Hà Nội: Dòng chảy 50 năm quy hoạch xây dựng của thủ đô ngàn năm tuổi

Hà Nội – Thành phố (TP) của những con đường, căn nhà cổ kính, của những dòng sông, hồ nước nên thơ, và cũng là nơi đang cuộn mình trong cơn sóng đô thị hóa. Quy hoạch Thủ đô không chỉ là những đường kẻ, nét bút trên bản vẽ, mà là câu chuyện dài hơi, đan xen giữa ký ức và tầm nhìn – Hãy cùng ngược dòng thời gian, nhìn lại hành trình 50 năm quy hoạch xây dựng Hà Nội từ năm 1975 đến năm 2025 qua lăng kính của quy hoạch đô thị và kiến trúc.

Những bản vẽ đầu tiên sau chiến tranh: Khát vọng tái thiết (1975 – 1985)

Ngày 30/4/1975, cuộc chiến tranh chống Mỹ đã toàn thắng, đất nước thống nhất đã mở ra giai đoạn phát triển mới, vị thế mới cho Thủ đô. Hình ảnh Hà Nội sau năm 1975 gợi nhớ tới một bức tranh cũ kỹ, nhạt màu vì thời gian và chiến tranh. Những khu phố Pháp cổ ẩn chứa vẻ đẹp buồn, xen kẽ là những con đường đất bụi mù. Sau chiến tranh, Hà Nội đối mặt với những thách thức lớn: Cơ sở hạ tầng xuống cấp, dân số gia tăng nhanh, nhu cầu nhà ở và dịch vụ đô thị bức thiết.

Để định hướng phát triển, ngày 17/7/1976 Hội đồng Bộ trưởng đã có Quyết định 163/CP phê duyệt Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2000, với quy mô dân số khoảng 1,5 triệu người. Hà Nội bắt đầu triển khai Đồ án Quy hoạch tổng thể đầu tiên thời kỳ mới, do Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội chủ trì, với mục tiêu “Ổn định và cải thiện điều kiện sống”, lấy khu vực nội thành cũ làm trung tâm phát triển.

Theo quy hoạch này, các xí nghiệp công nghiệp được cải tạo và mở rộng; trong khu vực nội thành, nhiều khu nhà ở, chung cư thấp tầng được xây dựng; trường học, nhà trẻ với kiến trúc hiện đại, các công trình hạ tầng xã hội ngày càng được xây dựng nhiều; khu vực ngoại thành Hà Nội là vành đai xanh cung cấp thực phẩm, nơi bố trí các hoạt động văn hóa nghỉ ngơi và các công trình đầu mối giao thông.

Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2000

Ngày 20/9/1976, Bộ Chính trị Khóa III đã ban hành Nghị quyết về quy hoạch, cải tạo và xây dựng Thủ đô Hà Nội. Trong quá trình thực hiện, đến tháng 12/1978, Hà Nội điều chỉnh lại ranh giới, sáp nhập thêm Ba Vì, Thạch Thất, Phú Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Sơn Tây, Hà Đông và một số xã của Hòa Bình – Khi đó, Thủ đô Hà Nội có diện tích 2.136 km2, dân số 3,5 triệu người; hướng phát triển chủ yếu là ở phía Nam sông Hồng. Thời kỳ này, Hà Nội đã chú trọng phát triển mạnh về nhà ở, những khu tập thể như Kim Liên, Trung Tự, Giảng Võ xuất hiện – “Mô hình chung cư” kiểu Liên Xô, hình khối vuông vức, bê tông thô ráp nhưng chứa đựng niềm tin về một đời sống tập thể mới; các công viên lớn được hoàn thành như Thủ Lệ (năm 1978),… Một số công trình cấp quốc gia được xây dựng như: Nhà khách Chính phủ – số 02 Lê Thạch (năm 1975); Khách sạn Thắng Lợi (năm 1976), Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô (năm 1985),…; và kết cấu hạ tầng liên kết vùng như: Cầu Thăng Long (năm 1985), cầu Chương Dương (năm 1985); song cũng gặp khó khăn về nguồn lực, về giải phóng mặt bằng và cơ cấu phát triển đô thị với nông thôn ngoại thành.

