Bình Định, phát triển cộng đồng dân cư ven đầm Thị Nại

Tóm tắt

Bài viết giới thiệu một mô hình đào tạo kiến trúc cảnh quan dựa trên thực tiễn, gắn kết giữa khảo sát không gian dân cư ven đầm Thị Nại (Bình Định) với mục tiêu phát triển thích ứng, bảo tồn di sản tự nhiên – văn hoá bản địa và hướng đến trung hoà carbon. Trong khuôn khổ một hội thảo – thực địa kéo dài 6 ngày, sinh viên ngành Kiến trúc và Kiến trúc cảnh quan – Trường ĐH- Bách khoa, ĐHQG – HCM đã khảo sát 5 dải quanh đầm, tập trung vào các cộng đồng dân cư nhạy cảm với sinh thái tự nhiên. Kết quả khảo sát thực địa được chuyển hóa thành các đề xuất chiến lược không gian mật độ thấp, giữ vùng đệm sinh thái, tích hợp sinh kế cộng đồng và hạ tầng mềm thích ứng. Mô hình giảng dạy này khẳng định giá trị của việc học từ bối cảnh, thiết kế từ thực tiễn – Như một hướng đi hiệu quả trong đào tạo kiến trúc tại các vùng chịu áp lực biến đổi khí hậu.

Từ khóa: Đào tạo kiến trúc, hội thảo – thực địa, đầm Thị Nại, phát triển thích ứng, trung hoà carbon

Giới thiệu chung

Đầm Thị Nại, vùng lõi sinh thái quan trọng của tỉnh Bình Định, một trung tâm phát triển mới tại duyên hải Nam Trung Bộ, đang chịu áp lực lớn từ quá trình đô thị hóa và mở rộng hạ tầng. Với diện tích hơn 5.000 ha, khu vực này đóng vai trò điều tiết thủy văn, nuôi trồng thủy sản và bảo tồn sinh kế bản địa, nhưng đang thiếu quy hoạch đồng bộ và chưa tích hợp yếu tố thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Nhằm nhận diện hiện trạng và đề xuất chiến lược tổ chức không gian dân cư thích ứng, Trường Đại học Bách khoa – ĐHQG-HCM đã tổ chức hội thảo – thực địa 6 ngày (2/2025) với sự tham gia của sinh viên chuyên ngành Kiến trúc và Kiến trúc cảnh quan, cùng các chuyên gia quy hoạch và quản lý địa phương. Bài viết trình bày kết quả bước đầu từ chương trình này, tập trung vào phân tích hiện trạng, đề xuất quy hoạch thích ứng và đánh giá hiệu quả mô hình giảng dạy dựa trên thực tiễn..

Mục tiêu, mô hình và tiến trình thực hiện hội thảo – thực địa

Mục tiêu

Hội thảo – thực địa tại đầm Thị Nại được tổ chức với hai mục tiêu chính: (1) Nâng cao năng lực quan sát, phân tích không gian và phản biện hiện trạng cho sinh viên kiến trúc – cảnh quan thông qua học tập trải nghiệm, phát triển tư duy thiết kế gắn với địa phương [1] [2][3][4]; (2) Nhận diện mô hình tổ chức không gian dân cư thích ứng với điều kiện tự nhiên, sinh kế và KĐKH, hướng đến trung hòa carbon và bảo tồn di sản [5][6].. Đây cũng là dịp để sinh viên giao lưu chuyên môn với chuyên gia và cơ quan quản lý, rèn luyện kỹ năng trình bày và phản biện đa chiều.

 Mô hình thực hiện

Trong bối cảnh đào tạo kiến trúc tại các vùng sinh thái đặc thù, hội thảo – thực địa là phần thiết yếu, không chỉ là hoạt động ngoại khóa. Theo triết lý “Học từ bối cảnh – Thiết kế từ trải nghiệm” chương trình giúp sinh viên rèn luyện năng lực phân tích mâu thuẫn giữa phát triển và bảo tồn. Phương pháp dựa trên ba trụ cột: Khảo sát theo dải, phân tích theo ô, và phản biện nhóm, tạo nền tảng cho mô hình giảng dạy tích hợp học thuật – thực hành – cộng đồng.

