Sự sáng tạo nằm trong bản chất của cuộc sống. Với người Việt, câu ngạn ngữ “cái khó ló cái khôn” chính là thể hiện một triết lý về sự sáng tạo – Đó là phải luôn suy nghĩ tìm tòi các giải pháp và sẽ có giải pháp ngay cả trong sự khó khăn nhất.
Với làng Việt truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng, chính sự sáng tạo của nhiều thế hệ làm lụng chịu khó, ứng phó, thích nghi với những khó khăn của vùng đất chật, người đông, luôn rình rập những rủi ro của thiên tai, giặc giã đã tạo nên những giá trị quý giá của di sản làng Việt. Đó là việc tạo nên một môi trường sống tích tụ rất nhiều kinh nghiệm ứng xử với tự nhiên, với xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng để có thể tồn tại lâu bền (1).
Thủ đô Hà Nội nằm trong trung tâm của vùng ĐBSH, cái nôi của văn hóa Việt, có một lợi thế là có nhiều các làng xã truyền thống còn tồn tại xung quanh, tạo nên bản sắc của Hà Nội đậm chất văn hóa. Nhưng chính sự phát triển của Thủ đô gần đây cũng đặt các làng truyền thống vào một thách thức mới. Những tác động của làn sóng lối sống mới, đô thị hóa, công nghiệp hóa, cách mạng 4.0, với sự mở rộng của các khu đô thị mới, khu công nghiệp… đang có chiều hướng cuốn đi những kinh nghiệm, những giá trị văn hóa đọng lại trong các làng xã truyền thống. Giữ những gì? Bỏ đi những gì? Chuyển đổi thế nào? Xây dựng mô hình phát triển gì phù hợp? Những câu hỏi trên một lần nữa lại đặt các làng truyền thống vào những thách thức của một giai đoạn đòi hỏi sự sáng tạo, thích nghi mới. (6).
Nhìn từ tiềm năng di sản văn hóa và phát triển du lịch (2)
Nhiều làng cổ ở Hà Nội chứa đựng những di sản văn hóa của hàng mấy trăm năm phát triển, đó cũng là những tiềm năng để phát triển du lịch theo mô hình du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng. Các giá trị văn hóa đậm bản sắc của làng ở Hà Nội nằm ở hai nhóm: Nhóm làng nghề như Bát Tràng (làm gốm), Phú Vinh (mây tre đan), Bối Khê (Sơn mài), Quất Động (thêu ren)…; và các làng có nhiều di sản, nhiều công trình mang dấu ấn lịch sử như các làng cổ ở Đường Lâm (Sơn Tây), làng Cựu (Phú Xuyên), Gia Phúc (Thường Tín), Phù Đổng ( Mê Linh), và còn rất nhiều làng truyền thống đẹp, nhiều công trình kiến trúc có giá trị còn ít người biết đến ở các làng như Hương Ngải, làng Cần Kiệm (Thạch Thất) đang cần được tiếp tục nghiên cứu khám phá. Những giá trị này tóm tắt trong hai nhóm giá trị vật thể và phi vật thể dưới đây.
Giá trị di sản văn hóa vật thể
Tuy các công trình kiến trúc trong làng truyền thống không to lớn, kỳ vĩ như các đền đài ở cung điện Huế, tháp Chăm… nhưng những công trình đó lại ẩn chứa trong một ý nghĩa có giá trị lớn khác – Đó là giá trị văn hóa của kinh nghiệm xây dựng môi trường, không gian cư trú bền vững hàng trăm, hàng ngàn năm của người Việt. Một số giá trị đã được xác định là:
- Nhiều làng còn cấu trúc cơ bản đã hình thành hàng trăm năm với đầy đủ các thành tố của làng truyền thống như cổng làng, lũy tre, nhà truyền thống, đường làng phân nhánh ngõ xóm…;
- Nhiều làng có các công trình kiến trúc đình, chùa, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, có giá trị cao về kiến trúc, nghệ thuật và nhiều công trình khác tuy nhỏ nhưng cũng chứa đựng các dấu ấn lịch sử xây dựng làng rõ nét như cổng làng, ao làng, cầu đá, giếng…;
- Nhiều làng còn nhà cổ, kiểu nhà gỗ truyền thống, nhà mang phong cách kiến trúc Pháp thời thuộc địa. Ngoài giá trị kiến trúc nhà ở truyền thống còn có khuôn viên nhà ở với sân phơi, vườn rau, ao cá, vườn trồng cây ăn quả, cây thuốc nam, các loại dàn cây leo, hoa, rau thơm… tạo nên hệ sinh thái hộ gia đình V-A-C rất đặc biệt;
- Cảnh quan của làng cũng nhiều nơi còn gìn giữ được bản sắc như các tổ hợp cổng
- ao làng – cây đa; tổ hợp đường làng với rào cây xanh, bờ ao, đường ngõ lát gạch, cây xanh hai bên, lấp ló mái nhà ngói nâu, bóng cây cau vươn lên trời; tổ hợp đình làng
- Ao – cây cổ thụ. Không gian đường làng lúc yên tĩnh, lúc trải rơm vàng sôi động ngày mùa, đường làng cũng là không gian sản xuất, dễ gợi về những hoài niệm, đậm bản sắc cảnh quan nhân văn, cảnh quan sinh thái;
- Bên ngoài làng là đồng ruộng, ao sen, bờ đê, con sông… nhiều cảnh quan có thể khôi phục để tạo dựng lại bản sắc của đồng ruộng, nhiều nơi còn cánh cò bay, còn tôm cá trên đồng, thể hiện lối sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước rất coi trọng sinh thái, nương tựa vào tự nhiên.
Giá trị văn hóa phi vật thể
Văn hóa phi vật thể trong làng xã truyền thống có giá trị không kém nếu không nói là có sức nặng hơn cả những giá trị vật thể.
Văn hóa nghề thủ công, nghề nông truyền thống: Các nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh, nón lá làng Chuông mang lại những giá trị văn hóa như thể hiện kinh nghiệm sản xuất, tính sáng tạo, khéo léo của tay nghề người thợ…vừa mang lại giá trị kinh tế những cũng là giá trị văn hóa của nghề. Nhiều làng nghề quanh Hà Nội, các làng hoa, cây xanh, đặc sản nông nghiệp như làng hoa Tây Tựu, bưởi Diễn. Những kinh nghiệm trong trồng trọt, dự báo thời tiết liên quan đến mùa màng, phương thức đánh bắt tôm cá đều chứa đựng những kinh nghiệm tích tụ từ nhiều đời;
Giá trị văn hóa phi vật thể khác: Làng xã truyền thống có các lễ hội, các phong tục, tập quán tiêu biểu của vùng ĐBSH và của riêng làng. Có ẩm thực, sản vật đặc thù; có nghệ thuật biểu diễn như múa rối nước, hát chèo, quan họ; có ca dao tục ngữ, sắc phong, văn bản, hương ước, trò chơi dân gian; có các danh nhân, các nhân vật nổi tiếng, khoa bảng còn được kể, lưu giữ qua các hiện vật liên quan, trong nhà thờ, nhà lưu niệm; có truyền thuyết, tâm linh, phong thủy… về sự phát triển của làng.
Cần sự sáng tạo để chuyển hóa tiềm năng di sản thành sản phẩm du lịch (3)
Tuy nhiên, không phải cứ có giá trị di sản văn hóa là có thể phát triển du lịch hay giá trị di sản tương đương với giá trị phát triển du lịch. Việc chuyển hóa tiềm năng giá trị văn hóa của di sản làng thành sản phẩm du lịch phục vụ các nhu cầu thăm quan, trải nghiệm, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, học tập, khảo cứu…lại đòi hỏi một quá trình sáng tạo nữa.
Trên góc độ phát triển du lịch, các di sản đó cần một số điều kiện:
- Các di sản đủ để có thể phát triển để các sản phẩm du lịch một cách đa dạng, đồng bộ, phong phú, phải có cả cả di sản vật thể và phi vật thể. Làng còn ít di sản khó phát triển hoạt động du lịch;
- Các di sản văn hóa phải có tính đặc sắc, tạo nên sản phẩm du lịch có tính đặc trưng, riêng biệt, hấp dẫn. Sự đặc sắc, đại diện cho cả một vùng (với khách nội địa) hoặc tầm quốc gia (so với khách quốc tế);
- Các di sản phải dễ nhận diện, tiếp cận. Di sản phi vật thể phải được chuyển hóa thành các hình thức giới thiệu, hình ảnh dễ cảm thụ. Ví dụ văn hóa ẩm thực, di sản kiến trúc, cảnh quan là dễ nhận diện, cảm thụ hơn so với phong tục, tập quán;
- Đặc điểm của di sản làng là dạng di sản sống, nằm trong cộng đồng. Môi trường xã hội phải tạo được sự thống nhất, sự đồng thuận, sự tham gia của cộng đồng làm du lịch;
- Môi trường không gian phải sạch sẽ, có hạ tầng phù hợp để phát triển du lịch;
- Điểm thăm quan làng phải nằm trên tuyến liên kết thuận lợi với các trung tâm du lịch lớn, kết nối tua, tuyến. Bởi các làng là điểm du lịch có quy mô nhỏ, rất khó độc lập để phát triển như một trung tâm du lịch ngay từ đầu;
Với những điều kiện đó, phát triển du lịch trong các làng truyền thống còn nhiều thách thức, nằm ở hai khía cạnh. Một là phải chuyển hóa các tiềm năng di sản đó thành sản phẩm du lịch, hấp dẫn đa dạng du khách, tạo nên nguồn thu; hai là phải bảo tồn được các giá trị văn hóa hoặc khôi phục các giá trị đã mất để tạo lập thêm nguồn cho phát triển sản phẩm du lịch.
Hà Nội có hàng trăm làng truyền thống và hàng chục làng có thể phát triển mô hình làng nghề – du lịch hay làng di sản – du lịch. Nếu chúng ta nhận thức rõ và quyết tâm xây dựng thành công các làng du lịch thì đây sẽ là một điểm sáng cho sự phát triển của thành phố Hà Nội.
PGS.TS. Phạm Hùng Cường
KTS Dương Quỳnh Nga
Đại học Xây dựng
© Tạp chí kiến trúc
Trang thông tin này có sự phối hợp của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung Ương




















