Tóm tắt
Kiến trúc nhà ở nông thôn (NONT) Việt Nam nói chung và nhà ở tại các làng nghề Hà Nội nói riêng đang chịu tác động mạnh mẽ từ quá trình đô thị hóa và phát triển nông thôn mới. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp truyền thống sang thương mại, dịch vụ và du lịch đã làm thay đổi đáng kể diện mạo kiến trúc và không gian sống của cư dân nông thôn.
Trong đó, các làng nghề sinh vật cảnh (LNSVC) là loại hình đặc thù, vừa mang giá trị sản xuất vừa có giá trị cảnh quan và thẩm mỹ. Quá trình phát triển du lịch tại các làng nghề này dẫn đến những biến đổi đáng kể trong không gian kiến trúc, cảnh quan và làm gia tăng nhu cầu tổ chức lại mô hình nhà ở để đáp ứng đồng thời các chức năng: Sinh hoạt, sản xuất và đón tiếp khách du lịch.
Từ khoá: Mô hình kiến trúc, nhà ở phục vụ du lịch, làng nghề sinh vật cảnh, tổ chức không gian, Hà Nội.
Đặt vấn đề
Du lịch nông thôn (DLNT) hình thành từ cuối thế kỷ 19 tại châu Âu, ban đầu chủ yếu là du lịch nông trại và nghỉ dưỡng, phát triển mạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong bối cảnh đô thị hóa và nhu cầu tìm về thiên nhiên của cư dân thành thị [1]. Theo OECD (1994), từ thập niên 1980, nhiều quốc gia ở châu Âu và châu Á coi DLNT là hướng phát triển bền vững, vừa bảo tồn giá trị văn hóa, môi trường, vừa tạo cơ hội sinh kế mới cho người dân. Trong xu hướng này, không gian NONT đã chuyển đổi từ chức năng cư trú và sản xuất truyền thống sang phục vụ du lịch, lưu trú và trải nghiệm, thông qua các mô hình như homestay, farmstay, Bed & Breakfast (B&B) [1].
Theo Lane, B (1994), DLNT mang đặc trưng quy mô nhỏ, đậm tính truyền thống, dựa trên cảnh quan, văn hóa và lối sống bản địa [2]. Nhờ đó, DLNT không chỉ góp phần bảo tồn giá trị kiến trúc và không gian nông thôn mà còn mở ra cơ hội phát triển du lịch gắn kết với cộng đồng địa phương, hướng tới mô hình phát triển bền vững. Quá trình này hình thành làng nông thôn đa chức năng, đặc biệt tại các làng nghề, nơi nhà ở, sản xuất và dịch vụ liên kết chặt chẽ, giúp cư dân vừa sinh sống, vừa tiếp đón du khách, tạo nên cấu trúc không gian tích hợp giữa sinh hoạt, sản xuất và trải nghiệm du lịch [3].
Trong xu thế đó, DLNT ở Việt Nam, đặc biệt là du lịch làng nghề gắn với tìm hiểu văn hóa và kỹ nghệ truyền thống ngày càng được quan tâm. Hà Nội là địa phương có mật độ làng nghề cao nhất cả nước với hơn 1350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 11 làng nghề hoa, cây cảnh thuộc nhóm ngành sinh vật cảnh được công nhận [5]. Quyết định số 922/QĐ-TTg của Chính phủ (2022) phê duyệt Chương trình phát triển DLNT trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 [6]. Quyết định này xác định: Phát triển DLNT là giải pháp trọng tâm, khuyến khích tích hợp du lịch vào không gian nông nghiệp và làng nghề, qua đó tạo điều kiện cho việc chuyển đổi chức năng của nhà ở LNSVC theo hướng đa chức năng.
Tại Hà Nội, Chương trình số 04-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội (2021) xác định ngành hoa, cây cảnh là một trong những mũi nhọn kinh tế trong xây dựng nông thôn mới, quá đó thúc đẩy phát triển các mô hình sản xuất gắn với du lịch.
Trên cơ sở các định hướng này, việc tổ chức không gian kiến trúc nhà ở trong LNSVC tại Hà Nội phục vụ du lịch không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của làng nghề mà còn đáp ứng mục tiêu phát triển đô thị – nông thôn kết hợp, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa và cảnh quan đặc trưng [7].
Mặc dù đã có một số quy định quản lý chung, quá trình phát triển này vẫn chưa được định hướng đầy đủ và cụ thể. Các hướng dẫn chi tiết, cơ sở khoa học cũng như những mô hình mẫu còn hạn chế, dẫn đến tình trạng cải tạo và xây dựng còn mang tính chắp vá, manh mún, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn và thiếu đồng bộ, từ đó ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch cũng như hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, các nghiên cứu chuyên sâu đề xuất mô hình cụ thể cho loại hình này còn hạn chế, gây khó khăn cho công tác quy hoạch, cải tạo, xây dựng cũng như việc định hướng và hướng dẫn cộng đồng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, bài viết hướng tới hai mục tiêu: (1) Xây dựng mô hình lý thuyết tổng quát cho kiến trúc nhà ở tại LNSVC khi tham gia hoạt động du lịch; (2) Phân loại các loại hình nhà ở dựa trên tổ hợp chức năng, nhằm góp phần định hướng tổ chức không gian kiến trúc phục vụ phát triển du lịch làng nghề bền vững tại Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
Quy hoạch và tổ chức không gian: Lý thuyết Quy hoạch không gian của Faludi, A, (1973) nhấn mạnh việc phân bổ và tổ chức tài nguyên lãnh thổ hiệu quả, bền vững, gắn kết môi trường, kinh tế và xã hội, đồng thời đề cao sự tham gia của cộng đồng [8]. Đối với LNSVC, việc phân vùng hợp lý giữa khu sản xuất, khu ở và không gian du lịch giúp giảm xung đột sử dụng đất, đồng thời tối ưu hóa trải nghiệm của du khách.
Kiến trúc linh hoạt và cấu trúc mở: Các nghiên cứu của Brand (1994) và Groák (1992) nhấn mạnh tòa nhà là một hệ thống mở có khả năng thay đổi theo nhu cầu sử dụng [9], [10]. Những quan điểm này là nền tảng cho việc thiết kế không gian nhà ở linh hoạt, cho phép thay đổi chức năng theo mùa vụ hoặc nhu cầu du lịch mà không phá vỡ cấu trúc tổng thể, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng đất và nguồn lực hộ gia đình.
Phát triển đa chức năng: Các lý thuyết về phát triển hỗn hợp chức năng (mixed-use development) của (Jacobs, 1961; Grant, 2002, 2004; Rowley, 1996) nhấn mạnh: Tích hợp ở – sản xuất – thương mại – dịch vụ trong cùng một thực thể không gian nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất và thúc đẩy tương tác kinh tế – xã hội. Koolhaas (1978) bổ sung khái niệm tính phức hợp chức năng (programmatic complexity), cho phép chồng lớp các chức năng để kích hoạt các hoạt động kinh tế – xã hội mới [11]. Nguyên tắc này đặc biệt phù hợp với nhà ở làng nghề tại Việt Nam, gợi mở mô hình nhà ở phục vụ du lịch đa chức năng, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, vừa phục vụ trải nghiệm nghề truyền thống.
Du lịch bền vững: Du lịch bền vững yêu cầu cân bằng lợi ích kinh tế, văn hóa, môi trường, tăng vai trò cộng đồng, bảo tồn tài nguyên bản địa [12]. Ứng dụng vào LNSVC, mô hình nhà ở phục vụ du lịch cần hạn chế tác động môi trường, giữ gìn cảnh quan, tạo sinh kế ổn định dựa trên nghề trồng hoa, cây cảnh.
Kiến trúc khí hậu và bản địa: Lý thuyết kiến trúc nhiệt đới và thiết kế thụ động của Yeang, K, (1995) cùng với trường phái kiến trúc vùng (critical regionalism) của Frampton, K, (1983) cung cấp nền tảng để tổ chức không gian thích ứng với khí hậu cận nhiệt đới ẩm Hà Nội [13], [14]. Các giải pháp kiến trúc như nhà làm mái dốc, hiên rộng; cấu trúc thông thoáng; sử dụng vật liệu địa phương và hình thái phù hợp ngữ cảnh văn hóa làng nghề; tổ chức sân vườn hỗ trợ điều hòa vi khí hậu.
Thực tiễn nhà ở LNSVC tại Hà Nội: Nghiên cứu tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng nhà ở có tham gia hoạt động du lịch tại 04 làng hoa, cây cảnh, sinh vật cảnh tiêu biểu: Tây Tựu, Nhật Tân, Tứ Liên và Hồng Vân. Kết quả cho thấy các hộ gia đình tại đây thường tổ chức nhà ở theo mô hình đa chức năng, đồng thời đáp ứng nhiều hoạt động: Sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ du lịch, không gian trải nghiệm nghề và có một số hộ gia đình có dịch vụ lưu trú quy mô nhỏ.
