Quy hoạch đô thị Cam Ranh: thích ứng biến đổi khí hậu theo mô hình đô thị bọt biển và quản lý đô thị biển phục vụ phát triển du lịch – logistics

Tóm tắt

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với các đô thị ven biển. Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa là một đô thị biển có vịnh kín, sở hữu hạ tầng giao thông chiến lược như sân bay quốc tế và cảng biển, đồng thời chịu tác động rõ nét của mưa cực đoan, ngập lụt đô thị, thiếu hụt nước ngọt và suy giảm hệ sinh thái ven biển.

Bài nghiên cứu tiếp cận Cam Ranh theo hướng thích ứng BĐKH, tập trung vào mô hình đô thị bọt biển trong khung hạ tầng xanh – nước, kết hợp với quản lý đô thị biển trong bối cảnh phát triển du lịch – logistics. Thông qua phương pháp nghiên cứu trường hợp, phân tích không gian và đề xuất mô hình quy hoạch tích hợp nhằm điều tiết nước mưa đô thị, phục hồi hệ sinh thái vịnh Cam Ranh và tổ chức không gian công cộng ven biển.

Kết quả nghiên cứu làm rõ vai trò của đô thị bọt biển như một giải pháp nền tảng trong quy hoạch đô thị thích ứng BĐKH.

Từ khoá: Vịnh Cam Ranh, Biến đổi khí hậu, Quy hoạch đô thị thích ứng, Đô thị bọt biển, Hạ tầng xanh – nước, Đô thị ven biển, Quản lý đô thị biển, Du lịch biển, Logistics.

Sơ đồ vị trí đô thị Cam Ranh

Climate change–adaptive urban planning for Cam Ranh city based on the sponge city model and integrated coastal urban management to support tourism and logistics development

ABSTRACT: Climate change is posing increasingly serious challenges to coastal cities. Cam Ranh, Khanh Hoa province, is a coastal city with a semi-enclosed bay, endowed with strategic transportation infrastructure such as an international airport and a seaport, while being clearly exposed to extreme rainfall, urban flooding, freshwater shortages, and degradation of coastal ecosystems.

This study approaches Cam Ranh from a climate change adaptation perspective, focusing on the sponge city model within a blue – green infrastructure framework, integrated with coastal urban management in the context of tourism and logistics development. Using a case study approach combined with spatial analysis, the research proposes an integrated planning model aimed at regulating urban stormwater, restoring the ecological systems of Cam Ranh Bay, and organizing coastal public spaces.
The findings highlight the role of the sponge city as a foundational solution for climate-adaptive urban planning, and provide practical insights for coastal urban management in Vietnam.

Keywords: Cam Ranh bay; Climate change; Climate-adaptive urban planning; Sponge city; Blue – green infrastructure; Coastal city; Coastal urban management; Marine tourism and logistics.

1. Mở đầu

BĐKH đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với phát triển đô thị toàn cầu, đặc biệt tại các đô thị ven biển, nơi tập trung mật độ cao dân cư, hạ tầng kinh tế – xã hội và các hoạt động du lịch, logistics. Theo các kịch bản BĐKH, các đô thị ven biển ngày càng chịu tác động gia tăng của mưa cực đoan, ngập lụt, xâm nhập mặn, suy giảm nguồn nước ngọt và suy thoái hệ sinh thái ven biển. Những tác động này không chỉ làm gia tăng rủi ro thiên tai mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy quy hoạch và quản lý đô thị theo hướng thích ứng chủ động với BĐKH [1].

Mô hình đô thị bọt biển (Sponge City) đã được nhiều quốc gia nghiên cứu và triển khai như một hướng tiếp cận quy hoạch – hạ tầng tích hợp, nhằm tăng cường khả năng thấm, trữ, điều tiết và tái sử dụng nước mưa thông qua hệ thống hạ tầng xanh – nước. Không chỉ là giải pháp kỹ thuật thoát nước, đô thị bọt biển còn được xem là mô hình phát triển đô thị tổng hợp, gắn kết quy hoạch không gian, bảo tồn hệ sinh thái, tổ chức không gian công cộng và quản lý đô thị theo hướng thích ứng, chuyển đổi tư duy từ “chống chịu thụ động” sang “thích ứng linh hoạt” [2].

