Câu chuyện kiến trúc xưa và phong cách Huế

Những ngôi nhà mới dần dần mọc lên và cả những bức tường thành bê tông hóa đến quá cỡ; những kiến trúc đủ phong cách và hiện đại chiếm chỗ trên đất cũ và mới… làm ta quên đi những gì người xưa đã xây dựng! Để rồi một ngày đẹp trời nào đó, ai đó lại làm phát lộ, trở nên to tát như cuộc khai quật với những phát hiện mới. Ở đây, trong câu chuyện về kiến trúc xưa, tôi xin được nhìn nhận dưới góc nhìn của KTS, nghĩa là: Đo, đếm và cả Kỹ Thuật – Mỹ Thuật.

1.

Chuyện bắt đầu vào năm 1999 (và những năm trước đó 1976, 1985) khi có nhiều cơn lụt làm ngập lụt đến cả Đại Nội, Huế – Nơi có thế đất cao nhất trong Thành nội mà các vua nhà Nguyễn chọn để xây dựng cung điện… Một cụ hàng xóm (*) giỏi chữ Hán – Nôm và cả tiếng Pháp làm ngành văn hóa người ở vùng quê Đại Lộc, Quảng Nam kể lại câu chuyện vào lúc cụ 13 tuổi được ra Huế chơi, tình cờ trông thấy những người lính hộ thành đang dùng đất sét trám vào khe ván không cho nước vào thành ở một cái cống bằng đá. Điều này làm cụ thắc mắc vì sao hôm nay (năm 1999) nước vào Thành nội và làm lụt lớn? Thắc mắc trên đã thôi thúc tôi đi vài lần và cũng đã tìm đến cống Lương Y (1) mà trong tư liệu xây dựng cũ là cống Đông Thủy Quan /Thanh Long (2). Là vị trí hướng Đông cho dòng Ngự Hà (2) ra vào nên trên đầu phía Tây cũng có cống Tây Thủy Quan (2), dẫn nước từ sông Kẻ Vạn (sông nhỏ chia nhánh với dòng mẹ Hương Giang ở tả ngạn gần cầu Bạch Hổ, rồi có nhánh nhỏ hơn vào thành nội ở phía Tây). Chuyện rõ ràng với khe đá nhô ra gần 20 cm chạy dài từ dưới đáy sông đến gờ trên của miệng cống, áp sát ở 2 bên thành cống ở phía Tây đang hiện tồn và cả 2 cột áp tường bằng đá cũng từ chân cống vươn quá lan can cống. Đầu cột có khe bán nguyệt để gá cái trục gỗ (hoặc sắt, gỗ bọc sắt?) chuyển động đưa các tấm ván gỗ lên xuống theo khe đá (xem ảnh chụp và bản vẽ minh họa) cho những tấm ván dày có khe âm dương cài vào nhau. Để tránh dòng nước chảy mạnh sẽ phá cửa ván. (Do khoảng cách của lòng cống khá lớn gần 8 mét) nên kỹ sư ngày xưa đã cho thêm những chốt sắt (ảnh chụp) ở giữa và gần đó của vòm cống nhằm chốt giữ các tấm ván khỏi bị xô (kỹ thuật như cái then cửa nhưng có đầu nhọn cắm đứng từ trên cầu xuống đáy sông) khi dòng nước chảy mạnh.

Khung cửa hai đầu , Đường xuân 68 - P Thuận Lộc - TP Huế
Khung cửa hai đầu , Đường xuân 68 – P Thuận Lộc – TP Huế

2.

Chuyện kiến trúc xưa xin kể tiếp là cái cửa vòm cũng gần cống Đông Thủy Quan mà hồi nhỏ tôi và người em thường chui qua để ra bờ sông bên ngoài câu cá. Cái cửa mà tháng 7, 8 vừa rồi cả giới chuyên gia Huế Học và người dân (trên mạng truyền thông từ truyền thống đến hiện đại) bàn luận. Sách xưa mô tả và tóm tắt các ý của các chuyên gia, vẫn là mục đích cho việc canh phòng, trấn thủ cho các cơ quan quan trọng nằm phía Đông Bắc của Hoàng thành (3), nhất là kiểm tra việc giao thông bằng đường thủy nội – ngoại của Thành nội.