Đổi mới: Hà Nội ngẩng cao đầu nhìn ra thế giới (1986 – 1995)

Quyết định Đổi mới của Đảng ta năm 1986 được xem như bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Thành phố Hà Nội không còn chỉ thu mình trong khu phố Cổ, khu phố Cũ; quy hoạch dần nhắc tới cụm từ “mở rộng”, “đa trung tâm”.

Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội đến năm 2010

Chính vì vậy, tháng 12/1991, Quốc hội có quyết định điều chỉnh địa giới Thủ đô, chuyển lại 07 huyện, thị về Hà Tây, Vĩnh Phú và Hà Nội có diện tích 921,8km2. Quy hoạch Thủ đô đến năm 2010 được điều chỉnh và đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt phê duyệt tại Quyết định số 132/CT ngày 18/4/1992. Theo đó, định hướng “đa trung tâm” được hình thành, nhằm giảm tải áp lực cho khu vực phố Cổ, phát triển các khu vực mới như Mỹ Đình, Trung Hòa – Nhân Chính; hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng được chú trọng đầu tư, với những tuyến đường huyết mạch như vành đai 2, đường Giải Phóng mở rộng, chuẩn bị cho sự bùng nổ đô thị hóa.

Đây là giai đoạn có nhiều đổi mới về quản lý xây dựng và phát triển đô thị. Đã xác định cụ thể các khu đặc thù của Thủ đô, các khu bảo tồn, các khu công nghiệp và nhất là các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật như sân bay, cảng sông, các cầu qua sông,…

Quá trình thực hiện quy hoạch đã tạo được sự đổi mới nhất định về diện mạo đô thị, không gian kiến trúc, song cũng đã nhận diện được một số thách thức mới, như: Chưa gắn kết được với các dự án có tính chiến lược quốc gia, nhất là về hệ thống giao thông; chưa gắn với các định hướng về kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập; chưa tạo lập đặc thù để Thủ đô phát triển mạnh trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng bảo vệ Tổ quốc như đã xác định trong Hiến pháp năm 1992.

Công nghiệp hóa- hiện đại hóa, hình thành đô thị mở rộng (1996 – 2008)

Trong bối cảnh này, chính quyền Thủ đô đã chủ động nghiên cứu, phối hợp với các bộ, ngành và các chuyên gia của Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia,… nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch. Tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020. Theo đó, cơ cấu quy hoạch không gian bao gồm TP Hà Nội là Trung tâm và các đô thị xung quanh thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hưng Yên với bán kính ảnh hưởng từ 30 đến 50 km. Hướng phát triển lâu dài của TP Hà Nội chủ yếu về phía Tây; hình thành chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hoà Lạc – Sơn Tây (tỉnh Hà Tây); phía Bắc là cụm đô thị Sóc Sơn (TP Hà Nội) – Xuân Hòa – Đại Lải – Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) và các đô thị khác nhằm khai thác lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, giao thông và cơ sở hạ tầng. Trước mắt, hướng mở rộng TP Hà Nội – Trung tâm về phía Tây Bắc, Tây Nam và phía Bắc; trong đó, ưu tiên cho đầu tư phát triển khu vực phía Bắc sông Hồng. Tại đây, hình thành một Hà Nội mới, gồm các khu vực Bắc Thăng Long – Vân Trì, Đông Anh – Cổ Loa, Gia Lâm – Sài Đồng – Yên Viên và tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư phát triển tại khu vực Nam Thăng Long. Đến năm 2020, dân số đô thị Thủ đô Hà Nội và các đô thị xung quanh khoảng 4,5 – 5,0 triệu người, trong đó quy mô dân số nội thành của Thành phố Hà Nội là 2,5 triệu người, quy mô dân số các đô thị xung quanh khoảng 2,0 – 2,5 triệu người.

Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020.

Việc triển khai thực hiện quy hoạch này đã góp phần tạo dựng nên nhiều hình ảnh mới cho Thủ đô, ví dụ:
– Khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính: “Bản giao hưởng” đầu tiên của kiến trúc hiện đại. Những tòa nhà văn phòng mặt kính, những căn hộ cao cấp mọc lên thay thế ruộng rau;
– Vành đai 2, vành đai 3: Không chỉ là những con đường, mà là trục xương sống định hình không gian Hà Nội mới, tạo ra các “khoảng đệm” giữa cũ và mới;
– Đô thị mới Linh Đàm, một “thí nghiệm” về không gian sống hiện đại với hồ nước, cây xanh, các khu nhà ở thấp tầng, cao tầng đan xen – Dấu chấm phá màu xanh đầu tiên cho Hà Nội;
– Nhiều công viên cũng được hình thành trong giai đoạn này như: Công viên nước Hồ Tây – Quận Tây Hồ (năm 2000); Công viên Linh Đàm – Quận Hoàng Mai (năm 2000); Công viên Nghĩa Đô – Quận Cầu Giấy (năm 2004);…

Quá trình thực hiện quy hoạch được duyệt năm 1998 đến khi mở rộng địa giới 2008, và nhất là sau Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị Khóa VIII về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001 – 2010, và Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội số 29/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đã tạo được bước đột phá mạnh về phát triển đô thị, tạo lập diện mạo đô thị mới.

Lần đầu tiên trong quá trình phát triển, đô thị chuyển sang phía Bắc sông Hồng – Đẩy mạnh phát triển hạ tầng kỹ thuật, nhất là mạng đường giao thông công cộng, các khu công nghiệp. Trên 200 khu đô thị mới, công trình đa năng cao tầng được phát triển đồng bộ. TP đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế quản lý về bảo tồn di sản đô thị.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cũng nhận thấy được một số tồn tại như: Chưa gắn kết với phát triển vùng; chưa kiểm soát tăng dân số, phân bố dân số vào Thủ đô; khớp nối hạ tầng giữa đô thị với ngoại thành, giữa phát triển khu đô thị mới với khu vực xung quanh chưa chặt chẽ.

Hà Nội mở rộng: Đô thị nén- Đô thị mở (2008 – 2024)

Để giải quyết những tồn tại và tạo tiềm năng cho Hà Nội phát triển, xứng tầm là Thủ đô, động lực phát triển vùng, ngày 29/5/2008, Quốc hội đã có Nghị quyết số 15/2008/QH12 (có hiệu lực từ 01/8/2008) về việc điều chỉnh địa giới hành chính TP Hà Nội và một số tỉnh có liên quan, nâng quy mô TP Hà Nội từ 921,8km2 lên 3.344,7km2, với dân số khoảng 6,23 triệu người. Tiếp đó, ngày 06/01/2012, Bộ Chính trị khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011 – 2020.

Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

Công tác lập Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được triển khai nghiên cứu và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011, với định hướng: “Xanh – Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”, đô thị Hà Nội có cấu trúc mới là hình thành chùm đô thị với đô thị trung tâm giữ hồn cốt văn hóa, 5 đô thị vệ tinh (Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên, Sóc Sơn) là nơi sáng tạo những hình hài mới, gắn kết với các hành lang xanh, vành đai xanh, nêm xanh,…; kết nối các khu vực đô thị bằng các tuyến đường vành đai và hướng tâm. Dự báo dân số đến năm 2020, khoảng 7,3 – 7,9 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 58 – 60%; dân số đến năm 2030, khoảng 9,0 – 9,2 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 65 – 68%; đến năm 2050, dân số tối đa khoảng 10,8 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 70 – 80%. Đến năm 2030, tỷ lệ diện tích đất xây dựng đô thị chiếm 30% diện tích tự nhiên và nông thôn chiếm 70% diện tích tự nhiên. Khu vực đô thị trung tâm được phát triển mở rộng từ khu vực nội đô về phía Tây, Nam đến đường vành đai 4 và về phía Bắc với khu vực Mê Linh, Đông Anh; phía Đông đến khu vực Gia Lâm và Long Biên.