Tổ hợp đa chức năng này tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mô hình nhà ở – vườn – du lịch, góp phần nâng cao thu nhập và đa dạng hóa dịch vụ tại làng nghề. Tuy nhiên, việc tích hợp nhiều chức năng trong cùng một khuôn viên cũng dẫn đến nguy cơ xung đột không gian, đặc biệt giữa nhu cầu sinh hoạt gia đình, hoạt động sản xuất đặc thù (trồng hoa, ươm cây, chăm sóc, tạo tác sinh vật cảnh) và nhu cầu đón tiếp khách.
Mô hình nhà ở phục vụ du lịch làng nghề
Nghiên cứu đề xuất mô hình lý thuyết về nhà ở phục vụ du lịch trong các LNSVC, hướng tới việc tổ chức không gian sống vừa tiện nghi, thích ứng khí hậu vừa phù hợp với đặc thù sản xuất nghề. Mô hình kế thừa giá trị không gian nhà vườn truyền thống, đồng thời tích hợp các không gian phục vụ trải nghiệm, lưu trú và dịch vụ du lịch, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi và phát triển du lịch tại các LNSVC hiện nay.
Mô hình nghiên cứu được hình thành trên cơ sở 04 trụ cột chính:
(1) Chuỗi giá trị nghề sinh vật cảnh gồm ươm giống – chăm sóc – tạo tác – trưng bày – thưởng lãm – thương mại – truyền nghề, hình thành hệ thống chức năng cơ bản của nhà ở LNSVC.
(2) Cơ chế tương tác 03 chiều “ở – sản xuất – du lịch” đặc thù của làng nghề, thể hiện sự kết nối chặt chẽ giữa không gian sinh hoạt, không gian sản xuất và các hoạt động dịch vụ du lịch tại chỗ. Đây là yếu tố không xuất hiện trong các loại hình nhà ở truyền thống hay các mô hình du lịch nông nghiệp thông thường.
(3) Mức độ tham gia các hoạt động du lịch tại chỗ của hộ gia đình, bao gồm tham quan – trải nghiệm – workshop – sự kiện – lưu trú. Mức độ tham gia này quyết định hình thức tổ chức, quy mô các khu chức năng và cơ chế đóng – mở của từng không gian trong khuôn viên nhà ở.
(4) Tính mùa vụ và linh hoạt của hoạt động bonsai, hoa và cây cảnh, đòi hỏi không gian nhà ở phải có khả năng chuyển đổi theo thời điểm sản xuất, trưng bày hoặc phục vụ khách. Đây là mức độ thích ứng cao hơn các mô hình nhà ở phục vụ du lịch thông thường.
Trên cơ sở 04 trụ cột này, mô hình lý thuyết được khái quát hoá nhằm đạt 03 mục tiêu: (1) Xác định các thành phần không gian cốt lõi của nhà ở làng nghề; (2) Mô tả quan hệ tương tác giữa sinh hoạt – sản xuất – du lịch; (3) Tạo cơ sở cho việc phân tích và phân loại các loại hình nhà ở du lịch trong thực tiễn.
Từ các cơ sở trên, mô hình lý thuyết được cụ thể hóa thành cấu trúc tổ chức không gian đặc thù – mô hình “Hoa bốn cánh”. Trong đó, lõi trung tâm là nhà ở, xung quanh là 04 cánh chức năng: ở, sản xuất, du lịch và phụ trợ.
- Không gian ở (Residential): Phòng ở, bếp, phòng khách, vệ sinh, đảm bảo riêng tư và kết nối các chức năng khác;
- Không gian sản xuất (Production): Khu vườn, nhà lưới, khu chăm sóc bonsai, kho vật tư, vừa phục vụ sản xuất chính vừa tạo trải nghiệm nghề;
- Không gian du lịch (Tourism): Trải nghiệm nghề truyền thống, workshop, tham quan vườn và lưu trú với phòng nghỉ, homestay, bungalow nhỏ;
- Không gian phụ trợ (Auxiliary): Thương mại và dịch vụ phục vụ sản xuất và du lịch, mở rộng chuỗi giá trị, tăng thu nhập cho hộ gia đình.
Mô hình “Hoa bốn cánh” là sự tổng hợp các yếu tố nghề, tổ chức không gian và hoạt động du lịch trong một cấu trúc thống nhất, cho phép chuyển hoá thành các giải pháp thiết kế và cải tạo ở quy mô hộ gia đình.
Khả năng linh hoạt này được minh họa thông qua các phương án tổ chức không gian, bao gồm: (a) Ở + Sản xuất (giai đoạn khởi đầu); (b) Ở + Sản xuất + Du lịch (phát triển homestay quy mô nhỏ); (c) Ở + Sản xuất + Du lịch + Phụ trợ (phát triển hoàn chỉnh); (d) các biến thể thích ứng với điều kiện đất hẹp.
Các loại hình nhà ở phục vụ du lịch
Trên cơ sở mô hình lý thuyết gồm 04 nhóm chức năng (Ở – Sản xuất – Du lịch – Phụ trợ), nghiên cứu đề xuất 05 loại hình nhà ở phục vụ du lịch phù hợp với điều kiện đất đai và nhu cầu của hộ gia đình. Trong mỗi loại hình, các chức năng có thể giữ vai trò chính hoặc bổ trợ tùy theo quy mô và hình thức khai thác, được tổng hợp trong Bảng 1.
(1) Nhà ở kết hợp kinh doanh phục vụ du lịch (Shophouse/ Tourist house): Kết hợp các chức năng ở – trưng bày – thương mại, có diện tích khoảng 50 – 120m², cao 2 – 3 tầng. Chức năng kinh doanh (trưng bày, bán hoa và cây cảnh) đóng vai trò chủ đạo; trong một số trường hợp có thể kết hợp các hoạt động như tham quan, giới thiệu sản phẩm hoặc bố trí lưu trú quy mô nhỏ.
(2) Nhà ở trong mạng lưới du lịch làng (Network house): Kết hợp ở – bán hàng – trải nghiệm, diện tích 80 – 180m². Đây là các nhà ở tham gia vào hệ thống điểm dừng trong tuyến du lịch làng nghề, có thể bố trí lối tiếp cận riêng cho khách nhằm giảm xung đột với sinh hoạt gia đình. Ngoài chức năng giới thiệu sản phẩm và tổ chức các hoạt động trải nghiệm (như hướng dẫn chăm sóc cây, tạo dáng bonsai), một số trường hợp có thể bổ sung lưu trú quy mô nhỏ để tăng tính linh hoạt của mạng lưới.
(3) Nhà sinh thái/ Nhà nghỉ dưỡng (Eco-house / Bungalow): Phục vụ lưu trú gắn với không gian sinh thái, cảnh quan cây xanh và mặt nước. Mỗi đơn nguyên có diện tích khoảng 25 – 40m², bố trí trong khu đất từ 300 – 1500m² với mật độ xây dựng thấp. Công trình ưu tiên sử dụng vật liệu thân thiện môi trường và có thể khai thác năng lượng tái tạo. Bên cạnh chức năng lưu trú, loại hình này có thể kết hợp các hoạt động tham quan vườn, nghỉ dưỡng, trong khi các dịch vụ thương mại chỉ mang tính hỗ trợ.
(4) Nhà ở lưu trú cộng đồng (Homestay house): Kết hợp ở – vườn cảnh – trải nghiệm – lưu trú trong cùng không gian hộ gia đình. Diện tích khoảng 150 – 400m², bố trí 2 – 4 phòng lưu trú, có sự phân tách tương đối giữa không gian khách và chủ. Loại hình này chú trọng gìn giữ kiến trúc và sinh hoạt truyền thống, đồng thời có thể kết hợp sản xuất quy mô nhỏ và tổ chức các hoạt động trải nghiệm văn hóa – nghề ở mức độ phù hợp.
(5) Nhà ở kết hợp nông nghiệp trải nghiệm (Farmstay house): Là mô hình tích hợp đa chức năng gồm ở – sản xuất – trải nghiệm – lưu trú và dịch vụ phụ trợ. Quy mô đất từ 400 – 3000m², mật độ xây dựng thấp (≤ 30 – 40%), có tổ chức hạ tầng phục vụ sản xuất và tham quan như đường dạo, khu trưng bày và bãi đỗ xe. Trong đó, sản xuất và trải nghiệm (chăm sóc cây, thu hoạch, tạo dáng bonsai…) đóng vai trò cốt lõi, còn lưu trú và dịch vụ được tổ chức linh hoạt tùy theo điều kiện cụ thể.
Các loại hình trên hình thành một khung tham chiếu cho thiết kế, cải tạo và quản lý không gian nhà ở trong làng nghề, cho phép điều chỉnh linh hoạt theo đặc thù sản xuất và quy mô đất đai, đồng thời hướng tới hiệu quả sử dụng, chất lượng thẩm mỹ và trải nghiệm du lịch.

Sự kết hợp giữa hai bảng cho phép nhận diện đầy đủ đặc điểm và quy mô của từng loại hình, làm cơ sở cho việc tổ chức không gian nhà ở phục vụ du lịch trong các làng nghề theo hướng phù hợp thực tiễn và phát triển bền vững.
Kết luận
Bài viết nghiên cứu mô hình kiến trúc nhà ở kết hợp du lịch tại các LNSVC ở Hà Nội trong bối cảnh phát triển du lịch làng nghề. Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết và khảo sát thực tiễn, nghiên cứu đề xuất mô hình “Hoa bốn cánh”, với cấu trúc gồm 04 nhóm chức năng chính: Ở, sản xuất, du lịch và phụ trợ. Từ đó, 05 loại hình nhà ở phục vụ du lịch được xác định, bao gồm: Homestay, Farmstay, Network House, Shophouse và Eco House/Bungalow.
Mô hình đề xuất góp phần định hướng tổ chức không gian nhà ở theo hướng tích hợp đa chức năng, hỗ trợ quá trình cải tạo và xây dựng một cách đồng bộ, đồng thời góp phần bảo tồn giá trị kiến trúc, cảnh quan và thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu cũng như nhu cầu của hộ gia đình. Qua đó, nghiên cứu tạo cơ sở tham khảo cho phát triển DLNT theo hướng chuyên nghiệp và bền vững, đồng thời mở ra hướng tiếp cận cho các nghiên cứu tiếp theo về nhà ở phục vụ du lịch trong các làng nghề.
Việc triển khai mô hình nhà ở phục vụ du lịch trong thực tiễn đòi hỏi sự tham gia chủ động của cộng đồng cư dân, cùng với sự hỗ trợ về chính sách, cơ chế khuyến khích kết hợp hướng dẫn kỹ thuật từ cơ quan quản lý, nhằm đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn ra hiệu quả và phù hợp với đặc thù từng làng nghề.
Ths. KTS Nguyễn Thị Phương Anh
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi đề tài khoa học và công nghệ
Trường ĐH Mở Hà Nội, mã số MHN2024-02.25
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2026)
Tài liệu tham khảo
[1] OECD (1994): Tourism Strategies and Rural Development. Paris: Organisation for Economic Co operation and Development. https://one.oecd.org/document/OCDE/GD(94)49/en/pdf;
[2] Lane, B (1994): What is Rural Tourism? – in Journal of Sustainable Tourism, Vol.2 (1-2): 7-21, p 7-21. https://doi.org/10.1080/09669589409510680;
[3] Nguyễn Thị Phương Anh ( 2024): Kiến trúc làng sinh vật cảnh một số nước trên Thế giới phục vụ phát triển du lịch nông nghiệp và bài học kinh nghiệm tại Việt Nam – Tạp chí Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam, số 345.2.2024. ISSN 0866-8617;
[4] Explore Netherlands (n.d.): Lisse https://www.explore-netherlands.com/places/lisse/;
[5] Ceid.gov.vn. (n.d.): Cơ sở dữ liệu về bảo vệ môi trường làng nghề. http://langnghe.ceid.gov.vn/;
[6] Chính phủ. (2022): Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/08/2022, Phê duyệt Chương trình phát triển DLNT trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Hà Nội;
[7] Nguyễn Thị Phương Anh (2025): Chuyển đổi không gian kiến trúc NONT ven đô thích ứng đô thị hóa và phục vụ du lịch – Tạp chí Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam, số 358-02-2025. ISSN 0866-8617;
[8] Faludi, A. (1973): Planning theory – Pergamon Press;
[9] Brand, S. (1994): How buildings learn: What happens after they’re built – Viking;
[10] Groák, S. (1992): The idea of building: Thought and action in the design and production of buildings – E & FN Spon;
[11] Koolhaas, R. (1978): Delirious New York: A Retroactive Manifesto for Manhattan. Oxford University Press, The Monacelli Press.
[12] United Nations World Tourism Organization. (2005): Making tourism more sustainable: A guide for policy makers – WTO;
[13] Yeang, K. (1995): The green skyscraper: The basis for designing sustainable intensive buildings – Prestel;
[14] Frampton, K. (1983): Towards a critical regionalism: Six points for an architecture of resistance. In H. Foster (Ed.) – The Anti-Aesthetic: Essays on Postmodern Culture (p 16 – 30) – Bay Press;
[15] Nguồn ảnh: Internet.





