Tiến trình và cách thức thực hiện

Chương trình hội thảo – thực địa gồm ba giai đoạn chính: (1) Hội thảo chuyên đề từ cơ quan địa phương; (2) Khảo sát thực địa; (3) Báo cáo kết quả với chính quyền và chuyên gia. Giảng viên đóng vai trò điều phối, hỗ trợ sinh viên phát triển quy trình phân tích độc lập, kết hợp quan sát hiện trường và phản biện nhóm. Phương pháp hướng dẫn linh hoạt được triển khai theo ba cấp độ: Gợi mở tại chỗ, phản biện hằng ngày và tổng kết mở rộng. Cách tiếp cận này giúp sinh viên rèn luyện năng lực tư duy phản biện – thiết kế thích ứng, phát triển giải pháp từ chính điều kiện cụ thể của địa phương [2].

Cơ sở và phương pháp khảo sát

Cơ sở

Cơ sở xây dựng mô hình được xác lập từ ba nhóm nền tảng:

(1) Cơ sở pháp lý: Gồm Luật Quy hoạch (2017) [7], Luật Quy hoạch đô thị – nông thôn (2024), và các quyết định quy hoạch – phát triển đô thị tỉnh Bình Định đến 2050;

(2) Cơ sở lý thuyết: Dựa trên các học thuyết thiết kế hài hòa với tự nhiên (Design with Nature) [1], tiêu chuẩn thiết kế đô thị (Planning and Urban Design Standards) [2], và quy hoạch chuyển tiếp theo dải (Transect Planning) [8];

(3) Cơ sở thực tiễn: Học hỏi từ các điển hình như Songzhuang (Trung Quốc), EVA Lanxmeer (Hà Lan), và Tô Châu Chấn Sơn (Trung Quốc) – Nơi áp dụng giải pháp tích hợp giữa đô thị hóa bền vững, nông nghiệp sinh thái và phục hồi hệ sinh thái đô thị.

Phương pháp

Các phương pháp chính mà sinh viên được gợi ý để thực hiện việc khảo sát gồm: Thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, điền dã, phỏng vấn, so sánh, loại trừ …

Hệ thống hóa tài liệu

Trước khi khảo sát thực địa, sinh viên thu thập và hệ thống hóa tài liệu từ nhiều nguồn: Ảnh vệ tinh (Google Earth, Landsat, Earth Engines) [9], bản đồ địa hình và hiện trạng sử dụng đất từ Sở Xây dựng và Sở TN&MT tỉnh Bình Định, dữ liệu khí hậu – thủy văn (FloodMap, Meteoblue…), cũng như tài liệu vẽ tay, ảnh chụp và flycam tại hiện trường. Ngoài ra, sinh viên cũng tiếp cận các tài liệu quốc tế và trong nước liên quan đến COP26–29, Net Zero 2050 và các mô hình quy hoạch carbon thấp tại Việt Nam.

 Lập bản đồ và công cụ kỹ thuật

Quy trình lập bản đồ hiện trạng gồm ba bước: (1) Xây dựng bản đồ nền từ Google Earth và dữ liệu địa phương; (2) Tách lớp thông tin theo các yếu tố vật lý, sinh học, xã hội và xây dựng nhằm phục vụ mục tiêu phân tích chiến lược; (3) Vẽ lại bằng AutoCAD, hiệu chỉnh trên Photoshop và hoàn thiện với đầy đủ chú giải, màu sắc, tỷ lệ, hướng Bắc và nguồn dữ liệu. Bản đồ không chỉ thể hiện hiện trạng mà còn làm rõ mâu thuẫn, cơ hội và yếu tố quyết định trong tổ chức không gian – cơ sở cho thiết kế phản biện [1], [10].

Các vị trí khảo sát

Kết quả khảo sát và định hướng chiến lược

Kết quả khảo sát được tổng hợp, phân tích và trình bày theo 2 cấp độ:

i. Cấp hệ thống dân cư ven đầm, cho thấy CTKG và các xung đột phổ biến;

ii. Cấp dải và ô, làm rõ mức tương thích giữa dân cư – sinh thái – sinh kế.

Xác định địa điểm

Các địa điểm khảo sát được chọn nhằm phản ánh tổng thể các hình thái định cư ven đầm và mối tương tác với tự nhiên, sinh kế và cấu trúc không gian. Năm dạng điển hình gồm: dân cư ven biển truyền thống, đô thị hóa lan tỏa, cụm dân cư xen nông nghiệp – rừng ngập, vùng cửa sông bán ngập, và khu ven biển có tiềm năng du lịch.

Năm dải khảo sát (2,5kmx500m), mỗi dải có 2 ô (500×500m) được chọn đại diện cho các kiểu định cư ven đầm Thị Nại (Hình 4-1), từ dân cư truyền thống ven cảng, vùng đô thị hóa nhanh, đệm sinh thái – vùng trũng, đến hành lang cửa sông và khu ven biển du lịch. Phân vùng theo lát cắt địa hình – sinh thái giúp so sánh các kiểu CTKG trong điều kiện tự nhiên khác nhau, hỗ trợ sinh viên nhận diện mô hình bền vững và rèn luyện tư duy phản ứng linh hoạt với bối cảnh.

Thực trạng và chiến lược phát triển không gian dân cư ven đầm

Thực trạng không gian định cư ven đầm

Môi trường vật lý và sinh học

Các điểm dân cư ven đầm Thị Nại (Tuy Phước, Bình Định) thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ 20 – 34°C và hai hướng gió chủ đạo: Đông Bắc và Tây Nam. Khu vực này sở hữu hệ sinh thái đất ngập mặn đa tầng, gồm hơn 25 loài thực vật đặc trưng, 140 loài thủy sinh và trên 30 loài chim nước quý hiếm. Đây là vùng đệm sinh học có giá trị cần được bảo tồn trong quy hoạch thích ứng.

Môi trường xã hội và xây dựng

Môi trường xã hội ven đầm Thị Nại phản ánh mối liên kết giữa cộng đồng dân cư và hệ sinh thái đặc thù. Dân cư truyền thống sinh sống ven đầm, gắn với nông nghiệp và thủy sản, phân bố theo cụm nhỏ dọc giao thông chính. Cơ cấu sinh kế đang chuyển dịch sang thương mại – dịch vụ, kéo theo mật độ xây dựng tăng nhanh, đặc biệt dọc trục ĐT640. Tuy nhiên, hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế. Quá trình phát triển không gian cần được định hướng tích hợp với quy hoạch sinh thái để đảm bảo bền vững và thích ứng khí hậu.

Tổng kết: đa dạng định cư nhưng thiếu nhận dạng

Không gian định cư ven đầm Thị Nại đa dạng về loại hình, từ làng truyền thống đến nhà phố hiện đại, với mật độ xây dựng phân tầng theo vùng. Tuy nhiên, đô thị hóa diễn ra tự phát, thiếu bản sắc và chưa tích hợp yếu tố sinh thái. Cây xanh và không gian công cộng phân bố rời rạc, làm suy giảm khả năng kết nối cộng đồng và thích ứng khí hậu. Khu vực phát triển nhanh nhưng vẫn thiếu yếu tố nhận diện để hình thành một mô hình định cư bền vững, phù hợp điều kiện tự nhiên và văn hóa địa phương.

Chiến lược phát triển không gian dân cư ven đầm

Tổng hợp từ phân tích 5 dải khảo sát, các nhóm sinh viên đã đề xuất chiến lược phát triển không gian ven đầm Thị Nại, cùng các nguyên tắc tổ chức không gian dân cư thích ứng với đặc điểm sinh thái – thủy văn – khí hậu địa phương.

Các nguyên tắc này được xây dựng từ hiện trạng thực tế tại từng khu vực khảo sát, đồng thời áp dụng các lý thuyết về quy hoạch bền vững, thích ứng và tham khảo kinh nghiệm thiết kế bền vững đã được áp dụng tại các vùng ven nước hoặc vùng trũng trên thế giới và tại khu vực các nước Đông Nam Á [1] (Hình 4-2).

Chiến lược phát triển không gian ven đầm Thị Nại đến năm 2035, tầm nhìn 2050

Chiến lược chính gồm: 1) Giữ vùng đệm sinh thái liên tục- tập trung phục hồi kênh – rạch cũ; 2) Tổ chức cụm dân cư mật độ thấp – phân tán – gồm các cụm nhỏ 8–15 hộ; 3) Gắn kết không gian sống với sinh kế bản địa – phát triển nông nghiệp – thủy sản và du lịch cộng đồng quy mô nhỏ.

Thực trạng và chiến lược phát triển không gian đinh cư tại ô số 6 – dải số 3

Trong số 5 dải và 10 ô khảo sát, ô số 6 (dải 3) – giáp ranh khu dân cư Phước Sơn và đầm Thị Nại – và ô số 8 (dải 4) – vùng cửa sông Huỳnh Giản Bắc – được chọn điển hình để phân tích chuyên sâu. Cả hai đều thể hiện sự giao thoa rõ nét giữa cụm dân cư, hệ sinh thái đầm phá và đất nông nghiệp ven đô, phản ánh rõ các vấn đề và tiềm năng tổ chức không gian dân cư thích ứng vùng ven đầm.

Thực trạng không gian định cư ô số 6 – dải số 3

Môi trường tự nhiên

Môi trường vật lý. Dải số 3 thuộc hệ sinh thái đầm phá – rừng ngập – đồng trũng – sông ngòi đan xen tạo nên cấu trúc thủy hệ phức hợp. Không gian định cư phân bổ rời rạc, tồn tại mâu thuẫn rõ rệt giữa phát triển nhà ở và bảo toàn hệ sinh thái thủy văn, dẫn đến suy giảm khả năng tiêu thoát lũ, rủi ro cho các cộng đồng (Hình 4-3).

Biến đổi không gian mặt nước tại dải số 3 theo thời gian (1990-2013-2025)

Ô số 6 nằm tại vùng địa hình thấp ven đầm Thị Nại, chịu ảnh hưởng của dòng chảy thượng nguồn và thủy triều, từng ngập sâu vào năm 1990. Nhờ cải tạo hạ tầng, diện tích ngập giảm từ 60% xuống 10,5% sau 35 năm (giảm gần 82%), cho thấy vai trò then chốt của địa hình và hệ thống tiêu thoát trong quy hoạch bền vững vùng ven đầm.

Môi trường sinh học. Thực vật trong dải số 3 giảm ~30% từ 1990 – 2025, đổi chỗ cho đất xây dựng. Sự chuyển đổi đất làm mất sự đa dạng sinh học. (Hình 4-4).

Ô số 6 nằm tại vùng chuyển tiếp giữa khu dân cư, ruộng lúa và đầm, hệ sinh thái đặc trưng gồm lúa nước, đước, mắm. Từ 1990 – 2025, thực vật giảm 70% do đô thị hóa. Đước suy giảm đến 80%, do BĐKH và chuyển đổi sử dụng đất.

Biến đổi không gian thực vật dải số 3 theo thời gian (1990 – 2013 – 2025)

Môi trường xã hội

Từ 1990 – 2025, mật độ dân cư tăng 70%, tập trung dọc tỉnh lộ DT640 và ven đầm. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng từ 30% lên 60%, phản ánh sự chuyển dịch mạnh về sinh kế và không gian sống. Ô số 6 là điển hình cho mâu thuẫn giữa bảo tồn sinh thái và phát triển ven đầm.
Đất xây dựng tại ô số 6 tăng khoảng 80%, Nhà ở từ phân tán theo tuyến liên thôn, sau đó do sự xuất hiện của công trình dịch vụ đến xây dựng tập trung (Hình 4-5).

Biến đổi mật độ dân cư và cơ cấu ngành nghề tại dải số 3 theo thời gian (1990-2013-2025)
Hiện trạng sử dụng đất dải số 3 tại thời điểm nghiên cứu (2025)

Tổng kết

Không gian dải số 3 gồm ba vùng chính: phía Tây là khu dân cư phát triển dọc tuyến giao thông; trung tâm là vùng nông nghiệp thưa dân, đóng vai trò đệm sinh thái; phía Đông đan xen dân cư, du lịch và ngư nghiệp gắn với sinh thái ven đầm (Hình 4-6).

Chiến lược phát triển không gian ô số 6 – dải số 3

Phát triển thích ứng và đa chức năng

Phương án đề xuất chiến lược phát triển không gian dải số 3 (Hình 4-7), dựa trên dịnh hướng chung của chiến lược phát triển không gian định cư ven đầm. Từ chiến lược dải, không gian ô số 6 (Hình 4-8) được tiếp tục triển khai.

Các chiến lược gồm: 1) Cấu trúc phân tán – mật độ thấp – giữ đệm sinh thái – phân tán kiểm soát, với cụm nhỏ 8 – 15 hộ dọc trục kết nối, giữ lại vùng đệm sinh thái như mặt nước, rạch và cây bản địa, 2) Tích hợp đa chức năng sinh kế bản địa – tích hợp sinh kế, kết nối với nông nghiệp sinh thái quy mô nhỏ, du lịch cộng đồng, 3) Hệ thống hạ tầng mềm thích ứng – đường mòn sinh thái, cầu gỗ nhỏ, thu gom nước mưa và xử lý nước thải hộ gia đình, 4) Chiến lược trung hoà carbon – phân loại và lượng hoá hiệu quả của từng nhóm giải pháp giảm phát thải carbon theo mức độ sử dụng công nghệ.

Phân bổ chức năng sử dụng đất ô số 6 đến năm 2035, tầm nhìn 2050
Sơ đồ định hướng phát triển không gian
dải số 3 đến năm 2035, tầm nhìn 2050

Thực trạng và chiến lược phát triển không gian định cư tại dải số 4, ô số 8

Thực trạng không gian định cư tại dải số 4, ô số 8

Môi trường tự nhiên

Dải số 4 có địa hình bằng phẳng, thuận lợi tích tụ phù sa nhưng dễ lún sụt do nền đất yếu và độ dốc thấp. Khu vực chịu tác động của bão, ngập lụt, hạn hán và xâm nhập mặn, trong khi nguồn nước ô nhiễm và khả năng tự làm sạch hạn chế. Phục hồi cồn cát được xem là giải pháp tiềm năng để giảm phun muối và bảo vệ không gian ven đầm (Hình 4-9).

Biến đổi nhiệt độ bề mặt và hệ sinh thái dải số 4 theo thời gian (1990-2013-2025)
(Nguồn: Esri, Landsat images và Data Sio – 2025)

Ô số 8 có hệ sinh thái rừng ngập mặn và đầm lầy đa dạng sinh học, nhưng đang suy giảm do quá trình đô thị hóa.

Môi trường xã hội

Dải số 4 có một số công trình hành chính, tôn giáo và thiếu cơ sở y tế. Hạ tầng thoát nước chưa đồng bộ, giao thông qua tuyến DT639 gặp khó khăn do điều kiện tự nhiên. Khu vực còn lưu giữ công trình cổ, song chênh lệch giữa kiến trúc cũ và mới gây đứt gãy thị giác. Ô số 8 có một số công trình tôn giáo và mức độ gắn kết cộng đồng nhất định, nhưng thiếu không gian và hoạt động văn hóa chung. Kinh tế còn bấp bênh, phụ thuộc vào nông nghiệp và chịu tác động lớn từ BĐKH.

Tổng kết

Ô số 8 thuộc dải số 4 nằm tại giao điểm giữa khu dân cư, đầm phá và đất nông nghiệp, phản ánh sự tương tác phức tạp người – tự nhiên. Khu vực tổn thương cao do ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn và sụt lún, trong khi hệ sinh thái suy thoái và kinh tế phụ thuộc tài nguyên. Hạ tầng yếu và kiến trúc thiếu kết nối. Mâu thuẫn giữa đô thị hóa và bảo tồn sinh thái đòi hỏi giải pháp quy hoạch thích ứng và phục hồi sinh kế bền vững.

Chiến lược phát triển không gian ô số 8 – dải số 4

Phát triển thích ứng đa chức năng

Chiến lược ô số 8 – dải số 4 định hướng phát triển cho ba cộng đồng ven sông – đầm Thị Nại: Tùng Giản (dịch vụ – văn hóa), cửa sông (du lịch – nông nghiệp), và Đông Điền – Huỳnh Giản Bắc (cộng đồng nổi với giải pháp thiên nhiên). Áp dụng đô thị hóa ngược, san lấp – đào đắp để tạo không gian công cộng thích ứng, dựa trên khái niệm “Tính lơ lửng” – tổng hòa giữa “tính lỏng” và “tính thấm.” (Hình 4-10).

Chiến lược phát triển không gian dải số 4 đến năm 2035, tầm nhìn 2050

Chiến lược phát triển ô số 8 dựa trên phục hồi hệ sinh thái và thích ứng tự nhiên, với các giải pháp: rừng ngập mặn kết hợp nuôi tôm, “đảo nổi” du lịch – giáo dục, đê sinh thái đa lớp và màng lọc sinh thái theo trục thủy hệ. Phương án thể hiện tư duy tích hợp kiến trúc – cảnh quan – sinh thái trong điều kiện BĐKH (Hình 4-11).

Chiến lược phát triển không gian ô số 8 đến năm 2035, tầm nhìn đến 2050

Cấu trúc không gian và nguyên tắc đệm sinh thái

Chiến lược phát triển không gian tại ô số 8 – dải số 4 áp dụng cấu trúc phân tán, ưu tiên giữ và phát triển vùng đệm sinh thái nhằm tăng cường điều tiết tự nhiên. Nhà ở được lùi xa bờ đầm, nhường không gian cho đê sinh thái đa tầng thực vật và ao giữ nước kết nối hành lang sinh thái. Vùng đất ngập nước nhân tạo được thiết kế phục vụ giáo dục, cắm trại và làm vùng đệm thủy văn, góp phần giảm rủi ro ngập lụt và củng cố bản sắc cảnh quan bản địa.

Thành phố Quy Nhơn lộng lẫy nhìn từ trên cao (Nguồn: Internet)

Tích hợp đa chức năng sinh kế bản địa

Không gian dân cư được định hướng trở thành trung tâm sinh kế bền vững, vượt khỏi chức năng ở thuần túy. Giải pháp tích hợp gồm: mô hình nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn và nông nghiệp sinh thái; “đảo nổi” phục vụ du lịch – giáo dục và thương mại; cùng không gian công cộng ven đầm đa chức năng, góp phần duy trì sinh hoạt cộng đồng và bản sắc địa phương.

 Tính toán trung hoà carbon

Chiến lược trung hòa carbon tại ô số 8 – dải số 4 được triển khai dựa trên cân bằng hấp thụ – phát thải. Nguồn hấp thụ gồm rừng ngập mặn, cây xanh bản địa và cảnh quan tự nhiên; trong khi phát thải được giảm thông qua vật liệu sinh thái, hạ tầng mềm, thiết kế thụ động và mô hình du lịch – nông nghiệp ít phát thải. Tính toán sơ bộ carbon là cơ sở xác định ngưỡng phát triển và đề xuất cơ chế điều tiết phù hợp cho toàn khu vực.

