benzen, toluene, xylene, xăng để tẩy dầu mỡ hoặc sơn cũ;
- Các công trình đang sử dụng, trong khi thi công cải tạo không được dùng sơn gốc dung môi nếu không có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm;
- Sau khi sử dụng sơn, keo, chất xử lý gốc nước, dung môi, phải đóng kín, bảo quản đúng cách và kịp thời xử lý chất thải;
- Cấm dùng dung môi hữu cơ để vệ sinh dụng cụ thi công trong trang trí nội thất;
- Khi thi công trang trí nội thất, cần chú ý chống ẩm và tránh che phủ các khu vực bị ẩm ướt cục bộ như vách ngăn, cửa, tấm trang trí, trần nhà;
- Công tác phun, quét sơn nên được thực hiện khi không có người trong khu vực;
- Nên sử dụng ốc vít thay cho chất kết dính khi có thể;
- Tăng cường thông gió trong và sau khi thi công sơn, trám khe, và kết dính.
- Lưu ý khi thi công vật liệu cho trần, tường và sàn
- Tấm thảm mới phải được trải ra và để ở nơi khô ráo, sạch sẽ trước khi lắp đặt.
- Trì hoãn lắp đặt tấm trần và vật liệu xốp cho đến khi hoàn tất các công việc sử dụng dung môi (như keo, sơn) và giai đoạn thông gió thanh lọc không khí đã bắt đầu.
- Không để tấm tường thạch cao không sơn quá lâu, chọn sơn có hàm lượng VOC thấp để giảm khí thải và hiệu ứng thấm.
Ví dụ, trong Dự án ICHAQAI [8], quy trình thi công kết hợp thông gió hiệu quả đã giúp giảm nồng độ VOC trong quá trình thi công hoàn thiện nội thất của hai công trình xây mới. Việc sử dụng hệ thống thông gió tăng cường trong suốt quá trình thi công và khởi động sớm trước khi bàn giao giúp giảm đáng kể nồng độ VOC (Hình 8).
Sau khi thi công xong, khu vực mới được hoàn thiện nội thất phải được thanh lọc bằng cách chạy hệ thống HVAC với tốc độ phù hợp với nhu cầu sử dụng ít nhất 48 giờ. Cần duy trì tốc độ thông gió cao trong vài tháng đầu để giảm ô nhiễm không khí trong các không gian xây mới hoặc cải tạo nội thất. Hệ thống đường ống dẫn khí cũng cần được làm sạch trước khi xả vì chúng có thể tích tụ bụi và mảnh vụn.
Việc thanh lọc không khí phải được lên kế hoạch đồng thời với các hoạt động có ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong nhà, như khi sử dụng chất kết dính, sơn hoặc di chuyển đồ nội thất. Cần xác định thời gian thanh lọc và có thể dựa vào dữ liệu phát thải của vật liệu nếu có sẵn trong hồ sơ thiết kế.
5. Kết luận
Lựa chọn vật liệu và đồ đạc nội thất phù hợp, lắp đặt và bảo trì đúng cách là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng không khí trong nhà và dễ dàng kiểm soát ô nhiễm. Do đó, các KTS, nhà thiết kế nội thất và cán bộ thi công cần phải quan tâm đến kiểm soát phát thải của vật liệu trong cả giai đoạn thiết kế và thi công. Điều này không chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm không khí trong nhà một cách hiệu quả, mà còn mang lại lợi ích kinh tế thông qua việc hạn chế nhu cầu lắp đặt bổ sung các hệ thống thông gió hoặc thiết bị xử lý khí hậu trong giai đoạn vận hành.
ThS. Trần Thị Minh Nguyệt
Khoa Vật liệu Xây dựng, Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
PGS.TS.KTS Phạm Thị Hải Hà
Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2025)
Tài liệu tham khảo:
[1] EPA: Reference Guide for Indoor Air Quality in Schools. 2024;
[2] Pollution, I.A: Report to Congress on Indoor Air Quality, 2. 1989, EPA/400/1;
[3] Department, E.P: A Guide on Indoor Air Quality Certification Scheme for Offices and Public Places (2019) – 2019;
[4] P.N. Đăng, P.T.H. Hà: Báo cáo kết quả khảo sát và đo đạc không khí trong nhà tại hai nhà ở mới xây dựng vào mùa hè năm 2020 tại Hà Nội – 2020;
[5] TCVN 13521:2022: Nhà ở và nhà công cộng – Các yêu cầu đối với thông số chất lượng không khí trong nhà – 2022;
[6] P.T.H. Hà, N.T. Trung (đồng chủ biên), N.V. Tuấn, P.V. Tới, T.Q. Dũng, Đ.T. Công, T.T.M. Nguyệt, N.T.K. Phương, T.T. Lợi, N.T. Hoa: Hướng dẫn kỹ thuật thiết kế, thi công và vận hành công trình đảm bảo chất lượng không khí trong nhà theo TCVN 13521:2022 – Nhà Xuất bản Xây dựng, 2025;
[7] N.T.T. Mai, P.T.H. Hà (đồng chủ biên), T.Q. Hoa, N.V. Tuấn, N.T.K. Phương, N.T. Tú, Đ.T. Công, N.X. Nghĩa, N.T. Dũng, L.Đ. Linh, T.Đ. Bình: Sổ tay Quy hoạch và Thiết kế Khu dân cư Hướng đến thành phố vì sức khỏe – Nhà Xuất bản Xây dựng, 2024;
[8] Dematteo, C., et al: Impact of construction stages on Indoor Air Quality – 2018.
