Cam Ranh là một đô thị biển điển hình của khu vực Nam Trung Bộ, sở hữu vịnh kín gió có giá trị tự nhiên và chiến lược, đồng thời là đầu mối giao thông quan trọng với sân bay quốc tế, cảng biển nước sâu và quân cảng Cam Ranh. Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, Cam Ranh giữ vai trò trung tâm của tỉnh Khánh Hòa mới, nằm trên trục Bắc – Nam và tuyến hàng hải quốc tế của Biển Đông, đồng thời có khả năng kết nối vùng mạnh mẽ với Tây Nguyên thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và cao tốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch biển và logistics quy mô lớn [3].

Tuy nhiên, quá trình phát triển đô thị gắn với du lịch biển và logistics tại Cam Ranh đang làm gia tăng áp lực lên không gian ven vịnh, hệ thống thoát nước và các hệ sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn và mặt nước ven bờ. Các hiện tượng ngập úng cục bộ, suy giảm chất lượng môi trường nước và thiếu hụt nước ngọt mùa khô cho thấy những hạn chế của mô hình phát triển đô thị truyền thống, đặt ra yêu cầu về một cách tiếp cận quy hoạch tích hợp hơn, gắn hạ tầng nước đô thị với phục hồi sinh thái và quản lý không gian đô thị biển.

Nghiên cứu quy hoạch đô thị Cam Ranh theo hướng thích ứng với BĐKH, dựa trên mô hình đô thị bọt biển và quản lý đô thị biển phục vụ phát triển du lịch – logistics, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu làm rõ vai trò của hạ tầng xanh – nước trong điều tiết nước mưa, phục hồi hệ sinh thái vịnh Cam Ranh và đề xuất mô hình quy hoạch tích hợp phù hợp với điều kiện đô thị biển Việt Nam.

Hiện trạng cảng Ba Ngòi – Cam Ranh. Nguồn. Báo Khánh Hòa online

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp giữa quy hoạch đô thị, quản lý đô thị biển và khoa học môi trường nhằm làm rõ mối quan hệ giữa BĐKH, mô hình đô thị bọt biển và phát triển đô thị ven biển đa chức năng.

Các phương pháp chính bao gồm:

  1. Phân tích tài liệu thứ cấp, tập trung vào các nghiên cứu quốc tế về đô thị bọt biển, quản lý đô thị biển, đô thị cảng và đô thị lưỡng dụng;
  2. Phân tích không gian và cấu trúc đô thị, dựa trên hệ thống hạ tầng xanh – nước, mạng lưới giao thông – logistics và phân bố các khu chức năng ven vịnh Cam Ranh;
  3. Nghiên cứu trường hợp so sánh, lựa chọn các đô thị ven biển tiêu biểu như Toulon (Pháp) và Singapore để rút ra bài học kinh nghiệm về quản lý đô thị biển, logistics và hạ tầng lưỡng dụng;
  4. Phân tích tổng hợp và định hướng, nhằm đề xuất khung tiếp cận quy hoạch đô thị Cam Ranh thích ứng BĐKH đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch – logistics.

3. Nội dung nghiên cứu

3.1. Quy hoạch đô thị Cam Ranh thích ứng BĐKH

Quy hoạch đô thị Cam Ranh thích ứng BĐKH được tiếp cận như một định hướng phát triển nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương của đô thị trước các tác động khí hậu hiện hữu và dài hạn, đồng thời nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống không gian, hạ tầng kỹ thuật và quản lý đô thị. Cách tiếp cận này không đặt trọng tâm vào việc kiểm soát tuyệt đối các yếu tố tự nhiên, mà hướng tới khả năng điều chỉnh linh hoạt cấu trúc đô thị thông qua các giải pháp không gian, sinh thái và quản trị tích hợp, phù hợp với đặc thù đô thị biển [4].

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất Cam Ranh. Nguồn: SISP [3]
Là một đô thị ven biển phát triển dựa trên vịnh kín, cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế và các hoạt động du lịch – logistics, Cam Ranh chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố khí hậu phức hợp như mưa cực đoan, ngập lụt đô thị, xâm nhập mặn, nước biển dâng và suy giảm hệ sinh thái ven bờ. Các áp lực này không chỉ đến từ điều kiện tự nhiên mà còn gia tăng do quá trình đô thị hóa nhanh, mở rộng xây dựng ven vịnh và gia tăng mật độ sử dụng đất, làm suy giảm khả năng điều tiết tự nhiên của không gian đô thị.

Trong bối cảnh đó, quy hoạch đô thị Cam Ranh không thể tiếp cận theo hướng đơn ngành hay thiên về các giải pháp kỹ thuật cục bộ, mà cần được đặt trong một khung thích ứng tổng thể, tích hợp đồng thời các mục tiêu môi trường, phát triển kinh tế biển và ổn định xã hội. Quy hoạch thích ứng đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa tổ chức không gian đô thị, quản lý hạ tầng nước, bảo tồn hệ sinh thái ven vịnh và định hướng phát triển các ngành kinh tế chủ lực như du lịch biển và logistics.

Các nghiên cứu quốc tế về đô thị ven biển cho thấy quy hoạch thích ứng BĐKH thường dựa trên ba nguyên tắc cơ bản:

  1. Thích ứng dựa vào hệ sinh thái, coi mặt nước, đất ngập nước và không gian xanh là một phần của hạ tầng đô thị;
  2. Tích hợp hạ tầng xanh – nước vào cấu trúc không gian nhằm tăng khả năng điều tiết nước mưa và cải thiện vi khí hậu;
  3. Gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch với quản lý đô thị để bảo đảm hiệu quả trong quá trình vận hành.
Một góc đô thị Cam Ranh. Nguồn: Báo Khánh Hòa online

Những nguyên tắc này có ý nghĩa trực tiếp đối với Cam Ranh, nơi mối quan hệ giữa đô thị, nước và hệ sinh thái ven biển mang tính quyết định.

Một điểm then chốt của quy hoạch đô thị thích ứng tại Cam Ranh là sự chuyển dịch từ tư duy “thiết kế cho trạng thái ổn định” sang “thiết kế cho sự biến đổi”, chấp nhận tính không chắc chắn của khí hậu trong dài hạn. Trên cơ sở đó, các mô hình như đô thị bọt biển, hạ tầng xanh – nước và quản lý đô thị biển tích hợp được xem là những công cụ phù hợp để hiện thực hóa quy hoạch đô thị Cam Ranh theo hướng thích ứng BĐKH.

3.2. Quy hoạch Cam Ranh theo định hướng đô thị bọt biển và hạ tầng xanh – nước

Mô hình đô thị bọt biển (Sponge City) được phát triển như một cách tiếp cận quy hoạch hạ tầng nhằm quản lý nước đô thị trong điều kiện khí hậu biến động, đặc biệt tại các đô thị có nguy cơ ngập lụt cao. Khác với hệ thống thoát nước truyền thống thiên về thu gom và xả nhanh, đô thị bọt biển hướng tới việc giữ, thấm, trữ và tái sử dụng nước mưa ngay trong không gian đô thị, qua đó giảm áp lực cho hạ tầng kỹ thuật và môi trường tiếp nhận [5].

Hạ tầng xanh – nước trong đô thị. Nguồn: Rieke Hansen et al, 2018 [7]
Quy hoạch Cam Ranh thích ứng biến đổi khí hậu, du lịch và logistic

Về cấu trúc, đô thị bọt biển dựa trên hệ hạ tầng xanh – nước (blue-green infrastructure), trong đó các yếu tố tự nhiên và bán tự nhiên như mặt nước, không gian xanh, đất ngập nước, hồ điều hòa, công viên sinh thái và các bề mặt thấm nước được tích hợp trực tiếp vào tổ chức không gian đô thị. Hệ hạ tầng này vừa thực hiện chức năng điều tiết nước mưa, vừa cải thiện vi khí hậu, tăng cường đa dạng sinh học và nâng cao chất lượng cảnh quan, không gian công cộng [6].