Nhìn lại phương pháp đào tạo và vai trò của hội thảo – thực địa

Chương trình hội thảo – thực địa tại ven đầm Thị Nại là mô hình giảng dạy tích hợp thiết kế, phân tích không gian và tương tác cộng đồng. Qua khảo sát thực tế, sinh viên phát triển năng lực tư duy bối cảnh, phản biện hiện trạng và đề xuất giải pháp thích ứng. Kết quả từ ô số 6 và ô số 8 cho thấy hiệu quả rõ nét trong việc hình thành tư duy kiến trúc cảnh quan tại vùng nhạy cảm. Mô hình “thầy – trò đồng hành” giúp sinh viên hiểu sâu sắc vai trò xã hội của kiến trúc và mối liên hệ giữa bản vẽ và cộng đồng. Với cấu trúc đơn giản và chi phí thấp, phương pháp này có thể nhân rộng cho các môn đồ án tại các trường kiến trúc – quy hoạch.

Kết luận

Hội thảo – thực địa tại vùng ven đầm Thị Nại cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc tích hợp đào tạo, khảo sát chuyên môn và kết nối thực tiễn. Sinh viên không chỉ nhận diện các vấn đề tổ chức không gian dân cư ven đầm, mà còn phát triển tư duy đa chiều về sinh thái, xã hội và hạ tầng. Quan trọng hơn, mô hình được triển khai trong môi trường hợp tác giữa nhà trường, chuyên gia và chính quyền địa phương, giúp sinh viên củng cố chiến lược thiết kế và mở rộng tầm nhìn nghề nghiệp.

Nguyễn Quốc Vinh1,2* – Nguyễn Thị Hương Trung1,2
Huỳnh Hoàng Huy1,2 – Nguyễn Huy Đức1,2 – Lê Gia Bảo1,2
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2025)


Ghi chú
(1) Bộ môn Kiến trúc, Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường ĐH Bách khoa TP.HCM
(2)Đại học Quốc gia TP.HCM
Nghiên cứu này được Trường ĐH Bách Khoa, ĐHQG-HCM hỗ trợ.

Tài liệu tham khảo
[1] I. McHarg, Design with nature. New York, USA: John Wiley & Sons, Inc, 1992.
[2] F. Steiner and K. Butler, Planning and Urban Design Standards – Student Edition. Wiley, 2007.
[3] C. Waldheim, “The Landscape Urbanism Reader,” Landscape review, 2008.
[4] Pickett, S.T.A., M.L. Cadenasso, Brian McGrath, S. Pickett, M. Cadenasso, and B. McGrath, “Resilience in Ecology and Urban Design,” Springer, vol. Chapter 2, pp. 269–287, 2013, doi: 10.1007/978-94-007-5341-9.
[5] J. A. and LaGro, Site Analysis, Second. John Wiley & Sons, Inc, 2007.
[6] G. S. Cumming, Spatial resilience in social-ecological systems. 2011. doi: 10.1007-978-94-007-0307-0.
[7] Quốc Hội, “Luật Quy hoạch,” 2017.
[8] A. Duany, “Transect Planning: Reconciling Environmentalism and Urbanism Presented by Andrés Duany ASLA Annual Meeting San Diego, November 1, 2011,” pp. 1–7, 2011.
[9] N. Q. Vinh, N. T. Khanh, and P. T. Anh, “The inter-relationships between LST, NDVI, NDBI in Remote Sensing to Achieve Drought Resilience in Ninh Thuan, Vietnam,” in ICSCEA 2019, Springer, 2019.
[10] K. Lynch, The Image of the City. 1960. doi: 10.2307/427643.