Cơ sở dữ liệu nhà ở công nhân: Nền tảng tạo lập hệ thống thông tin chung quốc gia về bất động sản

Trong quá trình phát triển Chính phủ điện tử, mục tiêu tổng quát là xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, trong đó có phát triển và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm cho các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng an toàn, hiệu quả.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở công nhân hay nhà ở xã hội nói chung có vai trò quan trọng cho việc tạo lập hệ thống thông tin chung của quốc gia về nhà ở và thị trường bất động sản, góp phần hỗ trợ công tác quản lý nhà nước, phát triển thị trường nhà ở xã hội, hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách cũng như người lao động có thể tiếp cận được thông tin về nhà ở nhanh chóng và khoa học. Đồng thời, việc tổng hợp, đánh giá các hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà ở xã hội của các nước trên thế giới sẽ giúp cho việc tham khảo và đề xuất mô hình thích hợp cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu ở Việt Nam.

Khu ở công nhân Meiko – Khu công nghiệp Thạch Thất – Hà Nội (ảnh trái), 1. Khu ở công nhân Youngfast – Khu công nghiệp Thạch Thất – Hà Nội (ảnh phải)

Cơ sở dữ liệu nhà ở xã hội ở một số nước trên thế giới

Tại Mỹ, có rất nhiều tổ chức có hệ thống cơ sở dữ liệu riêng liên quan đến nhà ở xã hội như: Hội đồng Nhà ở xã hội và nông thôn (Council for Affordable and Rural Housing – CARH), Hiệp hội Quản lý Nhà ở xã hội Quốc gia (National Affordable Housing Management Association – NAHMA), ApartmentSmart, Tổ chức Thuế nhà ở giá rẻ (Low-Income Housing Tax Credits – LIHTC), Tổ chức hợp tác nghiên cứu về nhà ở xã hội (Public and Affordable Housing Research Corporation – PAHRC) Liên hiệp Nhà ở xã hội quốc gia (National Low Income Housing Coalition – NLIHC),Tập đoàn Bảo hiểm Nhà ở (Housing Authority Insurance Group)… Trong đó, có 2 hệ thống cơ sở dữ liệu phát triển mạnh nhất, bao gồm:

  • Hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà ở công cộng (public housing), bao gồm các nhà ở thuộc sở hữu của chính quyền địa phương và chứng từ nhà ở (voucher) do chính quyền địa phương quản lý (chứng từ này cho phép các gia đình thuê căn hộ tư nhân). Đối với cơ sở dữ liệu nhà ở công cộng, chính quyền địa phương có trách nhiệm thu thập và báo cáo dữ liệu thường xuyên trên cả phương diện vật chất (số lượng nhà, số căn, tình trạng nhà ở…) và con người (số người sống trong căn hộ, độ tuổi, thu nhập…);
  • Hệ thống cơ sở dữ liệu về các tòa nhà chung cư được tài trợ bởi Tổ chức thuế Nhà ở giá rẻ (LIHTC).
    Đối với dữ liệu LIHTC, các dữ liệu được báo cáo trước tiên cho chính phủ tiểu bang, sau đó được chuyển cho chính phủ liên bang. Dữ liệu LIHTC không phải quá riêng tư vì vậy phần lớn mọi người có thể truy cập được và có thể sử dụng công cụ này để tìm kiếm nhà ở xã hội;

Ứng dụng GIS trong Hệ thống thông tin dữ liệu về nhà ở xã hội tại Mỹ (Nguồn: [2])