Triển khai thực hiện theo định hướng của quy hoạch này, diện mạo Thủ đô ngày càng sáng, xanh, khang trang, hiện đại; một số ví dụ như:

  •  Khu Công nghệ cao Hòa Lạc: “Giấc mơ” Silicon Valley của Việt Nam;
  •  Sơn Tây: Đô thị của ký ức, bảo tồn thành cổ, phát triển du lịch;
  •  Nhiều công viên mới được đưa vào khai thác, sử dụng, đáp ứng nhu cầu của người dân Thủ đô như: Hòa Bình – Quận Bắc Từ Liêm (năm 2010); Yên Sở – Quận Hoàng Mai (năm 2014); Cầu Giấy – Quận Cầu Giấy (năm 2014); Nhân Chính-Quận Thanh Xuân (năm 2018); Mai Dịch
  •  Quận Cầu Giấy, Nam Từ Liêm (năm 2019); Ngọc Thụy – Quận Long Biên (năm 2023); VinWonders Wave Park và VinWonders Water Park – Huyện Gia Lâm (năm 2023); Mễ Trì – Quận Nam Từ Liêm (năm 2024);…
  •  Những khu đô thị mới được hình thành như: Khu đô thị Nam Thăng Long – Ciputra (năm 2010); Vinhomes Riverside (năm 2011); Starlake Tây Hồ Tây (năm 2012); Royal City (năm 2013); Times City (năm 2015); Vinhomes Smart City (năm 2018);…
  • Những công trình mới như: Lotte Center, Keangnam, The Manor,… nhấn nhá thêm nét hiện đại vào bầu trời Hà Nội. Các KTS bàn luận về “skyline Hà Nội”: Nên giới hạn chiều cao, hay để đô thị tự do vươn cao?
  •  Nhiều cây cầu qua sông Hồng, sông Đuống, sông Đà được khánh thành đi vào hoạt động, góp phần kết nối thuận lợi giữa Hà Nội với các tỉnh lân cận và các địa phương trong TP như: Cầu Vĩnh Tuy – giai đoạn 1 (năm 2009); cầu Vĩnh Tuy – giai đoạn 2 (năm 2023); cầu Vĩnh Thịnh (năm 2014); cầu Đông Trù (năm 2014); cầu Nhật Tân (năm 2015),…
  •  Metro bắt đầu lộ hình trên mặt đất: Những đoàn tàu xanh lá của tuyến 2A (Cát Linh – Hà Đông) (năm 2021), tuyến 3.1 (Nhổn – Ga Hà Nội) đoạn trên cao (năm 2024), chạy qua phố phường, vừa lạ lẫm, vừa gợi mở tương lai giao thông công cộng.
  • Một số đường vành đai trên cao được xây dựng góp phần giảm ùn tắc giao thông, tăng cường kết nối giữa các khu vực, như: Vành đai 3 (năm 2012), Vành đai 2 (năm 2023),…

Bên cạnh kết quả cũng đã bộc lộ một số tồn tại như: Quản lý dân số, phát triển theo mô hình chùm đô thị, phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông còn chậm, chưa giải tỏa được áp lực về giao thông, cải tạo, tái thiết đô thị còn chưa huy động mạnh nguồn lực xã hội.

Hà Nội vươn mình cùng dân tộc Việt Nam (2025 – 2045)

Đứng trước những thay đổi nhanh chóng của thế giới và thời cơ của đất nước, ngày 05/5/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trên cơ sở những định hướng đó, Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức lập Nhiệm vụ Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 16/6/2023. Tiếp theo đó, đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 27/12/2024 – Với định hướng Hà Nội sẽ là thành phố “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”, một đô thị hiện đại, thông minh, xanh và có bản sắc, giữ vai trò trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, đồng thời là đầu tàu phát triển vùng Thủ đô và cả nước.

Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065

Dự báo dân số đến năm 2030 là 12,0 triệu người (trong đó thường trú khoảng 10,5 triệu người); tỷ lệ đô thị hóa đạt 65% – 70%. Đến năm 2045 là 14,6 triệu người (trong đó thường trú khoảng 13 triệu người); tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 75%. Đến năm 2045, tỷ lệ diện tích đất xây dựng đô thị chiếm gần 40% diện tích tự nhiên và nông thôn chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên.

Cấu trúc phát triển đô thị của Hà Nội là vùng đô thị, đa cực, đa trung tâm, với 05 vùng đô thị gồm:

  •  Vùng đô thị phía Nam sông Hồng: Gồm khu vực nội đô lịch sử; nội đô lịch sử mở rộng; khu vực mở rộng đô thị về phía Tây và Nam – Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Đông, Thanh Trì và một phần thuộc Thanh Oai, Thường Tín;
  •  Vùng đô thị phía Đông (Long Biên, Gia Lâm);
  •  Vùng đô thị phía Bắc (Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn – dự kiến hình thành TP phía Bắc);
  •  Vùng đô thị phía Tây (Sơn Tây, Ba Vì, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Chương Mỹ, TP phía Tây trong tương lai; nâng loại đô thị TP Sơn Tây).
  •  Vùng đô thị phía Nam (Thanh Oai, Mỹ Đức, Ứng Hòa, Thường Tín, Phú Xuyên, có tính đến nghiên cứu TP phía Nam trong tương lai).
    Hệ thống đô thị vệ tinh và sinh thái được phân cách bằng hành lang xanh, nêm xanh, liên kết bằng hệ thống giao thông vành đai, hướng tâm.

Về diện mạo đô thị, lấy sông Hồng là trục xanh, cảnh quan trọng tâm, phát triển hài hòa hai bên sông là các không gian văn hóa sáng tạo, là trục phát triển kinh tế – xã hội và là không gian điểm nhấn biểu tượng của Thủ đô Hà Nội; xây dựng hai mô hình TP trực thuộc Thủ đô (phía Bắc, phía Tây); xây dựng nông thôn hài hòa với đô thị…

Một trong những điểm nhấn quan trọng trong quy hoạch là phát triển theo mô hình đô thị đa cực, đa trung tâm, thay vì chỉ tập trung vào khu vực nội đô như trước. Hà Nội sẽ hình thành và phát triển hai mô hình TP trực thuộc Thủ đô (phía Bắc: Khu vực Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn; phía Tây: Khu vực Hòa Lạc, Xuân Mai), các đô thị như Sơn Tây, Phú Xuyên nhằm phân bổ lại dân cư, giảm áp lực hạ tầng và môi trường cho khu vực trung tâm. Mỗi đô thị được định hướng phát triển theo chức năng riêng, gắn liền với tiềm năng và thế mạnh của từng khu vực. Ngoài ra, sẽ định hướng phát triển đô thị theo mô hình TOD (Transit-Oriented Development – Phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng), là một xu thế hiện đại được nhiều quốc gia áp dụng nhằm xây dựng các đô thị bền vững, thân thiện với môi trường và nâng cao chất lượng sống cho người dân; việc triển khai TOD sẽ góp phần định hình lại cấu trúc đô thị, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội tại các khu vực ven đô, đồng thời giảm áp lực lên khu vực nội đô hiện hữu. Đây là định hướng chiến lược quan trọng nhằm xây dựng các thành phố thông minh, xanh và bền vững trong tương lai.

Bên cạnh đó, hạ tầng giao thông sẽ là trụ cột xuyên suốt trong quy hoạch. Hà Nội ưu tiên xây dựng các tuyến đường vành đai (đặc biệt là Vành đai 4 và Vành đai 5); các cầu qua sông Hồng (Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở,…); hệ thống các tuyến đường sắt đô thị; hình thành Cảng hàng không thứ hai-Vùng Thủ đô ở phía Nam Hà Nội, và mở rộng mạng lưới giao thông công cộng nhằm kết nối hiệu quả giữa các khu vực trong Thành phố và với các tỉnh lân cận. Giao thông xanh, hạn chế xe cá nhân và phát triển phương tiện không phát thải là những hướng đi quan trọng trong quá trình hiện đại hóa đô thị.

Bảo tồn không gian xanh, giá trị văn hóa – lịch sử cũng được đặt lên hàng đầu. TP sẽ đẩy mạnh quy hoạch các công viên, hồ nước, hành lang xanh ven sông Hồng và các khu bảo tồn di tích, phát huy bản sắc của các làng nghề truyền thống. Việc phát triển đô thị đi đôi với gìn giữ di sản và cảnh quan sẽ tạo nên một Hà Nội hài hòa giữa hiện đại và truyền thống.

Không thể thiếu trong quy hoạch là yếu tố chuyển đổi số và đô thị thông minh. Hà Nội hướng đến quản trị đô thị thông minh, số hóa dịch vụ công, ứng dụng công nghệ trong giám sát, điều hành hạ tầng và giao thông. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng sống cho người dân mà còn giúp quản lý hiệu quả tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Với tầm nhìn chiến lược và các định hướng rõ ràng, quy hoạch Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 không chỉ là một bản vẽ phát triển đô thị, mà còn là nền tảng để xây dựng một Thủ đô hội nhập, phát triển toàn diện và trường tồn cùng thời gian.

Kết luận

Từ năm 1975 đến năm 2025, quá trình quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng, phản ánh sự thay đổi mạnh mẽ về tầm nhìn chiến lược, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội cũng như xu thế đô thị hóa hiện đại. Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Hà Nội bắt đầu bước vào thời kỳ xây dựng lại sau chiến tranh, với các kế hoạch quy hoạch tập trung chủ yếu vào việc khôi phục hạ tầng, cải thiện điều kiện sống và mở rộng không gian đô thị. Tuy nhiên, do nguồn lực hạn chế và điều kiện lịch sử, các quy hoạch giai đoạn này còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh chóng của đô thị.

Bước sang thời kỳ đổi mới từ năm 1986, Hà Nội chú trọng quy hoạch tổng thể, từng bước mở rộng địa giới hành chính, đặc biệt là sự kiện mở rộng địa giới Hà Nội vào năm 2008. Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011 đã đánh dấu một bước ngoặt về định hướng phát triển không gian, hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo mô hình đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2024 đã kế thừa cơ bản những định hướng phát triển trước đây, có bổ sung một số định hướng mới, phù hợp với xu thế thế giới, nhằm đưa Hà Nội từng bước trở thành đô thị hiện đại, có bản sắc văn hóa, gắn với các yếu tố phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đến năm 2025, quá trình quy hoạch Thủ đô Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu rất nổi bật, song cũng còn không ít thách thức, như tình trạng quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông và thiếu không gian công cộng, ô nhiễm môi trường không khí,… Do đó, trong thời gian tới cần phải tiếp tục nỗ lực triển khai thực hiện bằng nhiều giải pháp đột phá, gắn với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội mà Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 ngày 28/6/2024 đã thông qua, tạo điều kiện để Hà Nội tăng tốc phát triển, và ngày càng sáng, xanh, sạch, đẹp hơn nữa.

Chặng đường 50 năm quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội từ năm 1975 đến năm 2025 là hành trình không ngừng đổi mới, thích ứng và vươn lên. Trên nền tảng lịch sử ngàn năm văn hiến, Hà Nội ngày nay đang tiến bước mạnh mẽ, hội nhập quốc tế – Hướng tới một đô thị Thông minh, Xanh, Bền vững và Đáng sống – Không chỉ cho thế hệ hôm nay, mà còn cho mai sau.

TS.KTS Nguyễn Văn Hải1
ThS.KTS Lưu Quang Huy2
1. Chủ tịch Hội KTS Hà Nội
2. Viện trưởng Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05-2025)


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến 2020 (1998) – Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội;
2. Quy hoạch chung Xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 – Tầm nhìn đến năm 2050 (2011) – Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội;
3. Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045 – Tầm nhìn đến năm 2065 (2024) – Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội.