Góp ý dự thảo luật Kiến trúc

Kiến trúc là một ngành tổng hợp của nhiều ngành khác, do vậy xây dựng và ban hành Luật kiến trúc là tăng cường công tác quản lý ở văn bản pháp luật cao nhất và định hướng phát triển kinh tế xã hội góp phần định hướng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Việc ban hành Luật Kiến trúc là rất cần thiết, không chỉ đáp ứng được mong mỏi của giới KTS, của xã hội mà còn đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước để phát huy nguồn lực.

Cần quy định thành lập Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của KTS hành nghề

Phạm vi điều chỉnh cuả dự thảo Luật KTS là: Quản lý kiến trúc, hành nghề kiến trúc và quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cuả cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Như vậy, có thể xác định hoạt động kiến trúc bao gồm quản lý kiến trúc và hành nghề kiến trúc (K8, Đ3). Mặt khác, một nghề cung cấp dịch vụ mang tính chất trí tuệ thì nhà nuớc có cần can thiệp quá sâu vào công tác quản lý nghề nghiệp hay không? Tôi cho rằng: Không. Nhà nuớc chỉ nên quản lý ở tầm vĩ mô. Quản lý cụ thể nên để cho tổ chức hiệp hội cuả họ thực hiện và phát huy giá trị nghệ thuật, khoa học, thẩm mỹ cho xã hội.

– Thành lập Tổ chức xã hội – nghề nghiệp (KTS Đoàn) toàn quốc của KTS hành nghề.

Hội KTS toàn quốc là hiệp hội các Hội KTS các tỉnh, thành phố, có thành viên là các KTS hoặc thành viên danh dự có cơ quan thường trực là Hội đồng KTS toàn quốc, có chức năng nhiệm vụ cụ thể như ban hành điều lệ, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp KTS…

Hội KTS toàn quốc thành lập KTS Đoàn, tổ chức của KTS hành nghề, ngoài chức năng, nhiệm vụ quyền hạn như nêu trên thì đây là tổ chức vừa bảo vệ và quản lý thành viên, vừa giúp cơ quan nhà nước ở trung ương các công việc về kiến trúc.

Chứng chỉ hành nghề nên cấp một lần:

  • Thứ nhất: Chứng chỉ thể hiện năng lực cuả một nguời được nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật. Theo thời gian, KTS hành nghề càng có kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm. Vì vậy, không có lý do gì khi KTS đang hoạt động nghề nghiệp lại phải gia hạn chứng chỉ hành nghề. Đây là một quy định gây khó khăn cho người hành nghề, ruờm rà về thủ tục hành chính và không mang lại bất kỳ hiệu quả quản lý hay giá trị kinh tế nào. Về việc hành nghề, nếu KTS được cấp chứng chỉ mà không hoạt động nghề nghiệp thì bị xóa tên khỏi hội và chứng chỉ không còn giá trị (Ví dụ: Chứng chỉ hành nghề luật sư được cấp mà không hoạt động trong thời hạn 02 năm thì không còn giá trị)
  • Thứ hai: Hành nghề KTS là hoạt động nghề nghiệp cung cấp dịch vụ cho xã hội, vì vậy năng lực của KTS hãy để cho xã hội đánh giá, tổ chức của giới kiến trúc hành nghề đánh giá và lựa chọn. Tại sao nhà nước lại phải can thiệp và gia hạn khi họ đang hành nghề?
  • Thứ ba: Khi đưa ra bất kỳ một chế định nào thì phải có căn cứ. Vì vậy, cơ sở lý luận nào để gắn với thực tiễn và minh chứng việc gia hạn chứng chỉ hành nghề KTS đem lại hiệu quả trong quản lý nhà nước và hiệu quả kinh tế xã hội? Các ngành nghề khác, chẳng hạn như nghề y, nghề luật sư, nghề giám định…. có cần gia hạn đâu!
  • Thứ tư: Cần giao chức năng quản lý cho tổ chức xã hội nghề nghiệp về kiến trúc. Thực tế hiện nay các hội, đoàn đã thực hiện rất tốt chức năng quản lý của mình. Nếu vi phạm thì sẽ xử lý kỷ luật theo điều lệ, nội quy và thu hồi chứng chỉ. Nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý vĩ mô và kiểm tra.

Từ những phân tích nêu trên, tôi kiến nghị:

  • Bỏ khoản 2, Điều 25; khoản 4, khoản 5 Điều 26.
  • Bỏ cụm từ: “có thời hạn” tại khoản 5, Điều 3; Bỏ cụm từ “gia hạn” trong dự thảo.

Có nên cấp chứng chỉ năng lực cho tổ chức hành nghề kiến trúc – Điều 31?

Theo tôi cần phải bỏ quy định này, bởi vì:

  • Thứ nhất: Đây là quy định có tính bó buộc không có cơ sở lý luận và thực tiễn đối với doanh nghiệp hành nghề kiến trúc. Vấn đề đặt ra, nếu doanh nghiệp không được cấp chứng chỉ có được hoạt động không? Và đây có phải là giấy phép con hay không? Nếu có thì đây là quy định không phù hợp.
  • Thứ hai: Để hành nghề KTS thì KTS phải có Chứng chỉ hành nghề. Vậy nếu cấp “Chứng chỉ năng lực cho tổ chức hành nghề kiến trúc” thì đây sẽ là cấp chứng chỉ 02 lần: Một lần cho cá nhân và một lần cho tổ chức. Tuy nhiên, về mặt dịch vụ, theo Luật Doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoàn toàn có quyền thuê KTS có năng lực chuyên sâu bất cứ lĩnh vực nào để làm việc theo pháp luật về lao động. Phải chăng mỗi lần có nhân sự mới thì doanh nghiệp hành nghề kiến trúc phải xin Sở xây dựng cấp chứng chỉ năng lực mới ???
  • Thứ ba: Khi thẩm định năng lực của một chủ thể nào đó thì bên thẩm định phải có năng lực cao hơn chủ thể bị thẩm định. Cũng như giáo viên phải biết nhiều hơn học sinh, giảng viên phải hiểu sâu rộng hơn sinh viên về lĩnh vực giảng dạy. Vậy cơ sở nào xác định năng lực của Sở Xây dựng cao hơn, rộng hơn để cơ quan này thẩm định năng lực tổ chức hành nghề kiến trúc?
  • Thứ tư: Cán bộ công chức thuộc Sở Xây dựng là cán bộ hành chính nhà nước, những nhân sự này liệu có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm cao hơn các KTS hoạt động nghề nghiệp thực thụ trên thị trường hay không để mà thẩm định?
  • Thứ năm: KTS vừa là nghệ sĩ lại mang dấu ấn của nhà khoa học kỹ thuật về không gian, sản phẩm của họ có giá trị nghệ thuật mang hàm lượng chất xám cao. Vậy tùy vào từng thời điểm về thời gian, không gian mà họ có những ý tưởng phát kiến khác nhau. Tùy vào nhu cầu của xã hội, của chủ thể có nhu cầu mà sản phẩm trí tuệ của KTS được chấp nhận và triển khai thực hiện. Vì vậy, mực thước nào để Sở Xây dựng đánh giá năng lực của doanh nghiệp hành nghề kiến trúc.

Từ những phân tích nên trên tôi thấy rằng trong cơ chế thị trường, năng lực của một tổ chức hay cá nhân hãy để cho họ tự khai báo. Năng lực ra sao hãy để cho xã hội đánh giá công nhận khi có nhu cầu phát sinh theo cơ chế thị trường.

Kiến nghị

  • Xây dựng luật dựa trên nguyên tắc về hội kết hợp với sự tương quan, so sánh với các nghề nghiệp khác;
  • Nhà nuớc không nên can thiệp quá sâu, hành chính hoá hoạt động nghề nghiệp của các KTS hành nghề, hãy để tổ chức của họ tự quản lý và điều chỉnh. Về mặt chuyên môn, cần xây dựng luật theo hướng mở, vận hành theo cơ chế thị trường, có chấp nhận tồn tại, có đào thải;
  • Cần có quy định để KTS có thể lựa chọn hành nghề trong doanh nghiệp hành nghề kiến trúc hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. Không nên quy định mang tính bó buộc, bởi vì các quy phạm pháp luật không mang tính điều chỉnh phù hợp sẽ xảy ra tình trạng lách luật. Ví dụ: KTS mượn danh nghĩa các doanh nghiệp hành nghề kiến trúc để đóng dấu cho các sản phẩm kiến trúc của mình… Hiện nay chữ ký số, giao dịch điện tử đã bỏ qua con dấu như thói quen truyền thống trước đây. Vấn đề là cách thức thực hiện và chịu tránh nhiệm của chủ thể thực hiện. Quy định về KTS hành nghề với tư cách cá nhân sẽ đáp ứng nhu cầu của đại đa số các chủ đầu tư nhỏ, lẻ nhưng muốn sử dụng không gian kiến trúc đẹp, phù hợp nhất là ở vùng nông thôn;
  • Về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nên quy định theo cơ chế: Tổ chức hành nghề kiến trúc mua Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho KTS hành nghề là thành viên của mình. Cá nhân KTS hành nghề phải tự mua bảo hiểm;
  • Xây dựng luật trên cơ sở cụ thể hoá quyền và nghĩa vụ cuả Tổ chức xã hội nghề nghiệp kiến trúc ở TW cũng như ở địa phương.
  • Hội đồng Kiến trúc Quốc gia (Điều 14): Quy định này là cần thiết, tuy nhiên đây là một tổ chức độc lập, tập trung các nhà khoa học, các chuyên gia. Tổ chức này không phải là Tổ chức xã hội – nghề nghiệp kiến trúc sư toàn quốc.
  • Cần cụ thể, chi tiết hơn về Quản lý kiến trúc tại Chuơng II, Hành nghề kiến trúc tại chương III.

KTS Trịnh Ngọc Phương

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 07-2018)