Tại Hàn Quốc, GIS (hệ thống thông tin địa hình) đã được áp dụng vào hầu hết mọi lĩnh vực trên cả nước. Hàn Quốc đã triển khai xây dựng hệ thống GIS quốc gia chia thành 03 giai đoạn: 1995 – 2000, 2001 – 2005 và 2006 – 2010 với tổng mức đầu tư khoảng 2 tỷ USD nhằm tập trung vào các mục tiêu: Xây dựng nền tảng cơ sở (bản đồ địa hình toàn quốc, địa chính, dữ liệu phi không gian…); xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian (khung dữ liệu quốc gia, ngân hàng dữ liệu, phát triển công nghệ GIS, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, đào tạo chuyển giao công nghệ…); xây dựng hệ thống ứng dụng đa ngành (hệ thống quản lý thông tin đất đai, hệ thống quản lý thông tin quy hoạch, hệ thống quản lý thông tin kiến trúc…); phát triển hệ thống nâng cao (thành phố thông minh-U-city, tối ưu hóa ứng dụng nâng cao, hệ thống hỗ trợ quyết sách quy hoạch…).

 

Hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà ở xã hội tại Hàn Quốc nằm trong hệ thống dữ liệu chung của quốc gia về nhà và đất đai. Hệ thống dữ liệu lớn về không gian (Spatial Big Data) này bao gồm

Hệ thống Hạ tầng dữ liệu về Không gian quốc gia (NSDI), Hệ thống thông tin đất đai Hàn Quốc (KLIS), Hệ thống thông tin Quản lý Bất động sản (RTMS), Hệ thống thông tin về Nhà và Đất đai (LHIS), Hệ thống thông tin Quy hoạch (UPIS), Hệ thống thông tin Kiến trúc (AIS)…

Tại Nhật Bản, ngay từ những năm 70, các nghiên cứu tập trung vào xây dựng hệ thống thông tin khu vực, thông tin đô thị, hệ thống thông tin về sử dụng đất, mạng lưới hạ tầng kỹ thuật đô thị. Những năm 80, triển khai ứng dụng hệ thống thông tin vào công tác quản lý tại địa phương (quy hoạch, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đô thị…), nghiên cứu nâng cao và chuyên sâu vào hệ thống thông tin đô thị, Nhật Bản đã ứng dụng GIS trong công tác quản lý và quy hoạch xây dựng từ cấp Chính phủ đến các bộ ngành liên quan và công tác đào tạo quy hoạch trong các trường đại học.
Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai và bất động sản của JHS, một trong những nhà cung cấp xây dựng và định giá bất động sản hàng đầu, với sự liên minh của hơn 20.000 công ty, sở hữu dữ liệu về hàng triệu ngôi nhà khắp Nhật Bản. [4]

Tại Trung Quốc, Dự án Chính phủ trực tuyến được khởi động với sáng kiến ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Kết nối 800-1000 cơ quan nhà nước vào Internet; giai đoạn 2: Di chuyển các hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước sang hình thức điện tử tương ứng; giai đoạn 3: Chuyển đổi hoạt động của cơ quan nhà nước sang hình thức không giấy tờ.

Trong tiến trình thúc đẩy việc phát triển và quản lý điện tử, các sở ban ngành xây dựng và bất động sản tại địa phương đã rất tích cực trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở và bất động sản.
Ví dụ như phòng quản lý bất động sản ở Hàng Châu đã xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu về bất động sản và nhà ở hiệu quả dựa vào SuperMap, bao gồm bản đồ, tài liệu liên quan đến toàn bộ bất động sản của thành phố, trong đó có cả dữ liệu về nhà ở xã hội. Hệ thống cơ sở dữ liệu này tích hợp chức năng quản lý thị trường bất động sản, quản lý danh sách người được hưởng trợ cấp nhà ở xã hội, quản lý việc di dời, quản lý tài sản, chính sách cải cách nhà ở, phòng ngừa sự xuống cấp của nhà ở, thẩm định nhà, lập bản đồ và khảo sát nhà… Dự án cũng đã thiết lập GIST (Nhóm Hệ thống Thông tin Địa lý) trong ngành xây dựng ở Trung Quốc, có nhiệm vụ thu thập dữ liệu bằng UAV, đảm bảo cập nhật nhanh chóng và chia sẻ dữ liệu; áp dụng ứng dụng quản lý phối hợp kép dưới tòa nhà quản lý theo chế độ bản đồ; đồng bộ hóa lưu trữ đồng bộ WGS84 và tọa độ địa phương, vị trí nhà có thể được xuất sang phần mềm của bên thứ ba hoặc thiết bị di động để điều hướng chính xác, giúp giải quyết vấn đề tìm nhà ở, hỗ trợ xoá dữ liệu có vấn đề lịch sử, tránh rủi ro về thế chấp và giao dịch… [5]

Hệ thống thông tin về Nhà và Đất đai tại Hàn Quốc (Nguồn: [3])

Tình hình phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu nhà ở tại Việt Nam

Nhằm hướng tới mục tiêu số hóa các dữ liệu, phục vụ cho việc phát triển và quản lý toàn diện trên nhiều lĩnh vực của quốc gia, trong đó có lĩnh vực quy hoạch, kiến trúc, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý về lĩnh vực hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu. Đây là những bước đầu tiên trong việc thúc đẩy xây dựng bộ máy chính quyền điện tử. Các văn bản pháp luật có liên quan đến Cơ sở dữ liệu về nhà ở bao gồm:

  • Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 [6]
  • Nghị định số 117/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 về Xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản. [7]
  • Thông tư 27/2016-BXD ngày 15/12/2016 về Quy định chi tiết một số điều của Nghị định 117. [8]

Có rất nhiều nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng GIS để quản lý thông tin bất động sản, nhà ở hoặc lĩnh vực liên quan như quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị. Có thể kể đến một số đề tài như:

  • Nghiên cứu Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý thông tin bất động sản trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội (Lê Thị Giang, Nguyễn Thị Châu Long, 2010), hệ thống thông tin địa lý đã được ứng dụng vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý thông tin bất động sản, cụ thể ứng dụng phần mềm Arcview. [9]
  • Đề tài nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống thông tin đất đai trong quản lý hồ sơ địa chính cấp quận, huyện, ví dụ Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh (Bùi Hoàng Giang, 2012) đã điều tra, đánh giá thực trạng hệ thống hồ sơ địa chính tại quận 6 và tình hình xây dựng CSDL địa chính của quận; đề xuất các giải pháp xây dựng CSDL địa chính quận. [10]
  • Mô hình ứng dụng GIS trong quản lý đất đai tỉnh Tiền Giang của Hồ Thanh Trúc, Lê Văn Trung, Khoa Môi trường, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia TP.HCM 2011 đã giới thiệu một mô hình và giải pháp ứng dụng GIS thích hợp, bao gồm phân tích nhu cầu và nguồn cung cấp dữ liệu, tổ chức, phối hợp và trao đổi thông tin giữa các đơn vị để tiết kiệm kinh phí, tận dụng nguồn nhân lực và trang thiết bị sẵn có sao cho đảm bảo sự chia sẻ thông tin và phát triển GIS đồng bộ. [11]
  • Nghiên cứu ứng dụng GIS hỗ trợ công tác quy hoạch phát triển đô thị TP.HCM của KS. Đặng Trần Trung, 2013 với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cơ sở khoa học ứng dụng GIS hỗ trợ quy hoạch phát triển đô thị và các công cụ hỗ trợ quy hoạch (Planning Support Systems – PSS) làm cơ sở cho việc nghiên cứu ứng dụng GIS hỗ trợ công tác quy hoạch phát triển đô thị tại TP. HCM. [12]

Ngoài ra có một số đề tài khác như Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị. Trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp, 2014. Đề tài Nghiên cứu tổng thể ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS trên địa bàn tỉnh Bình Dương của TS. Lâm Đạo Nguyên, Viện Địa lý Tài nguyên TP HCM,…

Có thể nói, việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là GIS có rất nhiều ưu thế nhưng do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, sau hơn 10 năm ứng dụng trong thực tế nhưng công nghệ GIS vẫn chưa được chuẩn hóa. Nếu như chỉ có TP HCM và một vài thành phố khác ứng dụng thì việc chuẩn hóa cơ sở dữ liệu GIS chưa được phủ kín cả nước. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang tiến hành xây dựng chương trình ứng dụng GIS trong quản lý nhà nước về phát triển đô thị trình chính phủ. Tuy nhiên, việc xây dựng công nghệ này cũng gặp một số khó khăn thách thức như: thiếu đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm áp dụng GIS trong xây dựng và phát triển đô thị, thiếu cơ sở vật chất về trang thiết bị hạ tầng mạng, hệ thống lưu trữ dữ liệu, các phần mềm, thiếu ngân hàng dữ liệu GIS chuyên ngành xây dựng và phát triển đô thị để liên kết đa ngành.

Định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở công nhân các KCN Hà Nội

Tại Việt Nam, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển nhà ở cho người lao động, rất nhiều các đề tài đã nghiên cứu lĩnh vực này. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ tiếp cận một cách định tính, số liệu chỉ được tập hợp tại thời điểm nghiên cứu, khó có tính kế thừa. Những phân tích định lượng cũng không được đưa ra, do thiếu những công cụ số hóa hay đo lường. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở công nhân KCN là cần thiết, đóng góp dữ liệu cho hệ thống thông tin về nhà ở xã hội Việt Nam, hỗ trợ cho công tác quản lý, nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Cơ sở dữ liệu về nhà ở công nhân có vai trò quan trọng đến các đối tượng có liên quan đến quá trình phát triển, quản lý nhà ở công nhân, cụ thể:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Nắm được thông tin tổng quát và kịp thời, hỗ trợ việc ra các quyết định;
  • Đối với chính quyền địa phương: Hỗ trợ công tác quản lý, giám sát;
  • Đối với công nhân: Cung cấp các thông tin đầy đủ và chi tiết, hỗ trợ người lao động trong việc lựa chọn và tiếp cận nhà ở đạt tiêu chuẩn;
  • Đối với người kinh doanh nhà ở cho công nhân: Nắm được đầy đủ và chi tiết nhất các thông tin về thị trường, xác định rõ cung cầu và ra các quyết định đầu tư;
  • Đối với các cơ quan, tổ chức cá nhân làm công tác nghiên cứu trong lĩnh vực có liên quan: Là công cụ hữu ích trong nghiên cứu về nhà ở công nhân.

Theo Nghị định số 117/2015/NĐ-CP ban hành ngày 12/11/2015, Hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản bao gồm:

a) Cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản;

b) Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản;

c) Hệ thống phần mềm phục vụ quản lý, vận hành, khai thác. [7]

Vì vậy, có thể thấy, cơ sở dữ liệu về nhà ở là một trong 3 thành phần quan trọng cấu thành nên Hệ thống thông tin về nhà ở. Cơ sở dữ liệu về nhà ở là thành phần chứa đựng “nội dung” về nhà ở; kết hợp với “kết cấu”, là hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và phần mềm tạo ra một hệ thống thông tin hoàn chỉnh, giúp cho công tác quản lý, tra cứu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức cũng như cá nhân trong lĩnh vực nhà ở.

Cơ sở dữ liệu về nhà ở công nhân KCN Hà Nội tập hợp các dữ liệu về nhà ở công nhân khu vực này, được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử. Nội dung của cơ sở dữ liệu về nhà ở công nhân bao gồm: Những dữ liệu dạng văn bản (các văn bản pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương, các đơn vị phát triển dự án…), dạng số liệu (số lượng, diện tích và các chỉ tiêu thông kê khác về nhà ở), bản vẽ (các mặt bằng, mặt cắt, phối cảnh dự án nhà ở). Các dữ liệu này cần được tích hợp với hệ thống bản đồ địa lý (GIS) để trở thành các cơ sở dữ liệu nền tảng cho hệ thống thông tin về nhà ở công nhân.

