Nhà ở xã hội được hiểu là công trình được xây dựng và sở hữu bởi Nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ, phục vụ nhà giá rẻ cho các đối tượng chính sách có thu nhập thấp như người có công, thương bệnh binh, công nhân, sinh viên, người bị giải tỏa không khả năng mua chỗ ở mới…Việc hình thành một tiểu khu cho người thu nhập thấp, bao gồm công nhân các khu công nghiệp, người nhập cư tự do là một ý tưởng nhân văn.
“Nhà ở xã hội “theo nghĩa rộng của thị trường (cung cầu), không nhất thiết chỉ thuộc sở hữu nhà nước, bao gồm nhà ở xã hội và nhà ở nói chung giá bình dân, phục vụ các thành phần lao động thu nhập thấp, khởi nghiệp, công nhân nhập cư, sinh viên, trí thức trẻ khởi nghiệp… Mô hình này thực ra không mới, nó được làm ở Dubai, Singapore và Malaysia.
Thực trạng
Các số liệu thống kê gần đây được công bố cho thấy, chỉ tiêu của Bộ Xây dựng là 12 triệu m2 nhà ở xã hội đến năm 2020 mới đạt hơn 30%. Nếu tính đến hiệu quả sử dụng thì còn thấp hơn nhiều. Trong khi trước mắt còn chỉ tiêu 10 triệu m2 nhà ở xã hội đến 2030. Nhiều áp lực lẫn thách thức để giải bài toán phát triển nhà ở xã hội đạt chỉ tiêu kỳ vọng.
Vấn đề hiện nay lương của người Việt Nam đang rất thấp mà giá nhà tăng cao ảnh hưởng đến những người công nhân, người có nhu cầu thật, việc sở hữu nhà đối với họ sẽ càng trở nên khó khăn và không đủ khả năng để mua. Do đó, cần phải tìm giải pháp khác để an cư cho họ.
Ví dụ: Xây khu nhà ở bình dân cho các đối tượng lao động thuê: công nhân viên, người lao động có thu nhập ổn định, các khu có cơ sở hạ tầng phù hợp. Những mô hình này mang ý nghĩa sâu sắc và nhân văn. Tuy nhiên đây là đề tài khó, phức tạp, liên quan đến rất nhiều các chủ đề như: chính sách nhà ở, chính sách đất đai, cơ chế thị trường, các vấn đề quy hoạch và kiến trúc, các vấn đề kỹ thuật, văn hóa xã hội, chi phí và khả năng chi trả, quản lý và vận hành.
Cơ sở pháp lý
Các chính sách về nhà ở xã hội đề cập đến nội dung nhà ở, tiếp cận từ môi trường sống (tương thích với nhóm xã hội là cộng đồng người lao động thu nhập thấp) nhằm tiếp cận đúng về thực trạng không gian sống của cộng đồng người yếu thế trong đô thị.
Nghị định 49/2021/NĐ-CP quy định: Tại các đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch đô thị; quy hoạch xây dựng nông thôn; quy hoạch phát triển khu công nghiệp; quy hoạch xây dựng các cơ sở giáo dục đại học, trường dạy nghề (trừ viện nghiên cứu khoa học, trường phổ thông dân tộc nội trú công lập trên địa bàn), UBND cấp tỉnh có trách nhiệm căn cứ vào nhu cầu nhà ở xã hội trên địa bàn và chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở đã được phê duyệt để bố trí đủ quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội; chỉ đạo cơ quan chức năng xác định cụ thể vị trí, địa điểm, quy mô diện tích đất của từng dự án xây dựng nhà ở xã hội đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nhà ở xã hội.
Một số yếu tố quan trọng thường có trong chính sách đô thị liên quan đến nhà ở xã hội
Quy hoạch xây dựng: đề xuất các mô hình không gian, giải quyết mối quan hệ tương tác giữa đô thị mới – đô thị chuyển tiếp – đô thị khởi nghiệp.
Phát triển nhà ở: đề xuất giải pháp hỗ trợ phù hợp có sự khác biệt về vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, yếu tố văn hóa lịch sử, quy mô sản xuất nông nghiệp, tính chất loại hình sản xuất, môi trường, cảnh quan, hạ tầng phục vụ sản xuất, công nghệ sản xuất, mô hình và phương thức sản xuất, nhu cầu sinh kế và thị trường tiêu thụ,…
Chất lượng cuộc sống: đề xuất các biện pháp để cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân đô thị, bao gồm chăm sóc sức khỏe, giáo dục, và cơ hội làm việc phù hợp với Nhóm yếu thế.
Đa dạng văn hóa và xã hội: thúc đẩy sự đa dạng về văn hóa, xã hội và kinh tế trong các khu vực đô thị, tạo điều kiện cho sự hòa nhập và phát triển cộng đồng các Nhóm yếu thế.
Quản lý rủi ro và khẩn cấp: ứng phó với các tình huống khẩn cấp như thiên tai, đám cháy, và tội phạm.
Quản lý đánh giá tác động xã hội: thông qua ứng dụng công nghệ thông tin để khảo sát, tổng hợp phân tích, đánh giá các tác động xã hội.
Từ các yếu tố quan trọng thường có trong chính sách đô thị, định hướng có thể tập trung làm sâu sắc hơn để đóng góp thiết thực đối với các chính sách phát triển, như sau:
Một là, mô hình đô thị khởi nghiệp/ khu nhà ở xã hội cần bổ sung đề xuất các Tiêu chí đánh giá, định lượng (về nhu cầu, về vị trí, địa điểm, quy mô diện tích đất) trên cơ sở làm việc với chính quyền địa phương cấp huyện và các cơ quan chuyên môn: quản lý phát triển nhà, quản lý quy hoạch xây dựng và quản lý ngành (công nghiệp, nông nghiệp) cấp thành phố. Kết quả là văn bản kiến nghị cụ thể để đưa vào/hoặc bổ sung danh mục thuộc chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở (do UBND Thành phố ban hành).
Hai là, khảo sát và đề xuất thí điểm mô hình đô thị khởi nghiệp/ khu nhà ở xã hội tại các khu vực ven đô của thành phố hoặc trung tâm tiểu vùng huyện, bố trí gắn với “Trung tâm dịch vụ hỗ trợ sản xuất” (tập trung hoặc phân tán), với các “Cụm nhà xưởng và kho nhỏ – dạng Industry Farm” là nơi tập trung việc làm phù hợp với Nhóm yếu thế, máy móc, phương tiện cơ giới hóa, tự động hóa, ứng dụng công nghệ mới, v.v…phục vụ nhu cầu lao động của Nhóm yếu thế ở Vùng giao thoa (giữa “Vùng sản xuất nông nghiệp” với “Vùng phát triển đô thị”). Kết quả là đề xuất hướng dẫn giữa Bộ NN&PTNT với Bộ XD và một số Bộ ngành liên quan.
Ba là, tìm kiếm giải pháp cho những khu đô thị được xây dựng ở khu vực mới phát triển, và cũng có giải pháp cho những khu vực nhỏ hơn, xen cài giữa các xóm ấp hiện hữu, hoặc giải pháp cải tạo chỉnh trang, cơ cấu lại các khu vực trung tâm cụm làng/ cụm xã để hình thành nên những không gian sống tốt hơn cho cộng đồng lao động yếu thế.
Ths.KTS Lã Hồng Sơn (Phó chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội)
© Tạp chí Kiến trúc