Đối với các đô thị ven biển như Cam Ranh, mô hình đô thị bọt biển có ý nghĩa đặc biệt do mối liên hệ chặt chẽ giữa nước mưa đô thị, thủy triều, xâm nhập mặn và hệ sinh thái ven bờ. Việc tích hợp hạ tầng xanh – nước giúp giảm nguy cơ ngập úng do mưa lớn kết hợp triều cường, đồng thời hỗ trợ bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn và vùng đất ngập nước ven biển. Trong cách tiếp cận này, nước được quản lý như một nguồn tài nguyên trong cấu trúc đô thị, thay vì chỉ là yếu tố cần thoát bỏ.

Một đặc điểm quan trọng của đô thị bọt biển là khả năng triển khai linh hoạt theo nhiều thang không gian. Ở quy mô cục bộ, các giải pháp như mái xanh, vườn mưa và bề mặt thấm nước giúp tăng khả năng thấm và trữ nước. Ở quy mô khu vực và toàn đô thị, hệ thống hồ điều hòa, công viên sinh thái và hành lang xanh – nước đóng vai trò điều tiết dòng chảy và kết nối với hệ thống thủy văn tự nhiên, tạo nên một cấu trúc hạ tầng có khả năng phục hồi cao.

Trong quy hoạch đô thị thích ứng BĐKH, đô thị bọt biển không được xem là một mô hình độc lập mà là một cấu phần của tiếp cận quy hoạch tích hợp. Việc áp dụng mô hình này đòi hỏi sự phối hợp giữa quy hoạch không gian, thiết kế hạ tầng và quản lý đô thị, nhằm bảo đảm các giải pháp xanh – nước được duy trì hiệu quả trong suốt quá trình phát triển và vận hành đô thị, đồng thời tạo nền tảng cho các mô hình đô thị ven biển bền vững.

3.3. Quản lý đô thị Cam Ranh trong phát triển du lịch – logistics

Quản lý đô thị biển tại Cam Ranh là nội dung trọng tâm của quy hoạch thích ứng khí hậu, do đô thị này đồng thời đảm nhiệm các chức năng du lịch biển, logistics – cảng biển, hàng không và an ninh – quốc phòng. Không gian phát triển tập trung dọc vịnh kín, các cửa ngõ cảng – sân bay và các dải ven bờ, trong khi chịu tác động trực tiếp của mưa cực đoan, ngập đô thị, xâm nhập mặn và suy thoái hệ sinh thái. Vì vậy, quản lý đô thị biển Cam Ranh cần một khung tích hợp giữa phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường và thích ứng BĐKH, thay vì xử lý theo từng ngành tách rời.[8]

Với logistics, nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy hiệu quả cảng và chuỗi cung ứng phụ thuộc chặt vào chất lượng môi trường nước, kiểm soát ô nhiễm và độ ổn định không gian ven bờ. Xu hướng quản trị chuyển từ “Cảng – Đô thị tách rời” sang “Đô thị cảng tích hợp”, coi quy hoạch không gian, quản lý nước và bảo vệ hệ sinh thái là điều kiện nền cho logistics bền vững (OECD, UN-Habitat). Ở Cam Ranh, nơi các hạ tầng chiến lược cùng tồn tại, tiếp cận này giúp giảm xung đột chức năng, tăng an toàn vận hành và bảo đảm năng lực khai thác dài hạn.

Tàu Norwegian Spirit và Seven Seas Explorer cùng cập cảng Quốc tế Cam Ranh ngày 14-2-2025. Nguồn: Báo Khánh Hòa online

Với du lịch, quản lý đô thị biển không chỉ kiểm soát xây dựng ven bờ mà còn phải bảo vệ cảnh quan vịnh, duy trì chất lượng nước, và bảo đảm tiếp cận công cộng tới không gian ven biển. Các khung du lịch bền vững nhấn mạnh mối liên hệ giữa quy hoạch ven biển – Quản lý tài nguyên nước – Bảo vệ hệ sinh thái như nền tảng cho sức cạnh tranh dài hạn của điểm đến (UNWTO). Do đó, Cam Ranh cần quản trị theo ngưỡng chịu tải sinh thái của vịnh, bãi biển và vùng cửa sông.

Quản lý đô thị biển Cam Ranh cũng gắn chặt với quản lý nước đô thị; yêu cầu kiểm soát ô nhiễm biển từ nguồn trên đất liền, gồm nước mưa và nước thải, đã được nhấn mạnh trong các khung quốc tế (UNCLOS, 1982; ICZM). Trên cơ sở đó, hạ tầng xanh – nước và đô thị bọt biển là công cụ phù hợp để kết nối mục tiêu giảm ngập, phục hồi sinh thái ven vịnh và nâng chất lượng không gian công cộng – đồng thời là gợi ý tham chiếu cho các đô thị duyên hải Nam Trung Bộ phát triển du lịch – logistics dưới áp lực khí hậu.

3.4. Đô thị lưỡng dụng trong quy hoạch đô thị ven biển: Tiếp cận quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Cam Ranh

Đô thị lưỡng dụng (dual-use city) là mô hình phát triển trong đó không gian và hạ tầng đô thị đồng thời phục vụ các mục tiêu kinh tế – xã hội và an ninh – quốc phòng. Khác với cách tiếp cận tách biệt dân sự, quân sự truyền thống, đô thị lưỡng dụng hướng tới khai thác linh hoạt, an toàn các hạ tầng chiến lược như cảng biển, sân bay, giao thông và năng lượng cho nhiều trạng thái sử dụng khác nhau.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu, mô hình này được nhiều quốc gia xem là giải pháp nâng cao khả năng chống chịu và phục hồi của đô thị ven biển trước các rủi ro tổng hợp, bao gồm thiên tai, gián đoạn chuỗi cung ứng và các thách thức an ninh phi truyền thống. Hạ tầng lưỡng dụng không chỉ thúc đẩy kinh tế biển, logistics và thương mại quốc tế, mà còn tạo nền tảng cho cứu trợ nhân đạo và ứng phó thảm họa, qua đó gia tăng tính linh hoạt của hệ thống đô thị.

Quy hoạch cảng lưỡng dụng Toulon – Pháp. Nguồn https://www.richezassocies.com/en/projets/l-avenir-de-la-rade-de-toulon

Về phương diện pháp lý quốc tế, phát triển đô thị lưỡng dụng tại khu vực ven biển phải tuân thủ đồng thời các nguyên tắc về chủ quyền, an ninh và bảo vệ môi trường biển. Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS, 1982) và các khung quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICZM) đều nhấn mạnh yêu cầu quản lý không gian biển theo hướng tích hợp, bảo đảm an toàn hàng hải và sử dụng bền vững tài nguyên, đồng thời kiểm soát tác động môi trường từ các hoạt động đô thị và kinh tế ven bờ [10].

Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều đô thị ven biển đã triển khai thành công mô hình lưỡng dụng thông qua tích hợp quân cảng với cảng thương mại, logistics và dịch vụ đô thị dưới sự kiểm soát chặt chẽ về quy hoạch và quản lý. Trường hợp Toulon (Pháp) là ví dụ điển hình, nơi quân cảng Hải quân Địa Trung Hải đồng tồn tại với cảng dân sự và không gian đô thị ven vịnh, tạo nên cấu trúc đô thị cảng tích hợp, vừa bảo đảm quốc phòng, vừa thúc đẩy kinh tế và tái thiết không gian ven biển.

Trong quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu, đô thị lưỡng dụng có mối liên hệ chặt chẽ với các tiếp cận hạ tầng xanh – nước và đô thị bọt biển. Các hạ tầng chiến lược ven biển thường nằm ở khu vực rủi ro cao về ngập lụt và nước biển dâng, do đó việc tích hợp giải pháp điều tiết nước, không gian đệm sinh thái và phục hồi hệ sinh thái ven bờ là điều kiện cần để bảo đảm an toàn vận hành dài hạn.

Đối với Cam Ranh, tiếp cận đô thị lưỡng dụng có ý nghĩa đặc biệt do sự hiện diện đồng thời của vịnh kín, cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế và các hạ tầng quốc phòng trọng yếu. Việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế cho phép định hình mô hình phát triển đô thị ven biển vừa khai thác hiệu quả logistics và du lịch, vừa bảo đảm an ninh – quốc phòng và thích ứng với BĐKH.

4. Bài học kinh nghiệm quốc tế từ các đô thị ven biển lưỡng dụng

4.1. Toulon (Pháp): Đô thị cảng lưỡng dụng trong cấu trúc đô thị Địa Trung Hải

Toulon là một trong những đô thị ven biển tiêu biểu của Pháp, hình thành và phát triển gắn chặt với vai trò quân cảng chiến lược từ thế kỷ 17. Nhờ vị trí địa lý đặc biệt tại vịnh Toulon, một vịnh kín, được che chắn tự nhiên, đô thị này sớm trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Pháp ở Địa Trung Hải, đồng thời phát triển các chức năng cảng dân sự, công nghiệp đóng tàu và dịch vụ hàng hải. Tính lưỡng dụng vì vậy trở thành đặc trưng cốt lõi trong cấu trúc đô thị Toulon.

Siêu cảng Tuas – Singapore.
Nguồn: MPA [12]
Trong giai đoạn hậu công nghiệp, Toulon đối mặt với suy giảm kinh tế cảng truyền thống và áp lực tái cấu trúc không gian ven vịnh. Quy hoạch đô thị hiện nay của Toulon tập trung vào tái thiết mối quan hệ giữa quân cảng, cảng dân sự, đô thị, thông qua kiểm soát chặt chẽ phát triển xây dựng ven bờ, phục hồi cảnh quan vịnh và mở rộng không gian công cộng ven biển. Các dự án tái cấu trúc cảng cũ, công viên ven vịnh và hành lang “xanh – nước” được triển khai nhằm cải thiện môi trường đô thị, đồng thời không làm ảnh hưởng đến chức năng quốc phòng.

Phối cảnh Khu ĐTM CaraWorld – Cam Ranh. Nguồn: Báo Khánh Hoà online

Định hướng phát triển của Toulon cho thấy mô hình đô thị ven biển lưỡng dụng chỉ có thể bền vững khi quy hoạch không gian, hạ tầng nước và quản trị đô thị được tích hợp trong một khung thống nhất. Bài học quan trọng rút ra cho Cam Ranh là: Sự đồng tồn tại giữa quốc phòng, logistics và đô thị không gian mở đòi hỏi kiểm soát phát triển ven biển nghiêm ngặt, ưu tiên phục hồi sinh thái và coi cảnh quan vịnh là tài sản chiến lược của đô thị.

4.2. Singapore: Đô thị cảng, logistics tích hợp

Singapore là một đô thị – quốc gia ven biển có lịch sử phát triển gắn liền với vai trò cảng trung chuyển quốc tế và trung tâm logistics hàng đầu thế giới. Với vị trí chiến lược trên tuyến hàng hải quốc tế nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Singapore từ sớm đã xây dựng mô hình đô thị cảng tích hợp, trong đó cảng biển, sân bay, khu logistics và không gian đô thị được tổ chức trong một cấu trúc chặt chẽ, hiệu quả và có tính điều phối cao [12].

Một thách thức lớn của Singapore là hạn chế về diện tích đất và rủi ro khí hậu như mưa lớn, ngập đô thị và nước biển dâng. Để ứng phó, quy hoạch đô thị Singapore đặt quản lý nước và hạ tầng “xanh – nước” vào vị trí trung tâm. Các chiến lược như “Active, Beautiful, Clean Waters”, đô thị bọt biển, hồ điều hòa đa chức năng và kiểm soát nghiêm ngặt phát triển ven bờ đã giúp Singapore kết nối hiệu quả giữa chống ngập, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế cảng – logistics.

Trong định hướng dài hạn, Singapore phát triển các siêu cảng như Tuas Port theo mô hình cảng xanh, logistics thông minh và quản trị số hóa toàn diện, coi khả năng thích ứng khí hậu là điều kiện tiên quyết cho năng lực cạnh tranh đô thị. Bài học then chốt rút ra cho Cam Ranh là: Đô thị ven biển muốn phát triển logistics quy mô lớn cần coi quản lý nước đô thị, hạ tầng “xanh – nước” và điều phối thể chế là nền tảng, chứ không chỉ là giải pháp kỹ thuật bổ trợ.

5. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu cho thấy việc tích hợp mô hình đô thị bọt biển với quản lý đô thị biển và tiếp cận đô thị lưỡng dụng là một hướng đi phù hợp đối với các đô thị ven biển Việt Nam trong đó có đô thị Cam Ranh trước những thách thức của BĐKH. Đối với Cam Ranh, cần:

  1. Lồng ghép hạ tầng xanh – nước vào cấu trúc đô thị ven vịnh;
  2. Tăng cường quản lý tổng hợp nước đô thị và hệ sinh thái ven bờ;
  3. Phát triển logistics và du lịch biển trên nền tảng quản trị đô thị thích ứng;
  4. Hoàn thiện khung thể chế cho phát triển đô thị lưỡng dụng gắn với an ninh – quốc phòng.

Từ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, Cam Ranh cần được định hướng phát triển như một đô thị biển thích ứng BĐKH, trong đó đô thị bọt biển đóng vai trò hạ tầng nền, còn logistics, du lịch và quốc phòng là các động lực phát triển chính.

Định hướng này đòi hỏi chuyển từ mô hình phát triển mở rộng ven vịnh sang mô hình đô thị ven biển kiểm soát, ưu tiên phục hồi hệ sinh thái, không gian đệm xanh – nước và không gian công cộng ven bờ. Đồng thời, các hạ tầng chiến lược như cảng biển, sân bay và khu logistics cần được tổ chức theo hướng lưỡng dụng, linh hoạt và an toàn trước các rủi ro khí hậu. Quy hoạch đô thị nén ở trung tâm theo TOD, xốp ở khu vực vùng ven và nước ở khu vực có nguy cơ ngập nước để điều hoà vi khí hậu cho đô thị.

Cam Ranh vì vậy không chỉ là đô thị cảng quân sự, mà còn là một đô thị biển có khả năng thích ứng và phục hồi cao, đóng vai trò trung tâm logistics – du lịch trong cấu trúc vùng Nam Trung Bộ và tỉnh Khánh Hoà trong kỷ nguyên mới.

KTS Cao Thành Nghiệp, KTS Phạm Nhật Tú,
Viện Đào tạo sau ĐH, Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM
TS.KTS Phạm Ngọc Tuấn
Trưởng Khoa Quy hoạch. Trường ĐH Kiến Trúc TP.HCM
GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
Chủ tịch Hội đồng Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2026)


Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo quốc gia, 2025: Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050. https://unfccc.int/sites/default/files/resource/NAP_Vietnam_2025_VN.pdf
2. Huỳnh Trọng Nhân, Nguyễn Hồng Tiến, (02/2022): Giải pháp thành phố bọt biển trong vấn đề thoát nước mặt đô thị Việt Nam hướng đến phát triển bền vững – Những thách thức và định hướng – Tạp chí Xây dựng;
3. UBND tỉnh Khánh Hòa, 2024: Quyết định số 1899/QĐ-UBND ngày 26/05/2024 của UBND tỉnh Khánh Hòa về phê duyệt đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung TP. Cam Ranh đến năm 2045;
4. Do Van, 2025: Experts discuss climate adaptation and sustainable urban development in HCMC – Saigon Giai Phong new online;
5. Ke Xu, Xiangyu Yu, 2025: Sponge City+ Toolkit: Parametric Approaches for Sustainable Water Management and Urban Design, MPDI, https://www.mdpi.com/2071-1050/17/21/9485#:~:text=Article ;
6. Nguyễn Hữu Phú, 2025: Đề xuất bộ tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá quản lý thoát nước mặt theo mô hình Thành phố bọt biển – Tạp chí Xây dựng;
7. Nguyễn Vinh Quang, 2024: Hạ tầng xanh đô thị nền tảng phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam;
8. UNDP, 2025: Tài liệu đào tạo về quy hoạch không gian biển và quản lý tổng hợp vùng bờ việt Nam;
9. Bùi Thị Ngọc Lan, Nguyễn Công Gian, 2025: Nghiên cứu ứng dụng GIS trong quản lý đô thị ven biển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam – Tạp chí Vật liệu và Xây dựng;
10. Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS, 1982), Wikipedia;
11. Francesca ARTIOLI, 2013: The Navy and the city: conflict, cooperation and political competition in the urban governance of Toulon, Taylos and Francis online;
12. MPA Singapore, 2024: Leading maritime singapore towards a greener and innovative future.