Điều gây thắc mắc cho chúng tôi và chắc cho ai thích kiến trúc cổ, kỹ thuật xưa là: Cửa vòm nhỏ này không thiết kế đặt trên vị trí thẳng góc với cống, nghĩa là nhìn ra dòng nước của dòng Ngự Hà mà bố trí sâu vào ở bức tường thành phía Đông song song với cống? Trên vòm cửa có chốt cửa bằng đá để gắn chốt cửa nhưng chốt âm bên dưới là hình vuông và không nằm trên một đường thẳng thì làm sao gắn cửa và quay được; ngoài ra bờ bậu cửa bên ngoài bằng đá Thanh thì bị mòn, lõm xuống so vời bờ đá bên trong cửa? Tuy nhiên, khi xem kỹ và quan sát bên phía tả ngạn, tức bên kia cống còn lại một cửa như hai anh em sinh đôi, có hai chốt đá bên dưới nhưng nay đã bị phá vỡ. Câu chuyện thú vị ở chỗ khi lại có cái lỗ vuông ở bên dưới nền đá. Xin được tạm giải thích sau khi đến trực tiếp đo vẽ (xem ảnh): Thì chắc ở đây cần có thêm một bậc cấp trung gian nữa để giảm độ cao .Và người xưa đã thiết kế thêm tấm ván có chốt mộng gắn vào lỗ vuông này (xem bản vẽ). Bên ngoài cửa có bờ đất thấp hơn (quan sát kỹ, ngày trước có thang ngắn lên xuống và cao đến 1,50 mét, khi vào bên trong và đóng cửa lại thì phải cất dấu thang này vào bên trong). Điều này bắt buộc người từ ngoài chui vào cửa này phải nặng chân hơn, nên bậu đá ở cửa vòm này bị mòn, lõm hơn. Từ việc bố trí cửa tại vị trí này nên người xưa phải làm cửa (cửa loại lớn dày, kiên cố) (**). Có cái chốt đá và cái lỗ tròn theo kết cấu truyền thống bằng gỗ với tấm gỗ ghép với đầu cửa có chốt mộng tròn ăn vào cái lỗ đá cũng hình tròn này. Khung đỡ bên dưới chân của cánh cửa phải có chốt ăn vào một tấm ván dày hoặc có tầng (tạo bậc cấp để bước lên bậu cửa đá) làm trung gian, nên việc giữ tấm ván hay tầng ván này phải có cái chốt vuông bên góc dưới (ảnh chụp và bản vẽ minh họa về thiết kế cánh cửa) tránh người ngoài phá cửa vào. Dĩ nhiên cửa phải có then gắn vào cánh cửa và việc mở đóng để ra vào là chuyện của người được cử làm nhiệm vụ canh phòng (xem bản vẽ phục dựng cánh cửa).

Theo bản dịch từ Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Huế: Trong Châu Bản triều vua Tự Đức vào năm thứ 22 (1869) trong các nhiệm vụ được giao, quân lính Phụng Hộ sứ ở Đông thành Thủy Quan có chức năng bắn pháo hiệu để mở cửa Áp (cửa liên kết bằng những tấm ván đã mô tả trên) phía Tây của cống khi có thuyền Ngự của vua đi qua. Còn thông tin của linh mục Léopold Michel Cadière thì trên lan can cống có đặt 13 đại pháo. Có thông tin là phối hợp thêm 2 pháo đặt trên 2 cửa vòm gọi tên là cửa tả và cửa hữu của Đông thành Thủy Quan. Tuy nhiên, như chúng tôi mô tả phần kiến trúc của vòm nhỏ này, việc đặt thêm pháo vào vị trí của lòng vòm cửa thì không hợp lý. Có chăng là đặt trên bờ thành gần đó. Vậy ta chắc chắn kết luận rằng: Ở vị trí này, với 2 kiến trúc cống có cửa Áp cùng cửa vòm của khu vực Đông thành Thủy Quan là rất trọng yếu cho việc trấn giữ, canh phòng (hai đầu cống Lương Y luôn có lính canh cầm giáo canh gác)… Vậy câu chuyện kể trên chắc khá mới nhưng cũng cũ như sách của Ta và Tây cũng đã viết cái cống này (cả Đông và Tây Thủy Quan) dùng cho thuyền, ghe… ra vào với cái cửa Áp và vòm cửa này là cần thiết cho việc kiểm soát ra vào Hoàng thành bằng đường thủy với nhiều công năng:

  • Giao thông: Vận chuyển vật dụng, hàng hóa phù hợp cho đường thủy.
  • Thông tin, liên lạc quan trọng: Vua, quan cần di chuyển thăm thú trên sông cả cho việc tang lễ cần phải đưa bằng thuyền cho các cung nữ chết trong Hoàng Thành.
  • Trị thủy quan trọng với thoát nước, ngăn lụt tiểu mãn, mùa nước nông thì ngăn nước mặn và cả công việc thủy lợi: Tưới cho những cánh đồng ở phường Thuận Lộc, Thuận Thành, phần đất ở phía cửa Hòa Bình (nay có đường Đặng Thái Thân chạy qua); ruộng tịch điền và cả đến việc quân sự như dùng nước để huấn luyện thủy binh.

3.

Dẫu những người An Nam xưa học cách xây dựng thành trì… từ nhiều cuốn sách tiếng Pháp mà vị vua trực tiếp học từ người Âu là Gia Long: “Trong cung Gia Long có nhiều sách của người Pháp viết về xây dựng nhà cửa và thành lũy quân sự… Vua luôn tay lật các trang giấy xem các hình vẽ để tìm cách bắt chước; nó là một trong tài liệu đại cương biên khảo được dùng để thành lập đội kỹ sư An Nam…” (L.CADIÈRE, Một số nét về Đoàn Công binh tạo tác An-Nam,tr383, B.A.V.H, tập VIII, 19210).

Nhưng đoạn viết ngắn về góc nhìn Mỹ thuật có tính cách lãng mạn trong nghệ thuật trang trí vườn cảnh của các vua triều Nguyễn của H.DÉLESTIE (Chủ sự tiểu học Annam): “Chùa và am miếu không phải là yếu tố duy nhất trang điểm cho phong cảnh của xứ Annam, mà còn có các cây cầu đóng vai trò tô điểm rất hài hòa với phong cảnh đó, làm cho ta khó mà biết đến năng khiếu nghệ thuật của người bản xứ xưa kia đã làm ra các cây cầu khắp nơi trên các dòng sông đầy cỏ lùm của kinh thành, trên các ngòi nước rợp bóng tre xanh, trên các đường quan lộ chói lọi ánh sáng, hay trên con đường đất nện chặt chạy qua các ruộng rẫy. Ngoài nắng, thì nước là chủ lực của xứ này; nước lưu thông và mang sự sống đến khắp nơi. Như một bà hoàng, nước đi ngang dưới cả vòm cầu to lớn mà đơn sơ như dưới các vòm cổng khải hoàn. Thường khi đê mê với cái dịu mát tại nơi này, nước chảy chậm lại và mơ màng trong giấc ngủ, phản chiếu hình ảnh của các cây chuối to hay các cây dây leo xanh biếc. Cầu vòm cái nào cũng như cái nào trông giống như kiểu vòm La Mã, tựa mạnh vào đất liền tường xây đá xám mà cây cỏ mạnh đến bao nhiêu cũng không thể làm rạn nứt. Những chiếc đò, mui cũng vòm trôi nhẹ nhàng dưới cầu vòm giống như cái vỏ bọc quanh nó… Mặt cầu đồng thời là con đường trên cầu thì vồng lên, theo hình dáng của vòm, hài hòa, khác với khoa hình học của người phương Tây, vì người phương Tây khi muốn đi từ bờ này sang bên kia thì chỉ biết làm một con đường thẳng theo cách của họ… Và “ông Tây” này nhận xét thú vị hơn: “…. cây cầu xưa cũ của người An Nam, mỗi khi ta đi qua bằng xe ô tô, làm cho ta bắn mình trên chiếc ghế ngồi đồng thời làm cho ta hiểu thêm được ý nghĩa của cái kiểu vòm” (trích Cầu, Chùa, Am Miếu, tr173, B.A.V.H tập IX, 1922).

Đến hôm nay, các công trình mà cụ thể là kiến trúc mà ta có thể nhìn thấy và so sánh với những vùng miền lân cận trong nước cả những nước láng giềng bên cạnh thì cái gọi là “Vòm” khá phổ biến ở Huế và lan tỏa các miền xung quanh. Dĩ nhiên, kỹ thuật xây vòm vốn có từ trước, nhưng kỹ thuật và mỹ thuật tạo nên hình hài, dáng dấp gọi là kiểu thức chúng tôi tạm gọi là phong cách Huế. Việc tìm hiểu các tỉ lệ của đường cong với dây cung cần phải có những khảo sát, thống kê của nhiều công trình có kỹ thuật xây dựng tương tự để khẳng định phong cách riêng này. Nếu việc xây dựng vật liệu đá để làm vòm cuốn theo kết cấu “múi cam” thì việc xây bằng gạch vồ cũng là điều cần tìm hiểu về kỹ thuật cũng như mỹ thuật.

Nguyễn Thượng Hỷ
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2020)


CHÚ THÍCH:
(*) Cụ Hồ Phước Tâm, sinh năm 1922, năm cụ 13 tuổi khi đến xem các người lính phòng lũ vào thành bị đuổi đi: Con nít đi chỗ khác chơi… (lời cụ kể lại vào năm 1999).
(**) Phỏng vấn cụ Thống năm nay 99 tuổi sống cách cống Lương Y khoảng 50 mét. Cụ Thống là chủ đấu thầu các sản phẩm ở cá song hồ của phường Vĩnh An là rau và thủy sản.
(1)Theo tín ngưỡng, ngành Y cũng có miếu thờ Tổ nghề các vị đời trước, gọi là miêú Tiên Y. Miếu bắt đầu xây dựng năm 1825, bên tả chùa Thiên Mụ. Về sau, năm 1849, vua Tự Đức thấy: “Chỗ ấy đã ẩm ướt, kiểu miếu lại hẹp hòi, mà trong ấy lễ tự cũng còn thiếu sót”, nên giao cho bộ Công chọn lấy chỗ đất cao ráo, dời lại miếu ấy cho rộng rãi them ra, cốt được vừa phải”. Do đó, ngôi miếu được xây dựng tại phường Thường Dũ trong kinh thành, nơi hiện còn di tích, gần cống Lương Y. (tr 436, Nội các triều Nguyễn).
(2)Trong: “Le canal imperial(Ngự Hà). L.Cadiere.1915, tr.26.Cầu “Đông Thành Thủy Quan”, cửa đường thủy phía Đông kinh thành, ở chỗ sông Đào “Ngự Hà” ra khỏi kinh thành về phía Đông trên đoạn kéo dài của bờ thành; cầu xây bằng đá dưới triều Minh Mạng vào khoảng tháng 5-1830; dưới triều Gia Long cầu làm bằng gỗ và tre mang tên Thanh Long (Rồng Xanh); cầu này cúng gọi là Cầu xâm hại(Pont de l’attentat). Vào năm 1825, khi đào khúc song phía Tây của Ngự Hà, ông cho xây nhiều cầu, một trong số đó ở trên đoạn kéo dài chân thành phía Tây, cầu này được gọi là Tây thành thủy quan, “cống ở thành phía Tây”.
(3)Trong một chương viết khảo tả khá chi tiết các kiến trúc về phía Bắc, (cả tây băc và đông bắc) trong kinh thành: “Một Vài Góc Của Kinh Thành” của Nguyễn Đình Hòe (Hội đồng cơ mật), L.CADIÈRE (Hội truyền giáo Hải ngoại Paris) vị trí này có những công trìnhđược xây dựng trên đảo trên bờ nước: Tàng Thư Lâu (lưu trử hồ sơ của sáu bộ (lục bộ); Hỏa Dược Diêm tiêu khố (Kho thuốc súng), cùng chứa các kho khác và các vựa lúa. Nơi này cũng tạo cảnh quang làm nơi để vua, hoàng hậu, các hoàng tử thư giản, ngắm hoa… như Hồ Tịnh Tâm (làm cho cõi long trong suốt); Trường Thanh Viên (vườn Trường Thanh: Ngôi vườn màu xanh vĩnh viễn), nằm bên hồ Tàng Thơ; Thư Quang Viên (vườn Thư Quang)


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
– Tạp chí BULLETIN DES AMIS DU VIEUX Huế (B.A.V.H, Những người bạn Cố đô Huế), Tập VIII,1921; Tập IX,1922; Bản dẫn1914-1944, NXB Thuận Hóa.
-Trên INTERNET