Thay lời kết

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở nói chung và nhà ở xã hội nói riêng là việc làm cần thiết và được tiến hành ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà ở có thể được xây dựng bởi Chính phủ hoặc các tổ chức khác như các Hiệp hội, các tổ chức Tín dụng, các đơn vị quản lý cấp địa phương hay các công ty tư nhân… Các dữ liệu này thường được cập nhật bổ sung tự động theo thời gian nhất định dưới sự hỗ trợ của các phần mềm. Thông qua việc tham khảo thông tin về việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu của một số nước trên thế giới, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống thông tin phù hợp với điều kiện và khả năng công nghệ của mình. Xây dựng Cơ sở dữ liệu về nhà ở công nhân KCN Hà Nội đóng góp bước đầu vào Cơ sở dữ liệu về nhà ở xã hội Hà Nội và là một phần trong Cơ sở dữ liệu về nhà ở quốc gia nói chung.

GIS là một công cụ không thể thiếu trong xây dựng hệ thống thông tin về nhà ở. Việc áp dụng hệ thống GIS vào lĩnh vực nhà ở sẽ giúp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và thiết kế, là công cụ đắc lực cho các ban, ngành, địa phương trong việc quản lý phát triển đô thị và nhà ở. Thông qua Hệ thống thông tin về nhà ở xã hội, nhà ở công nhân được đặt trên nền tảng Web-GIS, người dân có thể tiếp cận các thông tin về nhà ở và doanh nghiệp cũng dễ dàng trong định hướng phát triển trong lĩnh vực này.

ThS.KTS Lê Lan Hương – ThS.KTS Nguyễn Thị Vân Hương/ Trường ĐH Xây Dựng Hà Nội

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 04-2018)

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Tài liệu tham khảo

1. GIS Mapping and Geographic Information System Data. https:/www.policymap.com/maps, truy cập ngày 10/8/2017.
2. The Opportunity Project. https://uscensusbureau.github.io/opportunity/projects.html, truy cập ngày 12/8/2017.
3. https://www.supermap.com/en/html/SuperMap_GIS_products9.html, truy cập ngày 12/8/2017
4. Dr. Junyoung Choi; Dr. Kwonhan Lee (2015), “FOSS4G for Rapidly Urbanizing Cities and UN Sustainable Development Goals(SDGs); SDG 11 Cities and Human Settlement”, FOSS4G Seoul 2105 UN special session.
5. Qian R. (2013) “The Application of GIS in the Real Estate Management System”. Proceedings of the 2012 International Conference of Modern Computer Science and Applications. Advances in Intelligent Systems and Computing, Springer, Berlin, Heidelberg, 191: 553-558.
6. Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11
7. Nghị định số 117/2015/NĐ-CP, Xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản.
8. Thông tư 27/2016-BXD, Quy định chi tiết một số điều của Nghị định 117.
9. Lê Thị Giang, Nguyễn Thị Châu Long (2010), “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý thông tin bất động sản trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; 8(1):130 -139
10. Bùi Hoàng Giang (2012), Nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống thông tin đất đai trong quản lý hồ sơ địa chính cấp quận, huyện (lấy ví dụ Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh), Luận văn ThS. ngành: Địa chính; Mã số: 60 44 80, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội.
11. Hồ Thanh Trúc, Lê Văn Trung (2011), “Mô hình ứng dụng GIS trong quản lý đất đai tỉnh Tiền Giang”, Hội thảo ứng dụng GIS toàn quốc 2011.
12. KS. Đặng Trần Trung (2013), Nghiên cứu ứng dụng GIS hỗ trợ công tác quy hoạch phát triển đô thị TP.HCM. Báo cáo tổng kết đề tài, Mã số: D711.028, Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh.